(tiếp
theo)
Tất nhiên ông nhà thơ không đời nào muốn tuổi trẻ miền Nam
“hồi sinh” theo kiểu “ bỏ phiếu bằng đôi chân đó”, ông muốn các em trước hết hãy đi vào …nghiên cứu chủ
nghĩa Mác Lê mà ông kêu to lên như người
mới phát hiện ra chân lý :
“ Ôi !Duy vật biện chứng
pháp bao nhiêu ngày tháng tôi triền miên trong cái trầm hương đó toát ra từ cái cốt lõi sự vật.Và mỗi ngày
tôi ngắm xung quanh tôi muôn vàn biểu hiện , vô vàn biểu hiện phong phú, rực rỡ
của cái người đời gọi là vật chất, cái duy nhất có thật ở đời…”
Ôi, ở miền Bắc sau hơn 30 năm nghiên cứu học tập, chẳng còn mấy
ai tin vào cái “biện chứng pháp “ ấy nữa, bởi vậy nhà thơ mới mang nó vào miền
Nam, thật đúng là “củi mục bà để trong
rương , hễ ai hỏi đến trầm hương của bà”…
Đặt chân rất sớm vào Sàigòn sau Tháng Tư năm 1975, từ hội
trường khoá bồi dưỡng chính trị cho gần 400 văn nghệ sĩ “chế độ cũ”, nhà thơ Lưu Trọng Lư đi thẳng tới khám Chí Hoà …làm bài thơ “Tìm anh” :
“ Đập cổng Chí Hoà không thấy bóng
Tay cầm hoa trắng , đi tìm anh…”
Nhà thơ tìm ai vậy ? Có phải một bạn thơ cũ ngày trước làm việc
cho Mỹ-nguỵ hoặc họ hàng thân thuộc có dính dáng tới chính quyền cũ nay bị cách
mạng bắt giam ?
“Qua cầu Công lý nhìn mây nước
Tưởng thấy hình anh giữa biếc xanh…”
Hoá ra người mà nhà thơ cất công tới tận nhà ngục tìm chính là
anh…Nguyễn văn Trỗi, chưa một lần gặp mặt mà chỉ biết tới qua bút ký “ Sống như anh” của Trần Đình Vân.
Trong thời điểm các nhà thơ miền Bắc mới đặt chân vào Sàigòn
ngay sau ngày ông Dương văn Minh tuyên bố “bàn
giao chính quyền”, cũng nên nhắc tới Huyền Kiêu, một nhà thơ lão thành miền
Bắc, khi vào Sàigòn đi ra ngoại ô đã cảm thán làm bài thơ “Gặp người thương binh nguỵ trên
cầu Bình Triệu” với chút cảm thông, lập tức nhà thơ bị phê phán và bị đưa
về “ngồi chơi xơi nước “ tại NXB Văn
Học. Suốt cả đời thơ, Lưu Trọng Lư tuyệt nhiên không va vấp, không có câu thơ
nào làm mếch lòng đảng, không có bất kỳ một “tai nạn nghề nghiệp” nào như rất
nhiều đồng nghiệp khác. Ngay cả mấy năm sau, năm 1979, nổ ra chiến tranh biên
giới phía Bắc, được lên Cao Bằng để chứng kiến bọn bành trướng Trung Quốc giết hại các em nhỏ ở một lớp học, được giao
làm thơ để tố cáo bọn bá quyền dã man, nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng tính rằng đây
chỉ là “ngọn gió quái”, sẽ qua mau, Trung Quốc vẫn “ vừa là đồng chí vừa là anh
em”, nên ông làm một bài thơ giữ kẽ, rất
chung chung, không dám nêu đích danh kẻ thù lúc đó là quân xâm lược Trung Quốc
:
Từ chiến địa trở về
Ngủ một đêm Đèo
Gió
Trăng như vừng
gương nhỏ
Trên tay em gái
sàn
Nước máng từng
giọt tràn
Như đàn tranh
tưng tửng
Hương bưởi gần
thoang thoảng
Nằm nghe gió rúc
xa
Dưới ánh lửa
hồng cô giáo Thuỷ
Nhớ trò, nhớ lớp
ngồi ngẩn ngơ.
Cao Bằng 3-79
Với bọn Khơ me đỏ, Pônpốt, Iêng xary cũng vậy, dẫu sao các
“đồng chí” đó vẫn là cộng sản, chửi đích danh đâu có được :
“Tới đây mắc
võng Trường Sơn
Có thu trước mặt
, có xuân bên mình
… Sáng nay
con đến ven rừng
Thấy cành hoa
đẹp vết thương trên người
Chết rồi còn đỏ
làn môi
Thấy sỗ sàng
thân ngọc, con nghiêng cài áo khuy…”
1981
Chỉ chung chung thế thôi, đâu dám vạch mặt chỉ tên những đứa
nào đã làm nhục mẹ . Cứ “giữ kẽ “ vậy
cho an toàn, biết đâu vài năm nữa các đồng chí đó lại “ bốn phương vô sản đều
là anh em” thì sao ? Quả nhiên những bài văn thơ nêu tội ác đích danh bọn Trung
Quốc xâm lược đều lặng lẽ biến mất khỏi sách báo, riêng có bài của Lưu Trọng Lư
vẫn được in vào tuyển tập. Ca ngợi người anh hùng trong chiến tranh với Khơ me
đỏ và Trung Quốc cũng vậy, chẳng bù cho ngày trước lớn tiếng vạch mặt Mỹ- nguỵ,
nay không một chữ nào điểm mặt, chỉ tên
quân thù :
“ Anh không ngồi
đếm bao thu còn lại
Bao tuần lá đổ,
vàng rơi
Khi cánh song
anh khép kín cõi đời
Anh vẫn không
tin : mình chết…
Khi gà mai mỗi
ngày còn đập cánh
Ai tắt được lửa
bình minh…”
Lẽ nào anh chết- 1981
Cứ làm thơ theo định hướng chiến lược phân biệt “bạn thù” của
đảng kiểu “kẻ thù lâu năm của nhân dân ta vẫn là đế quốc Mỹ”, trái tim nhà thơ
liệu có còn đập theo những buồn vui trần
thế nữa chăng ?
Trong những năm chiến tranh, đời sống dân miền Bắc rất thê thảm, con nít sinh ra
không đủ sữa, nhiều người phải giã đậu phọng thành nước cho con bú, triết gia
Trần Đức Thảo ngày ngày đạp chiếc xe “Pơ giô” con vịt – tức xe đạp con nít Liên
xô từ Khu tập thể Kim Liên tới Thư viện Khoa học xã hội, mang theo cái cạp lồng
trong có hai cục bột mì luộc, trên đường ghé nhà ăn tập thể tranh thủ xin…
biđông nước chè “một hào ba gói” .
Trong khi đó Lưu Trọng Lư sống trong khu Ba Đình giành cho các
quan, mua bán tại cửa hàng Tôn Đản là “chợ vua quan” làm sao thấu hiểu nỗi khổ
dân chúng nên thơ ông tuyệt nhiên không
một câu cảm thông những cảnh đời khốn khó . Suốt cả chục năm 1975-1986,
ông vẫn náu mình trong “Hoành sơn nhất
đái” - ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng muôn thủa. Năm 1982, một anh bạn đi
Pháp về cho coi ảnh chụp …bác Hồ ngủ trưa giữa ổ rơm ngoại thành Paris,
Lưu trọng Lư liền cảm khái thành thơ :
Giữa ổ rơm :
Nằm nơi đất lạ,
tình không lạ
Giấc ngủ tìm về
giữa ổ rơm
Một đời gắn bó
mùi rơm rạ
Mắt nhắm còn lo
chuyện áo cơm…”
Thế đấy, hàng triệu người già, trẻ con trong những năm tháng đó
lấy rơm làm giường sao nhà thơ không buông một tiếng thở dài ? Tiếc thay đó là
điều cấm kỵ trong văn chương miền Bắc nên ông cứ ngó lơ, ngậm miệng “giữ ghế” ,
dân chúng có khổ sở vì “giá, lương, tiền” ông vẫn reo vui :
“Đẹp lắm!trên
đời những vấn vương
Chao ôi thiên lý
một con đường…
Đi trong trời
đất từ duyên ấy…”
Thưa vâng, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội “thiên lý” lắm,
nhưng nếu cứ ở khu Ba Đình, hưởng sổ cung cấp Tôn Đản thì nhà thơ cứ đi mãi được và lại còn hô
hào thanh niên :
“Chút lửa hồng ,
em hỡi
Ngày ấy, còn đỏ
trên tay
“ Nào lên đường
đi !người trai trẻ !”
…Ta đi như một
hiệp sĩ hôm nào…
1986
Thày giáo dạy văn bình giảng bài này cho học sinh ắt hẳn sẽ tán
“truyền thống cách mạng vẫn còn trong tay, nào lên đường noi gương các anh hùng
liệt sĩ.”. Nhưng lên đường đi đâu, chiến tranh đã qua rồi đâu còn mặt trận nữa
? Chỗ này thì nhà thơ…tắc tị, đành lờ đi chứ còn biết nói sao ? Không lẽ hô hào
lên đường làm giàu, cái đó khỏi cần nhà thơ hô hào, hàng chục ngàn các cô gái
nông thôn đã chẳng lên máy bay sang Đài Loan lấy tàu rồi đó sao ?
Vậy nhưng thời thế rồi cũng đổi thay, sang kỳ kinh tế thị
trường, đề tài “ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng “ xem ra mất khách, dải
“Hoành sơn nhất đái “ không còn là nơi
dung thân vạn đại cho những con chim chỉ biết hót véo von trong lồng son, cóng
sứ. Ngay nhà văn quân đội gạo cội Nguyễn Minh Châu cũng phải đọc “Lời ai điếu cho văn chương minh hoạ”,
“theo phong trào” Lưu Trọng Lư cũng viết sách “thị trường”, năm 1989 cho ra đời
cuốn hồi ký “ Nửa đêm sực tỉnh”. Ái
chà, đọc cái tựa sách cũng đã thấy đậm màu “phản tỉnh” – nửa đêm chợt tỉnh giấc
để suy nghĩ gì đây ? Ăn năn, sám hối về quãng đời đã qua ? Xét lại đường
lối văn nghệ của Đảng đã đưa Lưu Trọng Lư đến chỗ bạt vía nàng thơ
? Không phải, để làm yên lòng tuyên huấn và gây tò mò cho độc giả bỏ tiền mua,
sách có ghi rõ phụ đề “ Hồi ký – Nhớ lại
những mối tình “. Vậy một mũi tên trúng cả hai đích, ổn thoả đôi đường,
Đảng yên tâm mà đầu nậu bỏ tiền in sách cũng yên trí.
(còn tiếp)
Có 1 phiên bản khác của đ/c NVT do Ls Nguyễn Văn Chức "vẽ" lại, không biết bác đọc chưa ?
Trả lờiXóaDạ tôi chưa có. Nếu bác gửi cho thì xin đa tạ.Địa chỉ email : nhatuan@gmail.com
XóaCũng như đại đa số văn thi sĩ trong lồng XHCN.,Lưu Trọng Lư đã phải
Trả lờiXóatrở thành chim mồi để các chim khác còn tự do ở ngoài...sập bẫy.
Bác Nhật Tuấn ạ! nghe ông nguyễn Vỹ nói ô Lư trước CM là con nghiện; sau CM được chủ giao cho đi bắt thuốc phiện đấy./.
Trả lờiXóaChuyện này không dính dáng tới văn học bác ạ...Cảm ơn..
XóaBác ạ, cháu nhớ bài thơ của nhà thơ Huyền Kiêu là "Người cụt tay ở cầu Bình Triệu". Không biết cháu có nhầm không.
Trả lờiXóaKhong biet bac Nhat Tuan co nho cau noi cua Ly Tu Trong tra loi chanh mat tham Phap khi duoc khuyen theo Tay ( la` toi duoc cho hoc nhu the, khong biet co that hay khong?):
Trả lờiXóa"Song nhu cac nguoi toi khong song noi ! Song nhu the thi` tha` chet con` hon!
Toi doc may bai cua bac, va toi co' cam giac do, bac a
(Xin loi, may PC cua toi hu Unikey, nen khong co dau!
Í trời...sống có bơ có sữa mà không sống nổi thì thế nào mới sống nổi ?
Trả lờiXóa