Nhà văn PHẠM THỊ MINH THƯ
Tôi biết đến tên Nhật Tuấn vào năm cuối đại học tại nhà một đôi
vợ chồng làm thơ. Bấy giờ, báo Văn nghệ đang có cuộc thi truyện ngắn và tên anh
(lạ hoắc) đã chường ra trước tôi tên truyện ngắn dự thi “con chim biết chọn
hạt” trong số báo mà chủ nhà chưa chờ tôi an vị đã lập tức chìa ra kèm theo
những lời giới thiệu vồn vã về nó. Tôi đọc “con chim biết chọn hạt”, rồi làm
thinh, rồi chủ động rẽ câu chuyện khỏi lối văn chương để tránh một chính kiến.
Tuy thế, phần vì tò mò bởi lời khen có dắt díu thêm rất nhiều lời khen khác của
bậc đàn anh nọ cho không chỉ riêng một truyện đó của Nhật Tuấn, phần vì chính tôi lúc đó vào các sáng chủ
nhật có thể, rồi những giờ “cúp cua” cũng đang… làm các truyện ngắn của mình –
vài ngày sau tôi cũng bỏ công mò vào Thư viện Quốc gia tìm đọc ông nhà văn có
cái truyện ngắn chán chết được viết rất chủ động và có nghề (nghề hiểu theo
nghĩa kỹ thuật viết văn trung bình). Trừ truyện ngắn “Trang mười bảy” ít nhiều
gợi cảm, xinh xắn (đàn ông mà lại viết truyện xinh xắn?), với tôi, cả tập
truyện ngắn cùng tên không gây được thêm ấn tượng nào khác cái ấn tượng “con
chim biết chọn hạt” đã hoàn tất một cách chu đáo.
Ba năm sau tôi in các truyện ngắn đã viết của mình. Rồi nhờ
chúng mà nảy ra mối thân tình với N, một cử nhân văn chương mới nhận bằng khá
độc đáo. N kém tôi dăm tuổi, cô thông minh, đặc biệt nhạy cảm có một cái lưỡi…
“cực kỳ”. Chúng tôi biết nhau cũng là lúc N vừa “xong” một “quan hệ” với Nhật
Tuấn, anh cũng mới chuyển vào Sài Gòn. Nói “xong” nhưng kỳ thật là tình đầu đã
dứt. Tuấn vẫn hiện diện trong vô số các bài thơ say đắm, tuyệt vọng, trong
những linh cảm buồn bã đầy bất lực của cô.
Một con nhện con, một vầng trăng úa
Một chiếc cốc rơi…
Cứ run rẩy trong em những điềm chẳng lành
Em chết mất vì nhiều linh cảm quá
…
Có lẽ em lại nhầm mất thôi
Linh cảm cũng đánh lừa em như tất cả
Anh ở rất xa, anh không nhớ nữa
Và biết đâu anh còn giận trách em
Tuấn hơn N hai mươi mốt tuổi chẵn. Khi gặp cô anh đang sống với
người vợ thứ hai tại nửa căn nhà bên kia vách ngăn là người vợ đầu đã ly hôn và
con trai họ. Chú nhóc chưa quá mười tuổi này thường được ông bố đãng tử đưa
tiền qua tấm vách ngăn nhờ đi mua hộ… thuốc lá. Cũng qua tấm vách, hai bố con
hàng ngày vẫn chuyện trò, đùa bỡn, đưa đàn cho nhau “đánh” rồi thưởng thức cùng
nhau – Chú nhóc ngày ấy giờ đã tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội. Tuấn rất yêu con,
yêu theo cách của anh, giống như ông thân sinh ra N, người chỉ hơn anh dăm
tuổi. Một cuộc chiến – đương nhiên – đã bùng nổ. Sau nó là những hẹn hò vội vã,
thầm kín. Mối tình bùng lên ở độ tuổi bốn mươi ngoài kéo dài đâu như… những bảy
tháng, rồi Tuấn đi Sài Gòn với người vợ thứ hai. Chuyến đi vì công việc nhà
xuất bản nơi anh đang làm yêu cầu, vì muốn tìm một không gian sống và viết mới,
hay vì đã cảm nhận được cái hữu hạn của một tình yêu đẹp? Có trời mà biết được
sự thật ngoài Nhật Tuấn, tôi nghĩ thế, bất chấp cách lý giải của bạn mình. Bởi
tình yêu vốn chứa đủ cả sáng suốt lẫn rất nhiều lầm lẫn, ngộ nhận. Cái được là Tuấn vẫn giành cho N những tin cậy,
những quan tâm rất đàn ông cho một
tương lai mà anh sau khi đã làm cho nó trở nên rối tung, mờ mịt lại chẳng thể
có mặt…
Mùa đông năm 1983, tôi bấy giờ đang làm sinh viên tại trường viết văn Nguyễn Du, một buổi sáng đang
ngồi trong lớp học thì N đến. Tôi ra theo cái ngoắt ngoắt tay của cô. “Ông bán chuối” đang chờ chị ngoài
quán nước” – Tuấn được N gọi là Ông bán
chuối bởi y phục thập cẩm, nhố nhăng mà từ Sài Còn ra tiện đâu vớ đấy anh
chồng chất chúng lên người để chống lại cái rét của mùa đông Hà Nội.
Theo sau N, tôi bước vào cái quán úp sụp thường có nước trắng
(*), nước trà, thuốc lá, kẹo lạc, dắm thứ bánh rẻ tiền đủ để “móc túi” các sinh
viên Văn hóa quần chúng nơi mà trường
Nguyễn Du đnag tá túc. Ông bán chuối
của cô đang ngồi đó, tầm thước, đã có vẻ đẫy ra của đàn ông tứ tuần đang có một
đời sống ổn định, sung túc; sự đẫy ra ngày không chừa cả gương mặt lẫn cái mũi
tròn tròn của Tuấn. Mắt anh không “to trố ra” và “sáng rực” như N từng tả,
nhưng thông minh, trải đời và… lương thiện đủ để khiến được cả chiếc mũi beo
béo lẫn những dầy dầy thịt trên gương mặt thành linh hoạt, biến hóa, thú vị, dễ
mến. Sau cái gật đầu chào nhau và một lời giới thiệu ngăn ngắn, cả ba uống nước
trà, tôi thì xơi thêm kẹo lạc. Trước khi tấn công đĩa kẹo tôi không quên thẳng
thừng hỏi người thết, rằng được xơi “thả phanh? Chăng? Cười bằng mắt Tuấn gật
gật đầu. N thì dịu dàng khuyến khích. Lúc này, bên Ông bán chuối, buồn buồn, hiền hậu, cô gợi một cảm giác trong suốt.
Trong quán nước buổi sáng rét quá là rét đó chúng tôi chẳng
chuyện trò gì nhiều, nói tới văn chương thì… không hề.
Mươi lăm phút rồi chia tay tôi đâu dè ba năm sau giữa Sài Gòn
không hề lạ lẫm nhưng cũng chẳng thể nói là thân quen trong một hoàn cảnh khá
đặc biệt mình lại tìm đến Nhật Tuấn để nhờ cậy.
Còn nhớ rất rõ buổi chiều muộn khi tôi tìm đến chi nhánh phía
Nam của Nhà xuất bản Văn học, nhớ người đàn bà to béo bị tôi gõ cửa để hỏi thăm
lại xem, có đúng căn phòng đang khóa cửa mà có người đã chỉ cho, là của Nhật
Tuấn, đã nhìn tôi suốt lượt rồi mới nói “đúng”. Trong hoàn cảnh chỉ nghĩ tới
mình thôi đã đủ mệt tôi tìm hiểu làm
gì một cái nhìn? Sau mới rõ Nhật Tuấn sau ly hôn với người vợ thứ hai, lúc này,
thường sống với Hồng tại đây…
Nhét qua khe cửa vài dòng chữ, “nói” tôi mới vào Sài Gòn, có
việc muốn nhờ anh, “nói” cái địa chỉ cơ quan một người bạn nơi tôi đang tá túc.
Và buổi tối của ngày hôm sau, Tuấn đã tìm ra tôi trong khu Sứ quán Mỹ rộng mênh
của dân Dầu khí.
Việc tôi dời bỏ Hà Nội vào đây sống, muốn kiếm cơm tại một tờ
báo nào đó ở Sài Gòn được Tuấn trả lời ngay: Không thể! Anh cho biết ở tất cả
các tờ báo của Sài Gòn hiện đamg là lúc các người Bắc (nhập báo au năm bảy
nhăm) cuối cùng phải ra đi… Nhưng nếu tôi bằng lòng với một chỗ làm ngoài Sài
Gòn Tuấn có thể giúp. Cũng chưa biết rồi kết quả sẽ ra sao, nhưng sự đặc biệt
tử tế, thân tình Tuấn bộc lộ đã giúp tôi. Vào lúc chia tay, nhìn anh leo lên
xích lô mất hút trên con phố im tối của Sài Gòn, bình tâm lại.
Vài ngày sau Tuấn tin anh đã kiếm được cho tôi chân biên tập
viên tại một nhà xuất bản tỉnh, cách Sài Gòn chừng ba mươi cây số. Lại cùng bàn
thêm, với chỗ làm này, hàng tuần tôi có thể theo xe đò về Sài Gòn, vào thư viện
ngốn sách thả phanh. Cứ hẵng đọc, tới chừng thấy phải viết thì viết. Cần phải
nói công việc Nhật Tuấn lo cho tôi là có thực, bởi ít ngày sau đó tại Sài Gòn
tôi đã được tiếp xúc với ông giám đốc nhà xuất bản nọ, với một bạn viết bấy giờ
là người chạy việc chính của cái tổ chức mới hình thành này. Một cuộc tiếp xúc
tử tế, rất công việc và cụ thể. Có điều sau, cũng vẫn lại do hoàn cảnh, tôi trở
ra Hà Nội và không vào nữa.
Sau cuộc tiếp xúc rất công việc với một chỗ làm mà bấy giờ đinh
ninh mình sẽ theo đuổi, tôi còn lưu lại Sài Gòn, và đôi lượt có ghé chơi căn
phòng nhỏ của Tuấn, có gặp Hồng, bấy giờ đã là vợ chưa cưới của anh – Hồng cũng
kém tuổi Tuấn hai mươi mốt tuổi chẵn, và trước anh cô chưa từng… lấy chồng. Lúc
này mới có những chuyện trò văn chương. Tuấn nói tôi nên viết tiểu thuyết và
nói khá nhiều về tiểu thuyết. Có đưa tôi đọc hai chương đầu cuốn “Biển bờ” đang
viết. Với hai chương đã có thể nói được gì về một tiểu thuyết? Song đọc chúng
thấy trong văn chương có điều gì khác hẳn thứ văn chương truyện ngắn đã biết.
Cũng vì sự tử tế Tuấn đã giành cho, tôi đã tử tế nói rằng truyện ngắn của anh
là cực chán, rằng anh tỏ ra thông minh, thú vị chứ không như những gì đã viết.
Không nổi sùng lên như một vài nghệ sĩ được thừa nhận là tài năng, thông minh
khác. Trước chân thành tôi giành cho tác phẩm họ, vui vẻ nghe, lại vui vẻ đáp
lại tử tế tôi bằng đưa đọc những truyện ngắn đã viết từ lâu nhưng… không thể in
được. Cái không thể in thì hay? Thưa không. Một ngày sau tôi trả lại Nhật Tuấn
cả mớ truyện ngắn không thể in. Nói
chung có phần sinh sắc hơn chút chút những “Trang mười bảy”, “con chim biết
chọn hạt” (*), nhưng sẽ là hợp lý nếu chúng được viết bởi một nữ sinh viên văn
khoa! Một lần nữa con ngưoiừ xem ra thật… đáng nể này lại cười, vui vẻ và tử
tế.
Trước khi ra Hà Nội một buổi sáng rất sớm chúng tôi có cùng
ngồi chốc lát trong một quán café vườn Sài Gòn, tôi sau đó trở về với những
chuẩn bị cho một chuyến Nam
– Bắc, còn Nhật Tuấn thì từ đây đi luôn Tây Ninh. Vườn loe hoe người, có cây,
có hoa, và có… sỏi. Chợt nghĩ đến N. Đâu đây như đang có cô ngồi, trong suốt,
lặng thinh với những câu thơ đậu trên lòng tay xanh xao đã một lần đón mở:
Một làn khói rất mỏng
Âu yếm và nồng nàn
Làn khói thuốc lang thang
Quán café mưa vắng
Ước gì có thể khóc
Vì làn khói mỏng kia
Tiếng nói một người lạ
Rơi vỡ tách café
…
Chợt muốn nói về cô, muốn nói tới văn chương, muốn khuyên con
người ẩn rất nhiều chất tiểu thuyết trong mình rằng hãy dẹp quách những truyện
ngắn làm dáng, vô bổ mà dồn sức cho tiểu thuyết, rằng hãy cứ viết về những gì
thật có trong anh làm bận rộn tâm trí
và cuộc sống của anh… Nhưng café đã được đưa ra. Và cái nhìn tôi chợt đậu xuống
ngón tay đeo nhẫn của Tuấn.
Tôi tin lời người đó không? Có. Chỉ chẳng ngạc nhiên làm gì
cho… rách việc. Lúc này nghe “lược thuật” hành trình thành chồng của Tuấn tôi
vu vơ cười.
Khi viết những dòng này tôi được tin cái gia đình có con trai
Nhật Nam
lên tám tuổi và một bé gái của Tuấn – Hồng đang giai đoạn chờ hợp pháp hóa một
chia ly. Qua điện thoại đường dài tôi có nói với Tuấn về “đường vợ” anh thật đã
rất… “năng suất”. Đáp lại tôi là tiếng cười hề hề. Chả rõ buồn, vui thế nào.
Trạnh nghĩ duy trì được một đời sống gia đình có đủ tình yêu để không phải hạ
thấp nhân cách mình và người khác bởi những vờ vẫn, giả dối phải chăng luôn quá
sức người nghệ sĩ? Chợt nhớ một câu hỏi giành cho Sagam và câu đáp của bà: “Bà cười nhiều trong đời?” “Một các tối đa,
nếu có thể được, nhưng ngày càng khó khăn hơn. May mắn thay, tôi vẫn còn những
người bạn kỳ cục và có thể vui cười với nhau…”. Mong rằng những tiếng “hề
hề” tôi mới nghe qua cả dài dặc một khoảng cách thời gian và địa lý còn chung
thân lâu lâu với Nhật Tuấn con người với bạn bè thật đã chân thành chu đáo đến
mức khó thể quên. Lại cũng mong cả bằng an lan một tương lai sáng sủa cho các
người thân của anh!
* *
*
Năm 1987, “Biển bờ” in ra. Tôi đọc nó. Ngạc nhiên vô cùng vi
sau hai chương đã biết, có kéo dài thêm khoảng gấp hai rưỡi số trang nhưng tiểu
thuyết đã kết thúc như mới chỉ bắt đầu. Với “Biển bờ” tôi đã mua “Bận rộn” tại
một quầy sách cũ, giá rẻ. Tiểu thuyết ra đời trước “Biển bờ” hai năm này nghe
đâu là được bạn đọc trẻ tuổi trong Nam vồn vã đón nhận? Đọc. Thấy họ
có lý. Thấy mừng cho Nhật Tuấn. Không hề gặp chăng hay chớ, viết nhanh nhanh để
kết thức cho rồi một việc như “Biển
bờ”, “Bận rộn” được bố cục rất hẳn hoi,
văn chương lý thú, tâm lý nhân vật hợp nhẽ. Có thể lặp lại nhận định này với
“lửa lạnh” tiểu thuyết in năm 1988 của Nhật Tuấn. Giữa bạt ngàn tiểu thuyết
“phản tỉnh” mà không tỉnh, làm dáng,
làm tàng bằng đa ngôn, đa sự và đa quái của thời kỳ bung ra, đổi mới, hai tiểu
thuyết này là một thu hoạch rấtg đáng kể của một nhà văn. Nhà thơ Trần Đăng
Khoa sau một cuộc nhẩm tính chợt ngớ rằng: dựa trên số các cuốn sách ra hồn sách của nền văn học nước nhà thì
có đến 80% các nhà văn (hội viên Hội nhà văn Việt Nam) chưa có sách, còn ký nợ.
Theo cách tính sòng phẳng này với “Bận rộn” và “Lửa lạnh” Nhật Tuấn nhà văn đã
đóng thừa thuế thân.
Có điều, tôi, với… rách việc vốn dĩ và dương nữ định mệnh không
thể sài được thứ văn chương… đắng âm nam, mà “Bận rộn” và “Lửa lạnh” đọc rất được song xét trên ý tưởng và toàn
cục là tiểu thuyết của nữ sĩ chừng phải lý. Bị chi phối bởi điều này khi cho rơi Nhật Tuấn tôi đã để mất đi nhiều
năm không biết tới một tiểu thuyết đáng kính trọng (thật sự đàn ông!) của văn
xuôi Việt Nam
đương đại: “Đi về nơi hoang dã”. Tiểu
thuyết in năm 1990 mà tới mùa hè 1995 này tôi mới đọc – Tiện đây muốn nói thêm
cùng lúc với “Đi về nơi hoang dã” tôi còn đọc “Quê nhà”, nửa phần tập truyện
ngắn Nhật Tuấn in chung với anh trai Nhật Tiến, thấy chúng chẳng khá gì hơn các
truyên ngắn Nhật Tuấn đã viết, sự làm dáng bằng các phát hiện con con từ những
hiểu biết khoa học kỹ thuật chẳng rộng rãi gì ngày nào mà “Con chim biết chọn
hạt” là một điển hình nay lại mang dạng thức mới chán ngắt: siêu thực “mốt” của
một thời mà! Phải chăng truyện ngắn
và tiểu thuyết Nhật Tuấn đủ cho thấy
những “sáng tối mặt người” (1) của một chân dung anh?
Đi về nơi hoang dã
Đi về nơi hoang dã
Nhà văn Tô Hoài trong một bài viết rất hay gần đây (2) sau
những ngẫm ngợi có buồn có vui về nghề văn, phong cách, sự nghiệp của một bạn
viết, của chính bản thân mình đã ngậm ngùi thốt lên: “… nền văn học quốc ngữ
còn non dại và cũng tự học như tôi. Từ cái nghĩ và cái nhìn cho tới cái chữ,
tưởng tượng thì trông thấy nhưng đến lúc thật thấy thì vẫn còn ở chân mây.”
Cũng trong tâm thế đó ông kết thúc bài viết:”Cái văn học quốc ngữ của ta còn
trẻ quá, tính tuổi chưa được một thế kỷ, giữa những chuyển biến thời đại hồ như
mỗi ngày mỗi mới.”
“Từ cái nghĩ và cái nhìn cho tới cái chữ, tưởng tượng thì trông
thấy nhưng đến lúc thật thấy thì vẫn còn ở chân mây.” Chỉ ông, một nhà văn sống
chết với nghề, đủ lịch lãm và đã có đủ thành tựu (dù chỉ một “Dế mèn phiêu lưu
ký” như ông tự nhận, và là hai cộng của “Cát bụi chân ai” theo tôi, giữa hơn
trăm đầu sách đã cần mẫn viết trong mấy chục năm của một đời văn) mới có thể
thành thật “tính sổ” với bản thân, có nổi một nhận định hay đến vậy về cái
nghiệp chữ vốn đã nhọc nhằn, càng nhọc nhằn hơn trên một đất nước mà chữ quốc
ngữ xuất hiện đồng thời với xâm lược và chống xâm lược liên miên. Túy thế, nói
“nền văn học quốc ngữ còn non dại và cũng tự học như tôi” ông dường đã cho qua
một Vũ Trọng Phụng mà chỉ chọn hú họa thôi thì với “Số Đỏ”, “Vỡ Đê” đã già dặn,
bản lĩnh, nhìn ngang ra các vấn đề xã hội đã và sẽ nảy sinh trên xứ sở này, chí
ít cũng là cho đến hôm nay ngay từ bắt đầu văn nghiệp và văn nghiệp tuy ngắn
ngủi đó đủ để nền văn học quốc còn “non
dại” không mấy hổ thẹn với nền văn học truyền khẩu, chữ Hán rồi chữ Nôm trước
đó? Nhưng Vũ Trọng Phụng đã không sống qua được tuổi hai mươi bảy, dưới suối
vàng hẳn không mấy vui khi từng bấy năm trải qua bao biến động lớn lao xứ sở
mình vẫn chưa sinh nổi một nhà văn, một tiểu thuyết gia thứ hai tầm cỡ ông.
Sau Vũ Trọng Phụng từ năm 1945 đến 1975, rồi từ 1975 đến nay,
sau đọc, nghĩ mà tính xem quỹ tiểu thuyết của nền văn học mước nhà có được bao
nhiêu?
Trừ đi cái phần cho qua Vũ Trọng Phụng có thể cảm thông,
phải chăng, một tâm thế Tô Hoài trước cái gọi là nền văn học quốc ngữ “non dại”
“tự học như tôi”: niềm sốt ruột trước thành tưu văn xuôi trong suốt mấy chục
năm kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội, kháng chiến chống Mỹ,
nhất là trong hòa bình, hòa hợp dân tộc, xây dựng đát nước giữa thanh bình lẫn
ứng phó với một ngoại cảnh đã phức tạp, đa chiều hơn rất nhiều lần ta đã nghĩ,
đã hình dung khi người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi đất nước này (khoảng thời
gian gắn liền với đời viết nhà văn)? Hòa bình, hòa hợp dân tộc đã 20 năm, nghĩa là so với chiều dài những hy sinh mất
mát những nỗ lực ghê gớm để từ năm 1954 đi tới được tháng 4 năm 1975 thời gian đã nhiều hơn 1 năm?
Công cuộc đổi mới tư duy do Đảng khởi xướng bắt đầu từ N.V.L mới đó cũng đã gần
10 năm? Thời gian vùn vụt trôi, nhà văn đã qua “thất thập cổ lai hy” sốt ruột
là phải.
Nhưng nên chăng, hướng niềm sốt ruột này vào việc sòng phẳng,
lịch duyệt mà bình xét các giá trị văn học đích thực đã có, nhiều ít thì
thành tựu cũng ở chính đấy chứ còn đâu?
Gần mười năm đổi mới, nhìn lại văn học ta nói chung và tiểu
thuyết nói riêng cũng tưng bừng lắm thay. Nhà văn quá cố Nguyễn Minh Châu đã
viết “lời ai điếu” cho một giai đoạn “văn học minh họa”, nhưng phải chăng trước
đó chút chút và sau đó dài dài, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã
đủ bản lĩnh thoát khỏi một lối quen? Trước minh họa cho các định đề hồng
hồng có sẵn đã đành. Sau phải chăng đã không là minh họa cho những mệnh đề, võ
đoán xam xám tôi tối mà chính các ngòi bút khi dũng cảm đâm xuống giấy còn chưa
tỏ, nếu không nói là tù mù? Phân tích, xét lại nhiều vấn đề có tính cấm ky,
xông xáo vào những hạn chế của tư duy, tính cách người trong một nền kinh tế
tiểu nông, rồi trong một cơ chế duy ý chí kéo dài…. Nhiều nhiều cuốn tiểu
thuyết “gây vấn đề” đã ra đời, nhiều nhiều cuộc hội thảo đã diễn ra quanh
chúng, các cuốn tiểu thuyết này đã đẻ ra tiếng tăm cho một số các nhà nghiên
cứu phê bình văn học đủ nhạy cảm để lập tức “ăn theo”, lại cũng sinh hạ thêm
dăm ba “nhà”… mới toanh. Cuốn được khen, cuốn bị chê, bị … “đánh”. Lại thêm các
giải thưởng văn học hàng năm. Xôn xao, ồn ĩ tới mức nhiều lúc gây nhiễu cho một
môi trường văn học đang có cỏ xanh và sạch. Gây vấn đề? Được lắm, song trước
khi “gây” liệu có đủ lịch lãm để tỏ tường cái “vấn đề” định “gây” chăng? Còn,
nói lấy được, hạ bút rồi mà vẫn tù mù trước mệnh đề tác phẩm thì … Không
đừng được trong “Cảm xúc văn hóa”(*) nhà văn Đỗ Chu
đã phải lên tiếng về cái nguy hiểm của hiện tượng quá nhiều tầm vóc trung bình
xưng xưng bàn luận về những vấn đề lớn lao.
Song đủ tỉnh để thoát khỏi chi phối của dư luận và công luận
thường khi nảy sinh từ những toan tính vụ lợi của một số ít nào đó, vô
tư, thêm một chút tinh tường nữa sẽ thấy các tiểu thuyết gần hay và
hay đa phần đều lọt sàng, đáng buồn chẳng để xuống nia của ai, ít ỏi,
hiếm hoi, không được công luận dòm dó chúng lập tức bị cuốn phănng rồi mất hút
trong cơn bão tiểu thuyết ba xu.
Mà ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ là một ví dụ.
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét