Nguyễn Nguyên Bảy và Nhật Tuấn
Tin dẫn: Làm sao biết Lý Phương
Liên kết moden văn chương Nhật Tuấn cỡ nào, mà cứ nhất định bắt tôi ký hợp đồng
viết một bài Chém Gió Văn Chương Nhật Tuấn. Hợp đồng ký xong, tôi điện thoại
cho Tuấn xin phép được lên Miền Hoang Dã của bạn để lấy tư liệu viết bài. Bạn
đáp: Mời lên ngay, lên ngay, tư liệu tao đầy một bụng, lên nhanh kẻo
tao cho cá trê ăn hết bi giờ../ Trời ơi là đất, thế là đi, Bình Dương, đâu
như Tân Uyên, cửa Chiến Khu D, Miền Hoang Dã, Một Nhà văn, một..đợi chờ bầu
bạn../ Thế là / Gọi Tô Hoàng/ Hai vợ chồng cùng Ok/ Xem ra họ còn yêu mến Nhật
Tuấn hơn cả vợ chồng mình/ Chữ mình là nói với Lý, người tắp lự tổ chức chuyến
đi../ Gọi là tổ chức cho oai phong kèn trống/ Gọi Vinasun, Taxi 7 chỗ, 4 người
thong thong, vừa đi vừa hỏi đường qua điện thoại..và đến/ Và ôm nhau/ Và vào
bếp/ Và chém gió/ Và nhậu..miền hoang dã..vịt nướng chao, gỏi xu hào, chân giò
hấp chấm mắm tép/ chém gió gan trời/ mỡ chúa...Vậy thôi../ Bài Chém Gió sẽ
viết../
Theo một số nhà lý luận phê bình văn học bậc mét, thì đây chỉ
là cuốn truyện dài, không phải tiểu thuyết. Để tránh những thanh cãi không đáng
có ngay từ dòng mở đầu bài viết, tôi đã xin phép Nhà văn Nhật Tuấn, gọi tác
phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của anh là cuốn Văn Dài, 268
trang kể là dài, một cuốn văn dài đáng đọc, đáng tôn vinh, với riêng tôi, đây
là cuốn văn dài hay nhất, chuông khánh nhất, thức tỉnh nhất của Văn Đàn Việt
Nam kể từ khi tôi biết đọc sách đến nay.
Cái hay khởi ngay từ tựa đề sách, tựa đề
lại chính là thông điệp sách, chính là thông điệp tác giả gửi đến người đọc.
Một thông điệp đay đi đay lại, tàng ẩn hư thực nghĩa, đọc một lần nhớ lâu, nghĩ
mãi, nhớ nghĩ cho đến vỡ nghĩa đa chiều, rồi thấm mà nhận thức, mà ngộ ra thông
điệp. Thực đúng lý của câu chuyện, tựa đề phải là : Đi Về Nơi Thiên Đường. Nhà
văn Nhật Tuấn cao tay, đã không lộ mình và lộ văn như một số nhà văn viết và in
sách thể tài này trước anh, như Xuân Vũ với Thiên Đường Treo hoặc
Dương Thu Hương với Thiên Đường Mù. Anh gọi tên cuốn sách của
mình là Đi Về Nơi Hoang Dã.
Nơi Hoang Dã theo cách gọi của Nhật Tuấn lại chính là
Nơi Thiên Đường, trong sách là đỉnh Hua Ca. Hành trình lên đỉnh Hua Ca (thiên
đường) là hành trình gồm ba khúc thức (tỉnh thức), nói cách khác 268 trang sách
miêu tả truyện này truyện khác đọc vắn, đọc nhanh,cốt truyện cũng chỉ là ba
khúc thức,dẫn lại dưới đây:
Khúc 1, kỳ vọng thiên đường:
“Phà ơi – nàng kêu
lên – anh lên đỉnh núi Hua Ca. Cao lắm, sát tầng mây kia đấy. Hua Ca có nghĩa
là “đầu quạ”, nghe nói ở cái mỏ của nó phun ra một dòng nước, nếu hai người
cùng uống nước đó trong một cái chén thì không bao giờ quên được nhau . . . “
"Thật không?
Em nói thật không?
" Thật chứ,
ông nội em kể lại cho bố, bố kể lại cho em. Nhưng phải thực bụng với nhau mới
uống được, người nào không thực bụng uống vào chết ngay."
Tôi nói với nàng nếu vậy nhất quyết tôi sẽ tìm bằng được lên đỉnh Hua Ca lấy một chai nước về tặng nàng để mai kia uống chung với ai đó." (Sách đã dẫn 227)
Tôi nói với nàng nếu vậy nhất quyết tôi sẽ tìm bằng được lên đỉnh Hua Ca lấy một chai nước về tặng nàng để mai kia uống chung với ai đó." (Sách đã dẫn 227)
Khúc 2, thất vọng
thiên đường:
“ Tôi ngơ ngác nhìn quanh, nửa tin nửa ngờ,
không lẽ tôi đã đi một vòng ngay trên đầu con quạ đấy ư? Vậy còn cái mỏ của nó
phun ra đòng nước thần đâu? Chẳng lẽ cái vùng đất huyền diệu nàng Sao kể cho
tôi nghe lại tầm thường toàn sương mù gai góc và đầy những vũng nước vàng ố và
bẩn thỉu thế kia ư? Không thể như thế được, cái đỉnh Hua ca thần thánh ấy chắc
không phải nơi tôi đang đứng đây, nó phải ở đâu đó cao tít từng mây kia chứ.
Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng con quạ. Tôi
không thể bắt chước thằng học giả, không thả mang thứ nước vàng đục kia và gọi
nó là nước thần về cho nàng Sao. Tôi bước nhanh ra khỏi vũng lầy đầy những bọ
gậy và lá mục…”
Khúc 3: hy vọng thiên đường
“Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua ca, chúng
tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước.Không ai hé răng một
lời. Tất cả đều ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi
nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế.
Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ
có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu
Nhau…”
Cốt truyện chỉ là vậy, thông điệp chỉ là vậy, chưa đầy một trang sách trong số
268 trang. Sự tuyệt vời của thông điệp ở chỗ, đã đến được thiên đường, nhưng
ngộ ra không phải là thiên đường , mà chỉ là nơi hoang dã, tức là thiên đường
chỉ là huyền thoại, là không có thực, mà nếu có thì cũng đã đi lạc hướng thiên
đường, phải đi lại từ đầu, lỗi không phải bởi người đi, mà lỗi của hệ thống
định hướng. “Thôi nhé, vĩnh biệt chuyện đi tìm nước thần thoát ra từ miệng
con quạ”,“ sáng mai sẽ xuống núi”, đó là một khảng định, một sửa chữa, một
đoạn tuyệt cái sai, cái lỗi, không còn con đường nào khác, giải pháp nào khác.
Và “ Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền
thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”
Nơi con ngưởi thực bụng yêu nhau, nơi ấy
chính là thiên đường. Đó không phải là câu văn vẻ, mà là một định nghĩa nhân
văn đẹp đẽ nhất của thiên đường. Văn dài Đi
Về Nơi Hoang Dã không có
cốt truyện, không có nhân vật, không có tình yêu nảy lửa, sét đánh, tay ba, tay
tư tranh dành chụp giựt..nói tóm, là không có những cái/ thứ mà các tiểu thuyết
xưa nay dụng biến. Nhật Tuấn đã viết một thứ văn dài hay tiểu thuyết kiểu Nhật
Tuấn, mới, lạ, không giống ai và quan trọng là đã thành công. Có thể gọi đó là
tiểu thuyết luận giảng hay tiểu thuyết dịch lý. Tôi nghiêng về ý sau: Tiểu
thuyết dịch lý. Dịch lý ngay từ thông điệp đến bố cục, đến nhân vật đến văn
phong. Nói vậy không cố ý định văn pháp Nhật Tuấn, càng không ẩn ý thăng hoa
Nhật Tuấn như một kỳ tài, mà là nói đúng theo cảm nhận thu hoạch của
người đọc. Trường hợp ngay cả Nhật Tuấn cũng bất ngờ vì nhận định này, thì Tuấn
ơi, hãy chắp tay cảm ơn Trời, đã ban cho Tuấn cái linh thần mà viết được sách Đi Về Nơi Hoang Dã với lý dịch mạch lạc, cao siêu
và đầy nhân tính. “ Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong
huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”Câu
văn này sâu cực ý nghĩa dịch. Một hạt dương hoan phối với một hạt âm mà sinh ra
thai khí, mà thành con người, cứ thế, thành gia đình, thành quê hương, thành xã
tắc. Dịch học gọi toẹt huyệt đàn ông gặp gỡ huyệt đàn bà là hoan phối, văn
chương văn vẻ chữ hoan phối thành làm tình, thành yêu nhau, rồi mở rộng thành
tình yêu. Như vậy chữ tình yêu ít nhất cũng bao gồm một cặp âm dương, yêu nhau
để sống và để truyền giống mà con người còn mãi, còn mãi để yêu nhau. Như vậy,
trong chữ Tình yêu tàng ẩn hai hạt cơ bản gây dựng nên nó, đó là hạt sinh tồn
và hạt sinh lý. Chất lượng của hai hạt cơ bản này là thước đo cuộc sống, con
người phấn đấu không ngừng để mức độ hai hạt cơ bản này cao dần, cao dần, cao
cho tới mức mơ ước của con người, mức mơ ước ấy chính là thiên đường.
Ai trong Đi Về Nơi Hoang Dã đã đi về nơi thiên đường-đỉnh Hua Ca
ấy? Mời theo văn của Nhật Tuấn, nơi trang 11: “ Chúng tôi có năm người, một ông già
và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha
những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như
chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà, đằng đẵng bao năm
nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến
tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp
nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng..”
Vậy là có 5 người, nhấn mạnh 5 người. Số
5 nhân vật, rõ ràng, minh bạch thế này tất không thể là suy diễn, Nhật Tuấn đã
tung ngũ hành vào hành trỉnh tìm kiếm thiên đường. 5 người này, tượng cho năm
nhân vật (tạm gọi vậy) của truyện, mỗi nhân vật một hành. Ông già, nhân vật
trưởng toán, là nhân vật tung tâm, thuộc thổ. Nhân vật Thằng học giả, tượng
trưng cho trí, thuộc thủy/ Nhân vật Thằng Hộ Pháp tượng trưng cho lễ
(thành tích, cơ bắp) thuộc hỏa/ Nhân vật Thằng cấp dưỡng, tượng trưng cho nghĩa,
thuộc kim./ Và nhân vật “Tôi”, thuộc nhân mộc. Nôm na, ngũ hành cũng là năm
giai cấp chính trong xã hội: Công, nông, binh, trí, thương. Ngũ hành có tương
sinh, tương khắc, mỗi hành phát huy hết năng lực của mình, điều tiết cân bằng,
sinh khắc để tồn tại, để phát triển, để tiến hóa. Ví von về sự điều tiết sinh
khắc: Trên sông (thủy) có con thuyền (mộc), trong con thuyền có bếp lửa (hỏa),
cạnh bếp lửa có hũ gạo (thổ), cạnh hũ gạo có con dao (kim).. Trong Đi Về Nơi Hoang Dã, ngũ
hành người này chỉ là một toán, răm rắp tuân lệnh của toán trưởng, phạt cây, mở
đường, ăn rắn ăn rết, đói khô mép khô môi, cắn rắng, cầm lòng ức nín mà hô khẩu
hiệu tiến lên Đỉnh Hua Ca/ thiên đường. Chỉ có tiến lên, kẻ nào mở miệng bàn
không tiến, nghi hoặc ‘đường đi không đến”, hoặc có đến thì đấy cũng chỉ là
Đỉnh Hua Ca đầy sương mù và nước đọng bẩn thỉu..thì xích xiềng/xiềng xích/xích
xiềng và cái chết nhơ bẩn, hổ cha, xấu mẹ, ô danh nguồn cội xóm làng..là một
kết thúc. Vì thế, chỉ một con đường vượt núi, tiến lên đỉnh Hua ca huy hoàng.
Tiến lên. Tiến lên ta lại tiến lên/ Tiến lên ta quyết vượt lên hàng đầu/ Hàng
đầu chẳng biết đi đâu/ Đi đâu thì cứ hàng đầu tiến lên/ Nhất định phải tiến
lên. Không được phép nghi ngờ cái sai lầm, cái lạc hướng của Một Ban Chỉ Huy vô
hình, vô tích sự, ngây thơ, ngu dốt nào đó. Tiến lên hay là chết? Thật tiếc mà
may, tiếc là tiếc ông già trưởng toán, vì sức cùng lực kiệt, mà gục ngã trước
cổng thiên đường, và được chôn cất trang nghiêm trên đỉnh Hua Ca mà cả đời ông
ước mơ lên tới đó. May là, toán 5 người cùng lên đỉnh Hua Ca, chỉ một người
chết, 4 người trẻ còn lại đều sống sót, nhấn mạnh, cố ý sai văn phạm: 4 người chẻ còn nại đều xống xót! Lạc hướng thiên đường thì câu văn
cũng phải xám hối , sai văn phạm là xám hối nhẹ như kiểu nức nở cười..Biết đâu
những nức nở cười của tứ hành dân chúng này sang tai ầm vang đến Ban chỉ huy,
lay thức cơn mê lú của họ về Lỗi Hệ Thống, Lỗi Chỉ Sai Hướng, Lỗi Dẫn sai
Đường..để họ hiều là phải thành thực, phải dũng cảm đoạn tuyệt sai lầm, bắt đầu
lại từ đầu như thế nào. Xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Nhật Tuấn đã chuông
khánh thức báo cái sai lầm của lỗi hệ thống cho mọi giới bạn đọc bằng thông
điệp Đi Về Nơi Hoang Dã!
Ở trên có nói, văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã, ôm một cốt truyện ngắn xỉn, một trang,
làm sao đưa đẩy được 268 trang sách, cuốn hút người đọc đến dòng cuối cùng?
Nhật Tuấn đâu phải thứ “ văn nghê quần chùng”, anh là Nhà Văn thứ thiệt, viết
hoa, bằng giọng văn thủ thỉ, trầm ấm, viết mà như không viết, anh mở lòng tâm
sự cùng bạn đọc, đến nỗi đọc hết 268 trang văn, người đọc còn như muốn đọc
thêm, nghe thêm..Nhật Tuấn thực tài hoa, tràn đầy bản lĩnh viết văn. Nói vậy,
là tôi nói, tôi là bạn của Tuấn, lời thơm nhau thì sao! Xin đọc dưới đây, hai
bằng chứng vô tư, công bằng của Tuấn, về Tuấn.
Các sản phẩm văn ngắn, văn dài do Nhật
Tuấn sinh ra gần như trọn cuộc đời, và nay vẫn đang tiếp tục sinh ra, xin coi
là bằng chứng 1. Liệt kê 12 đầu sách đã xuất bản: / Trang 17 (1978)/ Con chim biết chọn hạt (1981)/ Bận rộn
(1985)/ Mô hình và thực thể (1986)/ Lửa lạnh (1987)/ Biển bờ (1987)/ Tín hiệu
của con người (1987)/ Đi về nơi hoang dã (1988)/ Niềm vui trần thế (1989)/
Những mảnh tình đã vỡ (1990)/ Tặng phẩm cho em (1995)/ Một cái chết thong
thả (1995). Và liệt kê thêm: Những đã post lên net, sẽ xuất bản, chắc
chắn là thế, tham khảo Nhattuan.blogspot.com
Bằng chứng 2, trích dưới đây đôi ba dòng Đi Về
Nơi Hoang Dã, để thấy bút lực Nhật Tuấn còn sung lắm, chữ nghĩa còn dư lắm,
tình văn còn đằm lắm:
“Tôi cố nhắm mắt mà không sao
ngủ được. Lần này thì không phải cái đói hay cái rét mà là những ý nghĩ của
chính tôi. Ông ta là người đã rủ rê tôi theo ông. Cậu đang còn trai trẻ, quẩn
quanh phố phường làm gì cho hèn người. Làm thằng đàn ông phải lên rừng, xuống
biển cho phỉ chí nam nhi... Tôi kính trọng và nghe theo ông cũng vì một thời
trai tráng ông đã: vùng vẫy như thế. Mới ngoài năm chục tuổi, ông đã có trên
hai mươi năm lăn lộn khắp các vùng rùng núi Tây Bắc, Việt Bắc khảo sát và thiết
kế được biết bao nhiêu con đường quan trọng. Một con người cả đời đã được mưa
rừng gió núi làm thoáng đãng tâm hồn, không lẽ lại làm cái việc nhỏ nhặt là
giấu diếm một chút mì chính ăn riêng. Không, thằng học giả nói láo, sách vở chữ
nghĩa làm méo mó đầu óc nó rồi. Ông toán trưởng thường bảo bọn trí thức là bọn
đáng ngờ nhất, nếu không được giáo dục đến nơi đến chốn, bọn nó không đáng bằng
cục cứt. May cho tôi không phải trí thức, tôi chỉ là thằng thanh niên lêu lổng,
mới rời ghế nhà trường phổ thông, đầu óc chưa bị tiêm nhiễm nặng nề nọc độc của
chủ nghĩa cá nhân tư sản, bởi thế như ông nói, tôi rất dễ phấn đấu vươn lên.
Chao ôi, quả thực ông đã lầm lẫn khi chọn tôi làm nòng cốt để bồi dưỡng, đào
tạo, tôi chẳng báo cáo được gì cho ông về những câu chuyện tào lao bọn nó vẫn
đấu láo mỗi khi vắng mặt ông chẳng góp ý giúp đỡ được đứa nào mỗi khi khổ cực
quá, chúng nổi khùng lên chửi cha cả cuộc đời. Tôi cũng không tha thiết lắm
những điều ông vẫn hứa hẹn: lên lương, đi học, chức quyền... các cái đó với
tôi, cũng xa xỉ và xa xôi hão huyền như những món ăn đặc sản thằng học giả thết
chúng tôi buổi tối hôm nào vậy.”
Trở lại với định nghĩa tung ra mà lý nói chưa hết nhẽ. Văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã là Tiểu Thuyết Dịch Lý. Nói
tiểu thuyết dịch lý là nói cái lý tàng ẩn của tiểu thuyết, cũng là nói cái cách
mà tiểu thuyết bầy cho người đọc cách dịch chuyển, cũng như Kinh Dịch là
pho sách (kinh) dậy cho thiên hạ muôn năm cách dịch chuyển mà tương thích với
cuộc sống mà thành tựu hai hạt cơ bản của đời người là sinh tồn và sinh lý. Với
cái kết truyện:
(Khúc 3: hy vọng thiên đường,
“Trong đêm cuối cùng trên đỉnh Hua ca, chúng
tôi đốt một đống lửa, ngồi quây quần như những ngày trước.Không ai hé răng một
lời. Tất cả đều ngồi thẫn thờ trước ngọn lửa đang bốc cao kéo những tàn đỏ đuổi
nhau và mất hút trong bóng đêm. Mọi việc giữa bọn tôi rồi cũng qua đi như thế.
Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ
có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu
Nhau…”), Nhật Tuấn đã khảng định sự cần thiết và nhất
định phải dịch chuyển, thay đổi cách nghĩ và hành động của người đọc. Tuy anh
không chỉ ra cách thay đổi, cách dịch chuyển cụ thể, vì anh tôn trọng thực tế,
hoàn cảnh của từng chủ thể, nói cách khác anh tôn trọng tự do, nhân quyền. Và
còn bởi, phẩm hạnh của văn chương là nhân văn, là tự do, là kích hoạt tư duy
trừu tượng, tư duy chân lý của mỗi cá thể bạn đọc, của nhân quần, nhân loại.
Một cái kết dịch lý.
Tôi xin kể vắn, câu chuyện dưới đây, thay cho
thu hoạch cá nhân, sau khi đọc văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhà văn Nhật Tuấn.
..Năm 1889, tức là cách nay hơn trăm năm, Nhà chức trách và dân chúngSeattle , tiểu bang Washington ,
nước Mỹ, nhận ra một cách sâu sắc là thành phố Seattle
của họ đã quy hoạch/ xây dựng/ phát triển một cách vô tổ chức, dẫn đến sai lầm
là Seattle trở
thành một thành phố xú uế tai hại. Quan và Dân Seattle đã thống nhất đi đến một quyết
định sửa sai, có một không hai trên thế giới, là dốt cháy toàn bộ Seattle cũ,(The Great Fire Of 1889), nhấn mạnh, đốt cháy toàn bộ thành phố,
và xây dựng lại Seattle đang hoàng, to đẹp. Cả hai việc dốt cháy (đoạn tuyệt
sai lầm) và xây dựng lại Seattle , người Seattle đều đã thực hiện
thành công. Bằng chứng, bảo tàng dưới lòng đất (Underground đối chứng quá khứ
với hiện tại) và Seattle hiện hữu là thành phố
lớn, đẹp nhất của tiểu bang Washington
và cũng là một trong không
nhiều các thành phố hoành tráng, to đẹp, văn minh hàng đầu của nước Mỹ..
..Năm 1889, tức là cách nay hơn trăm năm, Nhà chức trách và dân chúng
Trở lại với cái kết của Đi Về Nơi Hoang Dã.
“Sáng mai sẽ xuống núi, sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng yêu Nhau”.
Xuống núi, đó là một quyết định đoạn tuyệt
đường cùng, một đoạn tuyệt không thể khác. Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần
trên đỉnh Hua ca chỉ có trong huyền thoại. Đó là sự thật, một lời nói thật,
không thể dối trá hay lừa bịp bằng lời nói khác. Rồi sẽ lên đỉnh đồi nào, núi
nào, sông, bể nào để tìm con suối thần có thực, đó là việc khác, chuyện khác,
thuộc pháp dịch của mỗi người. Nhưng dù dịch thế nào chăng nữa, thì tự do và
nhân quyền vẫn là điều thiết cốt của đời sống con người, bởi chúng ta không bao
giờ nguôi quên niềm hy vọng: Con
người thực bụng yêu nhau..Tuyệt vời thay Đi Về Nơi Hoang Dã, cuốn sách kêu gọi mọi người thực bụng
yêu nhau..
NNB/ Seattle tháng 8.14
NNB/ Seattle tháng 8.14
vandanbnn
Đầu những năm 80 mình là học sinh giỏi văn cấp tỉnh, nhờ... phân tích rất ..hoành tráng cháy bỏng thơ Tố Hữu và thơ cụ Hồ. Lần đầu đọc " Đi về nơi hoang dã" của Cụ Tuấn mình gãi đầu mãi vì không hiểu được "quả bắp nướng" tác giả dấu ở đâu. Mình đem sách lên hỏi thầy hiệu phó chuyên dạy văn. Thầy nghiêm mặt mắng mình: Vớ vẩn, đi về nơi hoang dã là đi về nơi hoang dã. Lên tận đỉnh thiên đường mới biết đó là chỗ chó ỉa, hôi thối là rõ rồi. Học sinh giỏi văn mà ngu rứa. Thầy lại dịu dọng: này cu, tìm sách khác đọc, quên chuyện này đi nhé.Cảm ơn cụ Tuấn, đây là cuốn sách khai tâm cho em vì trước đó lũ chúng em ngu tối lắm.
Trả lờiXóa