(tiếp theo)
III. Triết lý của Tân
hình thức Việt
III. 1. Tóm tắt
Triết lý Thơ
Tân hình thức Việt tỏ ra rất… hình thức. Thoạt nhìn hơi cồng kềnh, khá rắc rối;
nhưng nếu nắm được cột kèo, đầu mối thì chẳng qua là một cách làm thơ dẫn cảm xúc theo tư duy.
Năm nội dung thi pháp Tân hình thức Việt: 1- Đặc trưng thể
loại: Không vần, nhịp điệu khác hoàn toàn thơ bình thường; 2- Hai kỹ thuật tiên
quyết: vắt dòng, tức xuống dòng theo
số chữ (nói chung 5 đến 8 chữ), và lặp
lại; 3- Tứ thơ theo một “chuyện” nào đó, tức có tính truyện; 4- Ngôn ngữ:
đời thường, thông tục; không biện pháp tu từ; 5- Chất liệu: cuộc sống thường
nhật.
Có nghĩa là, loại thơ Không Vần Việt này đã tiếp nhận đủ 4
yếu tố (từ 2 đến 5 trong danh sách trên) của thơ Không Vần Anh ngữ để làm nên
một thể riêng biệt trong thi ca Việt. (Khế
Iêm, Chú thích 23).
Bài Vệt mực và tờ giấy của Nguyễn Tất Độ
có thể coi là tương đối đại diện cho phong trào về phương pháp thể hiện và thế
hệ sáng tác. (Xem Phụ lục 1-).
Hạn chế về
thi pháp Tân hình thức cũng rất rõ: tuy nương vào hình thức vuông vức của thơ
niêm luật, Thơ Tân hình thức Việt phá khuôn phép cực đoan và diễn giải nghiêm
chỉnh của các thể tài thơ truyền thống, thơ tự do bằng các thủ pháp cực đoan và
diễn giải đơn điệu của mình, với ý đồ “chấm dứt và thanh lọc ngôn ngữ và phong
cách thơ tự do và vần điệu”.
Bàn về 5 nội dung trên đã có trong nhiều tiểu luận, thảo luận
trước đây, và hẳn sẽ có nhiều hơn ở các tham luận trong Hội thảo. Khi làm tuyển
tập Thơ kể, thư cho tôi và chắc cũng
vậy với các tác giả khác, vị chủ biên viết gọn, “cần các bài thơ có ý tưởng đặc sắc, ngôn ngữ bình dị và nhịp điệu
hay”. Nghe qua thấy cũng như 3 tiêu chí thông thường cho nhiều loại thơ, nhưng
cùng một “lò” ai cũng hiểu 3 cái ấy sẽ phải biến hóa ra sao trong Tân hình thức.
III.2. Nhận định chung
Nền tảng lý thuyết và nhận thức
thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật mới này trong thơ tiếng Việt đã được Khế Iêm
chủ ý và kiên tâm gầy dựng trong khoảng 15 năm qua với các công trình tiêu biểu
mà hầu hết có nêu tại đây, trong đó quy tụ vào tập sách Vũ điệu không vần - Tứ khúc và những tiểu luận khác. (Xem thêm Văn
Giá[i] và
Phụ lục 7-).
Hy vọng Hội thảo sẽ là dịp thẩm
định chất lượng học thuật và tính khả thi của chúng. Thật ra, ý nghĩa và khả
năng của các lý thuyết định hướng không hề giống nhau trong khoa học tự nhiên
và khoa học nhân văn; ở đây lại là lý thuyết thơ, và cũng không là lý thuyết
nghiên cứu thơ mà là lý thuyết sáng tác thơ! Dù có màu xám nào đó trong luận
thuyết của Khế Iêm, Nguyễn Đăng Thường, Phan Tấn Hải… thì vẻ xanh tươi của
phong trào thơ kéo dài hơn một thập niên với hàng trăm tác giả Việt trên hầu
khắp thế giới đã nói lên tất cả. Với tôi, vào sân chơi khá trễ song nhận được
nhiều chỉ dẫn bổ ích từ hệ thống quan điểm Tân hình thức. Riêng về mục đích và
tương lai của Tân hình thức Việt, tôi lại không thấy như Khế Iêm và một số tác
giả khác. (Xem tiếp dưới đây)
Kế thừa thủ pháp văn học của tiếng Anh từ
chủ nghĩa Tân hình thức Mỹ[ii],
thể Thơ Tân hình thức Việt có cơ sở lý thuyết và lý luận – cùng các phản biện –
vừa đủ khoa học, tiên tiến và thực dụng. Chưa một dòng thơ Việt nào trước đây
được may mắn như thế! Thông thường, trong văn học thế giới và Việt Nam, nếu như
các cải tổ đều có thể quy về 3 hướng: lựa chọn đề tài thức thời (nhân thế, thời
cuộc), chuyển đổi tư duy nghệ thuật (quan niệm mới về hiện thực) và sáng tạo kỹ
thuật viết mới lạ (thể loại, hình thức, phong cách lấn át nội dung), thì Tân
hình thức Việt đã đồng loạt tiến hành cả ba chứ không chỉ quanh quẩn thủ pháp
“đếm chữ ngắt dòng” nặng về hình thức như nhiều người nhầm tưởng.
Về quan điểm
thẩm mỹ: từ sau Thơ Mới đây như một cuộc “tiểu cách mạng” khi phá vỡ tư duy thơ
để tạo ra thể thơ mới chưa từng có, góp phần đưa thơ Việt trong tiếng
nói thời hậu hiện đại đến với các nền thơ toàn cầu.
Nó khước từ kiểu cảm xúc lộ liễu Đông phương (trữ tình luận – nói nôm là lấy
nước mắt) mà theo lối mô phỏng Tây phương (tri thức luận - lấy cái đầu bảo trái
tim).
Về loại hình, Thơ Tân hình thức Việt đong đưa giữa hình thức của
thể thơ truyền thống Việt và hình thái nghệ thuật của thể thơ tự do Việt[iii]. Trở về thơ truyền thống, cách viết
Tân hình thức cũng dùng vài luật lệ bắt buộc,
nhưng là để dẫn dắt cảm xúc theo tư duy chứ không duy trì cảm xúc nguyên chất.
Các tiêu chuẩn kinh điển như nhịp điệu, niêm, luật bằng trắc, hiệp vận, âm
luật, vần, khổ thơ… đều trọn gói trong 2 kỹ thuật vắt dòng và lặp lại. Về phương
thức diễn ngôn, Thơ Tân hình thức không tả
như thơ trung đại, cũng không gợi
như Thơ Mới và thơ hiện đại. Nó kể,
như một kiểu văn bản thời hậu hiện đại[iv].
Không giống Thơ Mới và thơ hiện đại, cái tôi tác giả lúc này muốn đứng xa cái tôi
đối tượng để như một “người máy” bị dẫn bởi lý trí chứ không bằng trực giác. Quyết
định trong một hình thái thi ca là tính nhạc: quả là Thơ Tân hình thức Việt có
giai điệu lập dị. So với các thơ không-Tân-hình-thức giai điệu này không trầm
bổng lục bát, không siêu thoát Đường luật, không khúc mắc siêu thực... Nó đơn
điệu, nếu nghe bằng cái tai cũ. (Xem tiếp mục V.2.)
Về cảm hứng chủ đạo, có thể xem Tân hình thức là một trong các cách kéo dài sang thơ của khuynh hướng văn
học dòng ý thức khởi từ đầu thế kỷ 20 với đỉnh cao là phong trào Tiểu thuyết
mới hồi giữa thế kỷ 20. Thủ pháp dòng ý thức tỏ ra hữu hiệu khi Tân
hình thức muốn diễn đạt ý tưởng, cảm
xúc theo những liên tưởng bất ngờ, liên tiếp, đôi khi bất thường, kỳ quặc. Nhà thơ
Tân hình thức muốn độc thoại vô hồi hơn là đối thoại rành mạch. Kết quả
của cảm hứng dẫn tới hành vi kỹ thuật là sự biến dạng của câu thơ - thành
phần tạo nên tác phẩm. (Tiếp mục V.1.)
Về đề tài, “đời sống bình
thường tự nhiên, thoải mái, thể hiện mong ước của con người mang tính nhân bản,
niềm vui và hạnh phúc trong tinh thần cảm thông bình đẳng” của Tân
hình thức rất dễ bị coi là ‘tân nội dung’ khi chỉ là những thứ lặt vặt, tầm
thường (…) dễ dãi nhàm chán” (Phụ lục 9-;
Mã
Giang Lân). Quả vậy, nếu như không đưa tài thơ vào Thơ Tân hình
thức! Thì cũng tựa như thế cho thơ Haiku cổ điển, với nội dung thuần thiên
nhiên, không dùng cảm xúc, chỉ chép lại các thoáng nghĩ về sự việc vu vơ vụt
hiện. Và cho rất nhiều loại thơ khác chuyên về một thể tài. Với tác giả riêng
lẻ cũng vậy: đã có tài thơ thì văn học và văn hoá đại chúng Mỹ vẫn có một đại
diện Charles Bukowski, ở loại thơ “chỉ là những thứ lặt vặt, tầm thường” được mệnh
danh chủ nghĩa Hiện thực dơ bẩn (Dirty Realism); đã có tài thơ thì chỉ với một
đề tài Hồ Chí Minh cao cả, thi ca cách mạng Việt Nam hiện đại vẫn có một phong
cách nghị luận Hải Như. Cần thiết nêu lại luận cứ kinh điển: Một nghệ thuật đạt
tới chỗ chỉ ra được trạng thái thế sự, tức là đã đạt tới trạng thái sử thi. Do
vậy, có thể nó mang tính sử thi dù chỉ miêu tả sinh hoạt thông thường, không
nhất thiết bao giờ cũng phải trực diện các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu.
(G. W. F. Hegel; dẫn theo Lại Nguyên Ân[v])
Trong các trao đổi (Phụ lục 9-) với Mai Văn Phấn cùng các
bạn thơ đều không/ chưa là tác giả có thể thơ này, chúng tôi cho rằng Thơ Tân
hình thức Việt nhờ tính truyện đã tạo được những thời khắc vụt hiện, mơ hồ
trong cảm xúc. Một xung động mới của riêng mình sẽ đạt được, nếu khéo kết hợp
tính bí ẩn Đông phương với tính thực tiễn Tây phương. Cái bất ngờ của loại thơ
kể gần giống trong truyện cực ngắn, nhưng không chỉ bằng điều bất thường, phi
lý hay hư ảo. Mà là nhờ kỹ thuật lặp lại, cái vô lường được lớn dần và vụt
hiện. Còn kỹ thuật vắt dòng thì đưa đẩy cái mơ hồ. Hai mâu thuẫn ấy góp phần
tạo ra sự khó chịu của Tân hình thức ở những độc giả không chịu nó. Nhưng ai đã
ưng, sẽ có lúc thấy nó “ngâm nga như khúc du mục, dân ca của các tay thảo khấu,
hảo hán trên sông dưới núi Lương Sơn Bạc”. Thú vị ở chỗ cảm tưởng đó từ một bạn
đọc trùng với lý luận của Đặng Tiến khi xếp “thơ Tân hình thức là một loại ca
dao tân thời”. Trong thơ nói chung người ta tránh nhắc lại ý, coi đó như hồn
vía ở một bài thơ, góp phần làm nên tứ. Thiêng lắm! Mà nếu phải lặp lại, tức có
chủ ý nào đó. Ngược lại, Tân hình thức dùng sự lặp đi lặp lại, trước hết, như
sự tồn tại của hình thức. Bí quyết lặp lại không thể giống nhau ở các tác giả
và ở một tác giả cũng không giống nhau với mỗi bài. Đã và sẽ có nhiều người bảo
vệ và phản bác kỹ thuật này; riêng tôi thấy nên nói như sau về một tiêu chuẩn
của Tân hình thức: “Lặp lại với sự khác biệt”[vi].
Tom Riordan, thi sĩ kiêm biên tập
viên trang mạng poetrycircle.com, một địa chỉ đáng kể trong sinh hoạt thơ Mỹ,
đã nói về các sáng tác trong tập Thơ kể
- Poetry Narrates:
“Thơ tiếng Anh thường vượt quá chủ đề để theo đuổi ý
nghĩa; thơ tiếng Việt vươn một ngón tay ra và kể là may mắn nếu có thể chạm tới
một góc cạnh của đối tượng, một cách chân thật. Trong ý nghĩa như vậy, truyền
thống Việt chiếm lĩnh một không gian mà truyền thống Anh chưa vươn tới. Chúng
ta coi sự hội nhập như một lý tưởng, và viết một cách ưu phiền và bực tức về sự
tha hóa. Thơ Việt đánh liều với sự tha hóa, làm hòa với nó và khéo léo sàng lọc
nó để có được những đồ quý giá.” (Phụ
lục 8-).
Các dịch giả Tunisia và P.K.T. cho rằng qua
so sánh trên tác giả Việt có thể “rút tỉa kinh nghiệm về phương pháp thuật kể,
bớt trừu tượng và gần với hiện thực hơn, như quan điểm của Thơ Tân hình thức
Việt.”
Theo hướng tiếp nhận khác, nhà
nghiên cứu văn học Nguyễn Thái Hòa có ý kiến trung dung mà đúng thực trạng về Chùm thơ Tân hình
thức trên báo Nghệ Thuật Mới:
“Có cái mới mà không chỉ là hình thức mới. (…) cả 8
người nhất loạt phá tung ngữ pháp tiếng Việt. Nói đúng hơn, khuôn khổ dòng thơ
không tương đồng với mệnh đề ngữ pháp (…), phá vỡ luôn cả tiết tấu và nhịp điệu
từ một câu văn nghiêm chỉnh, ý rất thẳng và mạch rất lộ để tạo ra thứ tiết tấu
mới, rất mới. (…) Việc xáo trộn các thành phần cú pháp (phép đảo ngữ), việc
ngắt dòng phi ngữ pháp (agrammatical) thiết tưởng không có gì mới, việc ‘đội mũ
đỏ cho câu thơ’ (V. Hugo), nhiều lắm cũng chỉ ở giới hạn ở những biện pháp tu
từ hạn hữu. Nhưng với các nhà thơ chủ trương Tân hình thức này thì thực sự là
‘băm vằm’ một câu văn xuôi chuẩn mực. Bất chấp những cụm từ quen thuộc, những
từ láy, từ ghép thông thường. (…) Cả 8 bài thơ đều hướng vào trạng huống tâm lý
không bình thường xuất hiện mỗi ngày (…) và họ đã thành thực phơi bày những cảm
giác như có như không của một thế giới sâu kín. Dường như họ đi tìm cõi vô thức
ở chính lòng mình để phát hiện mình và gợi ý cho người đọc tự phát hiện. (…)
Theo ý riêng của tôi, chỉ có bài Con mèo
đen của Khế Iêm là có thể làm được điều đó. Và như vậy, Tân hình thức lại
phải có nội dung, nếu không thì chỉ là cái hộp ru-bic vuông chằn chặn không tìm
ra khóa mở; hoặc ngược lại nó tung ra để thấy là…. không có gì phải mở.” (Phụ lục 8-).
Frederick Feirstein - một trong các
tác giả “quan trọng nhất và độc sáng nhất” của Tân hình thức Mỹ - có nhận xét
đáng giá về điều đáng giá nhất trong Tân hình thức Việt: “Việc sử dụng kỹ thuật
vắt dòng cũng cho phép Khế Iêm viết nên những bài thơ tự sự ngắn vốn phụ thuộc
vào tính liên tục của tư duy và cảm nghĩ. Dòng chảy này được tuôn trào dễ dàng
hơn nhờ cách diễn đạt thẳng thắn của ông, là cách diễn đạt mà Trường phái Tân
hình thức Mỹ coi là yếu tố quan trọng.”[vii]
Năm 2007 trang mạng
thotanhinhthuc.org tổ chức 2 giải thưởng Thơ Tân hình thức Việt như là giải thi
ca đầu tiên cho người Việt toàn cầu. Nguyễn Tất Độ
(sinh năm 1983, sống tại Việt Nam )
là tác giả trúng giải lần thứ nhất với 12 tác phẩm. Giải lần hai với Biển Bắc (1977, Hà Lan)
là nhà thơ được vinh danh. Tiêu chuẩn của 2 cuộc thi là sáng tác “phải có nghệ
thuật (kết hợp các yếu tố thơ) và tạo được cảm xúc nơi người đọc”, tức là đạt
được “chất thơ, nội dung và nhịp điệu riêng của Thơ Tân hình thức.”
Mời xem trích lược kết luận của Ban tuyển chọn[viii]
về 2 nhà thơ đại diện đó (các chỗ nhấn mạnh của chúng tôi).
Về cảm xúc thơ, qua hai bài Một ngàn lời nói dối và Cà phê
sáng: “(…) cái cảm xúc tức
thì mà hai bài thơ đã gây ra (…) là yếu tố quyết định gần như một nửa để
mình thích một bài thơ hay không. Nguyễn Tất Độ đã bộc bạch ‘Thơ là phương tiện
để giải bày bức xúc’ thì với hai bài thơ đã khiến cho người đọc cảm nhận được
những điều mà một lớp trẻ đang nhìn thấy nỗi bất lực trong bứt phá đổi mới
không khí họ đang hít thở. Những câu lập
đi lập lại trong cả hai bài tạo nên một âm thanh ray rứt và đầy tính kêu gọi
khiến người đọc phải tự hỏi chúng ta sẽ làm gì.’ (Nguyễn Thị Khánh Minh)
Về tâm linh: “Trong 12 bài thơ mỗi bài đều có một góc cạnh triết lý về cuộc đời rất hay,
còn về hình thức để tác tạo một bài thơ
Tân hình thức thì chưa đạt được mức độ đỉnh cao. (…) bài Tôi đã làm như thế xem như vừa ý
nhất (…) nói lên được ba góc cạnh của đời sống: Thân phận con người, hiện hữu
của dòng đời và sự tĩnh mặc trong nội tâm. (…) Bài thơ chấm dứt bằng Thiền để
tĩnh mặc.” (Linh Vũ)
Về ngôn ngữ thơ: “(…) bài thơ Những tòa nhà gần với ngôn ngữ Thơ
Tân hình thức hơn cả, còn các bài khác
vẫn còn là ngôn ngữ trừu tượng (có thể là cả nội dung nữa) của thơ tự do”. (Trầm
Phục Khắc)
“Nguyễn Tất Độ và những nhà thơ thuộc thế hệ anh mới chính là những người khởi đầu
khai phá Thơ Tân hình thức vì họ đang có rất nhiều thời gian trước mặt.”
(Khế Iêm)
Thơ Biển Bắc đoạt giải vì có “ngôn ngữ đúng
thực là ngôn ngữ đời thường. Phong cách
và ý tưởng diễn đạt liên tục, khác với tính đứt đoạn của thơ vần điệu và tự do.”
Toàn diện, mạn phép dùng chữ và
lối bình của Viên Mai: Cho tới nay Tân hình thức Việt đã qua giai đoạn tiêm xảo để tới mức tân kỳ, chưa bình đạm vì
còn khô khan, đang tung hoành mà chớ coi thường tạp loạn; Tiên sinh cũng từng dặn “mấy
cái đó hình như giống nhau mà kỳ thực khác nhau, sai một ly đi một dặm.”[ix]
[i] Văn Giá, Về
một nỗ lực làm mới thơ Việt, Tạp chí Sông Hương số 280 tháng 6/2012, và
tapchisonghuong.com.vn 29/6/2012.
[ii] Xem thêm:
a. Ghi nhận về trào lưu Tân hình thức Mỹ của Chương trình Thông tin Quốc
tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tháng 11/1998: Trong chương Thi ca phản truyền thống Hoa Kỳ từ 1945 của một chuyên luận có thẩm quyền, hàn lâm và phổ cập, mang tên Phác
thảo văn học Mỹ, sau các phần Trào lưu truyền thống, Những nhà thơ đặc
dị (những tác giả phát triển các phong cách độc đáo, sử dụng truyền thống nhưng
mở rộng vào những địa hạt mới với phong vị hiện đại), Thơ ca thể nghiệm (trường
phái Back Mountain, trường phái San Francisco, Các nhà thơ “Beat”, trường phái
New York, Chủ nghĩa siêu thực và Chủ nghĩa hiện sinh) và những dòng thơ nữ
quyền và đa chủng tộc, là phần Những
hướng đi tới với ba nhánh: Những nhà thơ ngôn ngữ (theo tâm thức hậu hiện
đại), Thơ ca công diễn (thơ trình diễn, thơ âm thanh, thơ giàu hình ảnh) và Chủ
nghĩa Tân hình thức. Dưới đây là đoạn nói về Tân hình thức và cũng là kết thúc
cho cả chương.
“Ở đầu kia của quang phổ mang tính chất lý thuyết là những nhà thơ tự
phong là Tân hình thức chủ nghĩa, những người chủ trương quay trở về hình thức, vần và vận luật.
Tất cả mọi nhóm đều phản ứng lại cùng
một vấn đề - một sự bằng lòng có tính
trung dung với hiện trạng một giọng điệu cẩn thận và quá trau chuốt, thường
là sản phẩm của những cuộc hội thảo thơ, và sự nhấn mạnh thái quá đến thi ca bộc lộ cá tính như là một cách chống lại
động thái xã hội. Trường phái hình thức gắn liền với (…) Dana Gioia (…)
Philip Dacey và David Jauss, các nhà thơ và các chủ biên của cuốn Strong Measures: Contemporary American Poetry in Traditional Forms (Phân loại chuẩn mực: Những hình thức
truyền thống trong thơ ca hiện đại Mỹ - 1986); Brad Leithauser; và Gjertrud
Schnackenburg. Cuốn The Direction of
Poetry: Rhymed and Metered Verse Written in English Since 1977 (Hướng đi của thi ca: thơ cách luật
trong tiếng Anh từ năm 1977) của Robert Richman (…). Mặc dầu các nhà thơ này
được xem là quay về với những đề tài thế
kỷ 19, họ thường sử dụng những quan
niệm và hình tượng đương đại, cùng với ngôn ngữ giàu nhạc tính và những hình
thức truyền thống, khép kín.” (VanSpanckeren,
Kathryn; Trang mạng Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội,
vietnamese.vietnam.usembassy.gov 24/4/2013, lược trích bản tiếng Việt).
b. Nói chung có thể coi các phong trào Tân hình thức mang nền tảng từ chủ
nghĩa Hình thức Nga, nếu quan niệm: “Trường phái cách tân nhất thế kỷ XX:
Đó là lời nhận xét của nhà phê bình văn học Pháp Jean-Yves Tadié về chủ nghĩa
Hình thức Nga. Trong thế kỷ XX, lý thuyết văn học phát triển phong phú nhưng
không có trường phái nào ghi dấu ấn sâu đậm bởi tính cách tân như chủ nghĩa
Hình thức Nga (…) thành lập năm 1915 với thành viên nổi bật là Roman Jakobson
(…), hình thức không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích. Chính hình thức
(form) sẽ tổ chức các chất liệu (material) từ đời sống và ngôn từ hỗn độn trở
thành nội dung (inhalt). Khi nội dung đã được hình thức hóa tức đã mang tính
nghệ thuật sẽ tạo ra một văn phẩm nghệ thuật. Mối tương quan chặt chẽ giữa nội
dung và hình thức được nhà triết học Đức G. W. F. Hegel khái quát qua câu nói
nổi tiếng: “Nội dung chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của hình thức vào nội
dung, và hình thức chẳng là gì cả ngoài sự hoán chuyển của nội dung vào hình
thức”. (Trần Hoàng Hoàng, vannghequandoi.com.vn 27/7/2012).
[iii] Ba điểm abc của thể thơ tự do Việt liên hệ xa gần đến
thể Thơ Tân hình thức Việt: a. Có yếu
tố nước ngoài cụ thể. (Theo nhiều ý kiến, thơ tự do Việt khởi đầu qua bài
thơ dịch của Nguyễn Văn Vĩnh in năm 1928 từ chuyện ngụ ngôn “Con ve và con
kiến” bằng tiếng Pháp của Jean de La Fontaine. Trước đó, dịch giả cũng đã có
một bản
dịch khác bằng thể lục bát in năm 1907. Bốn câu đầu của hai văn bản đó là: “Ve
sầu kêu ve ve/ Suốt mùa hè/ Đến kỳ gió bấc thổi/ Nguồn cơn thật bối rối”; và:
“Trên cây có một con Ve/ Hát hết mùa hè mùa lạnh kiết so”- Wikipedia mục
Thơ và Thơ
Việt Nam; Xem thêm: Đặng Tiến, Bđd. b.
Thơ tự do Việt có vần hoặc không vần; c.
Chữ “tự do” được hiểu theo nhiều nghĩa (hình thức niêm luật, hình tượng, nội
dung tình cảm), khéo dùng ba thứ tự do đó sẽ có nhạc tính tự do.
[iv] Phác họa ngắn gọn về diễn ngôn và mục đích trong thơ
Việt: Thơ trung đại tả, kể để thuyết, giải; Thơ Mới tả, gợi
để cảm; Thơ cách mạng và chiến tranh tả, kể, gợi để thuyết, cảm, giảng; Thơ hiện đại gợi, diễn để giải; Thơ
hậu hiện đại kể, bày để diễn, tỏ; Thơ Tân hình thức kể để cảm, thấy. Trong tất cả, cái ít-thơ
nhất là giảng.
[v] Lại Nguyên Ân, Thử
nghĩ về chất văn xuôi, Tạp chí Sông Hương số 8 tháng 8/1984, và Tạp chí
Văn Học Việt vanhocviet.org số 7 ngày 5/9/2013.
[vi] Chữ của nhà văn Nhật Kenzaburo Oe khi ông nói về kinh
nghiệm cá nhân để sửa chữa bản thảo tiểu thuyết. (Viết
như là cách để hủy giọng của mình, Hải Ngọc dịch từ tiếng Anh,
vietvan.vn 11/9/2013).
[vii] Feirstein, Frederick; Giới
thiệu tuyển tập thơ Khế Iêm, Phạm Kiều Tùng dịch; Other poetry – Thơ khác, Nxb Tan hinh thuc 2009, tr. 16-24;
[viii] Nhận
định của Ban tuyển chọn giải Thơ Tân hình thức về thơ Nguyễn Tất Độ;
thotanhinhthuc.org 2007; Hai bài thơ được bình cũng có trong địa chỉ này; và Nhà
thơ Biển Bắc nhận giải Thơ Tân hình thức 2007, caidinh.com 2/6/2007.
[ix] Viên Mai, Tùy Viên thi thoại, Nguyễn Đức Vân tuyển dịch; nguyentrongtao.info
2/10/2013.
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét