(tiếp theo)
Chàng Dư mừng hết biết, mới gặp chặp tối, sáng sớm hôm sau đã
được ôm người đẹp, một cuộc tình, một hôn nhân tốc độ còn chớp nhoáng hơn cả
mấy ông Đài Loan sang Việt Nam
lấy vợ thời nay. Dĩ nhiên, suốt đêm hôm đó chàng Dư sao mà “đánh một giấc ngon
lành” được, cứ phấp phỏng đốt nến ngồi chờ tiếng chim Anh Vũ đón nàng. Khổ nỗi
chàng cứ chờ hoài, chờ hoài chẳng thấy chim lẫn người đâu ra :
“ Ta về mái tây, không hề nhắm mắt
Mấy lần đốt nến lên, mấy lần thổi tắt
Nào hay Anh Vũ chẳng hót cho
Tin mừng chẳng có
Có phải trời đã ngủ quên
Đất không thức dậy ?”
Vậy là chưa hết đêm, bình minh chưa tới chàng Dư đã than trời
trách đất, “nghi ngờ” lòng tốt ân nhân ,
thật chẳng “quân tử” chút nào. Thế rồi có tiếng chân động ngoài thềm, mặc dù
chưa đúng “ám hiệu” , chàng cũng “ vội
đứng dậy, cài áo sửa khăn bước ra” hoá ra là…gió. Lại thấp tha thấp thỏm
chờ đợi. Bỗng có tiếng chim hót.Dư lại một lần nữa cài áo sửa khăn. Nhưng khi
nhận ra không phải tiếng chim Anh Vũ, Dư lại một lần nữa bàng hoàng thất vọng :
“ Tiếng hót sao nghe như rối rít bàng hoàng
Mà đâu phải tiếng chim Anh Vũ…”
Mới chưa qua một đêm chờ đợi, tính cách chàng nho sinh họ Dư đã
bộc lộ cái phần “kém trượng phu” trong nhân vật chính vở kịch “Bình Minh Anh
Vũ” làm người coi ngờ rằng nó phản chiếu chính ông tác giả.
Thế còn nàng Tuý Tiêu ?
Xuất thân nhà nghèo nơi thôn dã, bố chết sớm năm 17 tuổi, lọt
vào tay một gã thuyền chài, sau được quan Nguyên soái chuộc về dạy múa, dạy
ca…theo kiểu “đào tạo” kỹ nữ làm vui trong phủ. Trong tối hội thơ, vừa nhìn
thấy Dư Sinh lần đầu nàng đã ưng trong bụng , đã “nhấm nháy”, ngầm đánh “tín
hiệu” đủ thấy gốc gác chẳng phải gia
giáo. Tan hội, đêm về, được quan Nguyên soái báo tin gả nàng cho Dư sinh, lại
được đọc bài thơ chàng làm có ghép tên mình, nàng mừng rỡ OK liền và xin vâng
theo đúng kịch bản quan nguyên soái đề ra khi có tiếng chim anh vũ cất lên
nàng sẽ đi “tìm cọc” ở phòng
chàng Dư.
Đêm đó, cũng giống chàng thi sĩ, nàng bồn chồn, sốt ruột chẳng
ngủ được, chờ hoài chẳng thấy chim chóc nào cất tiếng hót. Thế là nàng
đành phớt lờ “kịch bản” :
“Băng sương vượt lối
Ta đến với người
Chân không bước mạnh
Sợ động hồn mai…”
Xăm xăm tới phòng Dư Sinh, chàng lại đang … ngủ khì, nàng đành
đánh động tự giới thiệu mình là “ người
áo xanh” trong tối hội và tên Tuý Tiêu trong bài thơ chàng mới làm. Những
tưởng chàng sẽ mừng quớ, ai ngờ lại vô tâm, hỏi cắc cớ :” Áo nào ? Thơ nào?”, rồi còn nghi ngại :
“ Nguyên soái đã dặn
Khi nắng sớm trên cành
Và Anh Vũ hót inh
Thì nàng sẽ đến…”
Tới nước này, nàng Tuý Tiêu đành phải giải thích chắc là chim
anh vũ…ngủ quên nên :
“Chẳng ngại sương đêm
Thiếp đến với chàng tưởng
như đi trong bình minh rạng rỡ…”
Có lý do chính đáng “chim ngủ quên”, lúc này chàng Dư mới như người ngủ dậy nghe tin trúng số , vội
vàng :
“ Tuý Tiêu !Tuý Tiêu !
Chuyện trong mơ, mà quả người đã đến thật…”
Thế là tình lớn gặp nhau, đồng lòng gặp gỡ khỏi chờ tiếng chim
anh vũ như lời dặn quan nguyên soái, chàng nàng tranh nhau kể lể . Nàng than
vãn “ 12 bến nước lênh đênh, không cội
không cành, dạt đâu là phận đó, kể sao cho hết nỗi niềm” .
Còn chàng lại khoe chí khí nam nhi :
“ Lòng ta chỉ muốn được rong chơi
Ném quản bút tre vào mực đen thế sự
Giấy nhân tình nhoè đỏ
Cười khóc chuyện
người…”
Í trời , giá thi sĩ Lưu Trọng Lư cũng “ném bút vào thế sự” thì nay người đọc hẳn đã được hưởng di sản thơ
giàu có chứ chẳng phải trắng tay như ông để lại. Tỏ vẻ lấy bút chống trời xong
, chàng dùng nó chinh phục người đẹp :
“ Nghe lời ca ai não nuột
Nhìn điệu múa ai uốn đau
Ruột này cũng quặn héo…”
Và chàng thề thốt :
“Hãy sáng lên hỡi ngọn đèn
Ta nguyện vì em làm phên che gió…”
Chàng nàng đang nỉ non tình sự, hốt nhiên Nguyên soái xuất hiện
tay xách lồng chim. Người ta tưởng đòn trừng phạt tội cãi lời quan, không chịu
chờ chim anh vũ lên tiếng sẽ giáng xuống
đôi tình lang, may thay ông quan là người tử tế , chẳng những không bắt lỗi mà
còn cho ngựa, cho kiệu để chàng rước nàng về quê lại kèm theo quà tặng cưới
chiếc lồng chim anh vũ ghi lại kỷ niệm ngày quan đi săn loại chim này, chuộc
nàng về.
Tuy nhiên chẳng phải ông quan nào cũng tử tế như quan nguyên
soái. Cái ông quan thứ hai làm thay đổi cuộc đời Dư Sinh và Tuý Tiêu lại là một
bạo quan – Thân Trụ Quốc từng khoe khoang :
“ Trong triều ngoài quận đều biết tiếng ta
Có trầm quý nào trong rừng mà ta không kiếm được
Tội nặng như núi, một chữ của ta còn xoá được nữa là…”
So với ngày nay, ông quan này có khả năng “chạy án” phải ngang
cỡ….Uỷ viên Bộ chính trị. Nghe tin chùa Phổ Tế mới có ni cô xinh đẹp, ngài cũng
dẹp việc quan, mò tới coi. Cô này được nho sinh ca ngợi :
“Hôm nay thỉnh chuông mới
thì nhà chùa cũng thỉnh về một cô tiểu thư mới. Cứ nghe cô cất giọng kệ thì
Phật có cho vào Niết Bàn cũng chẳng thiết vào nữa . Còn quan to quan nhỏ trong
triều , cứ thấy mặt cô một lần , cũng không muốn rời khỏi cửa tam quan…”
Không may cho vợ chồng
Dư Sinh, cũng đi vãn cảnh chùa trong tuần trăng mật đúng lúc đó. Vừa
nhìn thấy Tuý Tiêu đứng bên hồ tay cầm đoá sen, tướng công đã hồn xiêu phách
lạc, quên bẵng mất ni cô trong chùa.
Ngài lệnh :”Cứ cho lên kiệu về
kinh ngay. Gấm vóc sẽ ban sau cho cha mẹ. Bọn lính dạ ran . Trong nháy mắt ,
chúng làm theo ý Thân Quốc Trụ. Tuý Tiên kêu la, chống lại nhưng chúng đã ép
nàng lên kiệu khiêng đi. Mọi người chỉ biết nhìn theo. Đây đó một vài tiếng
niệm :” A di đà Phật…”
Chứng kiến cảnh bắt người ngay trước cửa Phật, thiện nam tín nữ
chỉ biết niệm kinh. Thế còn Dư Sinh, người chồng mất vợ, chàng thi sĩ mất người
yêu ? Không chạy theo kiệu quan mà giải thoát Tuý Tiêu , không vạch mặt chỉ tên
quan cướp ngày Thân tướng công, chàng
chỉ ngửa mặt kêu trời :
“Xanh xanh!Xanh xanh!Trời rất xanh
Gíó như không gió vẫn dưa cành
Ta đi đi về đâu ? Lội xuống hồ sen hay vào Tây Trúc ?
Miệng ta mắc niệm Phật
Ai khóc cho ta nỗi bất bình ?”
Cái kiểu cam chịu trước cường quyền bạo ngược, chỉ biết “khóc”
và hỏi “trời xanh” này, chẳng riêng nhân
vật chàng Dư mà ngay ông tác giả đẻ ra nó và cả sĩ phu Bắc Hà ngày nay, hỏi ai
là không có ? Bởi vậy nàng Tuý Tiên còn mong gì được giải thoát ?
Quả nhiên sống trong dinh Trụ Quốc Công, ngày đêm nàng chỉ còn
biết giữ chặt “ chữ trinh” khiến quan lớn trong triều phải đặt mình ….ngoài
vòng chăn gối của nàng tới đêm thứ …109
và “chiến công “ đó làm nàng thích chí.
Nhưng rồi một trăm đêm, một ngàn đêm, liệu giữ mãi được không ,
nàng than :
“ Thảm thương số kiếp hoa cành
Làm sao giữ mãi hương trinh hở trời ?”
Vậy là nàng chỉ còn biết trông vào trời, chứ còn cái anh chồng
Dư Sinh chỉ đánh võ mồm “Ném quản bút tre vào mực đen thế sự”, chỉ “cười khóc chuyện người…” chứ
còn chuyện của chính mình thì …thua, lại đành phó thác cho trời chứ biết sao ?
Quả nhiên suốt trong thời gian đó, chàng Dư mất vợ chỉ quẩn
quanh xó nhà “áo để buông không thắt
giải, trên đầu đội một cái mũ cỏ, dáng đi thất thểu “ và than vãn :
“ Một ngày xa vợ hết khôn
Ta đi lùng hoa dại
Vò nát giữa bàn tay
Máu trong hồn rỉ mãi…”
Rồi gặp vợ ngồi kiệu
đi trên đường, chàng cũng chỉ đành trố mắt:
“Ngồi trên kiệu đúng người thương
Người vũ nữ . chính áo vàng đau chưa ?
Nhìn lên chẳng thấy mắt xưa
Ta đành cúi mặt , miệng và lệ thương…
Rõ ràng ta đó, ai kia ?
Tay nào xé rách trăng thề đó ai ?”
Hoá ra không những chàng
quên phứt lời thề làm phên liếp che mưa cho cuộc đời nàng mà còn trách
móc nàng “đã khác xưa”. Thói cam chịu, than vãn trời đất của chàng Dư Sinh
khiến người bõ già của chàng cũng phải bực mình. Oâng mượn lời mắng chim anh
vũ, nhưng chính là nhằm vào chàng :
“Lão nói cho mà biết
Làm chim thì phải bay
Có cánh thì phải đạp mây.
Ngày hai buổi tốn công lão…”
Vậy đó, làm đàn ông phải vẫy vùng trời đất, chống lại tham
quan, bạo quyền, làm chồng phải bao bọc, cưu mang được vợ, tiếc thay những lời
răn chí tình đó chẳng lọt lỗ tai chàng
thi sĩ Dư Sinh, ngày ngày chàng cứ điên điên :
“Cơm bữa chẳng thành cơm
Gặp hoa nào cũng hái…”
Lạ thay, điên vậy mà từ miệng chàng chẳng khi nào thốt ra được
một lời oán trách, chửi bới Thân tướng công – kẻ đã cướp vợ, gây cho chàng nỗi
thống khổ “máu trong hồn rỉ mãi” .
Hoá ra không dám vạch mặt chỉ tên những kẻ gây nên bao đau đớn khiến thế gian
này ngập tràn nước mắt chính là nỗi
khiếp sợ thâm căn cố đế chẳng riêng thời nào, cho tới tận bây giờ cố tật đó vẫn
còn ăn sâu vào những người cầm bút.
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét