Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 25

                           (tiếp theo)

 “Cụ thể thêm: trong quan hệ Việt-Trung, dù Đại Việt hết lòng hết sức làm ‘bạn với Trung’, thì vị trí địa lý của Đại Việt cũng bắt buộc nước này phải đồng thời nhìn nhận Trung như một ám ảnh an ninh thường xuyên và cốt tử.
Cho phép chúng tôi được nói thẳng và có thể mếch lòng một số quý vị trong cấp lãnh đạo tối cao… Nếu không vì thực tâm tin cậy dựa trên cùng một hệ tư tưởng Xã hội chủ nghĩa thì không việc gì Đại Việt phải giấu diếm ánh ảnh sinh tồn đó bằng ‘phương châm 16 chữ’ và ‘quan hệ 4 tốt’. (Còn vấn đề ‘thực tâm tin cậy dựa trên cùng một hệ tư tưởng’ thì không đơn giản, chúng tôi xin khất dịp khác như đã nói) [Hiểu mà… Hiểu mà…]
Nếu càng cố giấu thì hành vi và ngôn ngữ ngoại giao của Đại Việt càng thể hiện sự yếu kém và khiếp nhược. Đó không những không là minh triết Việt ‘Người khôn ăn nói nửa chừng’ mà còn phản lại triết lý vệ quốc của tổ tiên Việt ‘Nam quốc sơn hà nam đế cư’. Chúng tôi vững tin là nhân dân hai nước cũng như cả khu vực và toàn nhân loại đều cầu Trời khấn Phật sao cho Trung chân thành ‘làm bạn với Đại Việt’. Cứ cho là có một ngày đẹp trời xảy ra điều đó, liệu Đại Việt đã sẵn sàng vị thế của một người bạn thực sự hay chưa: sự bình đẳng? Cũng không nên nại cớ ‘lặp lại lịch sử’ ở một số sự kiện cầu hòa của cha ông Đại Việt dưới vương triều phương Bắc. Thời đó với kiến thức và viễn kiến của Đại Việt thì ngoại giao thế giới chỉ có Trung và Đại Việt mà thôi; ngoài trứng với đá không còn gì khác. Không có ASEAN, không có Liên Hiệp Quốc, không có Mỹ, không có Internet, không có Email… Tiền bối Đại Việt dưới các triều đại Trung chỉ có 2 việc kế tiếp nhau và lặp lại ngàn năm: Kiên quyết đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, rồi tận tâm triều cống thần phục giữ lấy bình an. ‘Mùa thu nay khác rồi…’ Trái đất vẫn tròn như thế, nhưng thế gian đã đổi khác - đã phẳng một cách công khai mà không quan hệ nào có thể song phương ‘tắt mắt’ nếu nguy hại đến thế giới.

Cụ thể hơn: Đại Việt hoàn toàn có thể chủ trương một quan hệ chiến lược mở rộng và đặc thù với nhiều nước khác để dựng một ‘hàng rào chiến lược’ tự bảo vệ, như nhiều nước lớn cũng như nhỏ trên thế giới đã phải làm. [Nếu là người Chăm sẽ kêu: Hay quá, trời biển ơi (không phải như người Kinh kêu ‘trời đất ơi’)!]

Rồi cụ thể thêm nữa:
“Khổ nỗi, từ trong văn hóa và tư tưởng, Trung vốn là khuôn mẫu cho Đại Việt. Người Trung đã, đang, sẽ là gì; người Việt cũng đã, đang, sẽ thế nấy. Bị xâm lược, phải thần phục cũng bởi tính ‘khuôn mẫu’. Chính nhờ ‘thế giới phẳng’, chúng ta có cơ may phá khuôn mẫu ngàn năm Trung-Việt Việt-Trung. Nên chăng coi đó như cách thoát hiểm ngoại xâm, họa bành trướng từ láng giềng phương Bắc?”

Cụ thể này mới đích thị cụ thể:
“Về đối ngoại, hiển nhiên Đại Việt rất, rất cần hữu nghị với Trung. Và cần đủ giao hảo với ASEAN, Nhật… Song le, về chiến lược, lịch sử ngàn năm cho đến thực tiễn 3 tháng qua không hề ‘cấp giấy phép’ cho Đại Việt thiết lập an ninh trường kỳ theo quan điểm xương sống ‘Trung là bạn đặc biệt’. Thật khó phân minh: một mặt quyền lợi quốc gia đòi hỏi Đại Việt phải cảnh giới trong quan hệ Việt-Trung, mặt khác ngoại giao chính thống lại xem ‘Trung là bạn đặc biệt’. Minh triết Việt gọi là tình ngay lý gian. Nếu phá được mâu thuẫn đó sẽ rất tự nhiên nảy ra quan hệ chiến lược mới mẻ và minh bạch. Thêm nữa so với Trung, Đại Việt vĩnh viễn là nước nhỏ hơn rất nhiều về hầu hết phương diện. Do vậy không thể nào dùng phương châm ‘hợp tác toàn diện’. Phải lựa chọn lĩnh vực nào và ở mức độ nào cần hợp tác. [Trời biển ơi, hay quá!]   

Cụ thể này thì thực là bố của cụ thể:
“Thế thì Đại Việt sẽ cần ai là đồng minh chiến lược? Chúng tôi hiểu ‘đồng minh’ lúc này không phải là tham gia một liên minh quân sự, mà là một tổ chức gồm các nước có cùng lợi ích chiến lược. Và điều gì khiến một quan hệ chiến lược tồn tại tốt? Đây, ngành địa-chính trị hiện đại đã chứng minh qua 3 tiêu chí: Tư tưởng, Văn hóa và Vị trí địa lý. Do tiêu chí tư tưởng hệ trọng như thế, chúng tôi - những con dân Việt dù phải ở xa trời Nam đất Việt cũng mạn phép - đề nghị Đại Việt nên dứt điểm ‘cắt rốn tư tưởng’ với Trung, ngay cả khi hai nước vẫn còn chung hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa. (Chúng tôi mở ngoặc: đây là một tiên đề rất mới và quá lớn, xin sẽ chứng minh bằng lý luận và các chứng từ cập nhật trong một tiểu luận riêng. Vả, với nội dung ‘nội bộ Đại Việt’ nó ra ngoài khuôn khổ Hội thảo quốc tế hôm nay. Chỉ nói rốn một câu: mô hình này sẽ không từ bỏ nguyên lý cơ bản của chính thể hiện thời là ‘đảng lãnh đạo’. Chúng tôi đóng ngoặc.) [Kính nể bậc giáo sư, các thầy đóng mở khít khao thế nhà em còn dám ‘còm’ vào đâu được. Và nhà em cũng bắt chước thầy nói rốn: cái tiểu luận riêng ấy sẽ rất có thể là ‘ông cố nội của cụ thể’ chứ chả chơi?]
Nhưng rõ ràng cụ thể này phải là “ông cố nội của cụ thể”:
“Nào để kết thúc, mời quý vị ‘trở về Surriento’ với Biển Đông, với ASEAN thân thiết của mỗi đất nước, của mỗi chúng ta có mặt lúc này. Theo 2 gợi ý sau đây, mà 12 anh chị em đồng tác giả chúng tôi có mặt trên 9 quốc gia, lãnh thổ từng trăn trở trong bao tháng ngày xa quê Việt:

Xét rằng, về mặt lịch sử với bản tính mù mờ của nó (nhấn rất, rất mạnh: chúng tôi không phản bội lịch sử dân tộc, không đi ngược luận chứng của dư luận và các cơ quan hữu trách Đại Việt), và nhất là về thực tiễn nhiều năm qua, chúng tôi thấy không chỉ nước Đại Việt của chúng tôi mà chẳng quốc gia nào của mỗi quý vị phủ sóng lên hết cả Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Trường Sa.

Gợi ý Một. Thôi thì chuyện dài lâu ‘của Caesar trả lại Caesar’, mỗi nước chúng ta hãy tạm để cho con cháu chúng nó ‘trả’. (Ông Trời rồi sẽ có mắt! Đứa nào ăn gian nó giàn ra đấy; nhất là đứa phải dùng đến giàn khoan để lấn biển.) Cấp thiết bây giờ, để chống lại hiểm họa chung là Đường lưỡi bò của Trung, ASEAN cần đoàn kết - theo đúng nghĩa đen của mỹ từ này - mà hát lời ca ‘Kết đoàn chúng ta là sức manh’…
Đặc biệt, Đại Việt cùng 3 nước Philippines, Malaysia và Brunei phải chung tay gìn giữ quần đảo Trường Sa nguyên hiện trạng và đồng thanh ca bài ‘Biển Đông này là của chung’. Cho phép 4 đồng tác giả chúng tôi hát thử khúc ca này bằng 2 ngôn ngữ Việt-Anh:

‘Ra Biển Đông ta chơi
Dưới ánh nắng biển trời tươi đẹp.
Ta muốn chiếm một đảo có dầu
Nhưng ASEAN dặn ta đừng chiếm
Biển Đông này là của chung…

Nghe lời ASEAN ta ngoan
Ta không chiếm một đảo, đá nào
Khoe sắc thắm nhìn ta đảo cười
Ta nhớ lời ASEAN dặn không chiếm
Biển Đông này là của chung….’

Gợi ý Hai. Danh xưng của vùng biển này đôi khi dễ sinh sự sự sinh. Danh còn tùm lum chưa chính được, ngôn thuận sao cho nổi? Ngắn gọn: cho tới nay, Trung và nhiều nước thường gọi đấy là ‘biển Nam Trung Hoa’/’South China Sea’; tiếng Việt dịch tắt là ‘biển Nam Hải’). Còn người Việt từ xưa đến nay đều thủy chung gọi là ‘biển Đông’; như ghi dấu ấn văn hóa và lịch sử Việt, qua thành ngữ ‘Dã tràng xe cát biển Đông…’ hay tục ngữ ‘Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn/ Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông’…
Nay, bằng tất cả ý thức dân tộc, tinh thần cộng đồng và trách nhiệm nhân loại, chúng tôi mạnh bạo và da diết đề nghị phía Đại Việt dũng cảm và cao thượng đề xướng lên ASEAN phương án đặt tên mới là ‘biển Đông Nam Á’ thay vì ‘biển Đông’ của người Việt.
Tiến tới trở thành danh chính, để vượt thắng dư luận và bôi trơn thói quen, ít nhất danh xưng ‘biển Đông Nam Á’/ ‘Southeast Asian Sea’ thoạt tiên cần được dùng trong tài liệu và ngôn luận chính thức của ASEAN (Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á/ Association of Southeast Asian Nations). Và, khẩu hiệu tuyệt vời đang có của ASEAN sẽ trở nên trên cả tuyệt vời khi có thêm cơ sở địa thủy ‘một vùng biển’ của nó. Đây, trên cả tuyệt vời đó là: ‘Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng, một vùng biển’”.
Trời biển ơi! Suốt thời gian tham luận xen kẽ giải đáp chất vấn của diễn giả Vinh Sinh và bài hát ‘Biển Đông này là của chung’ được tứ ca rất đằm thắm và vui nhộn, cả hội trường đã nhiều lần rung động như Biển Đông giữa các tháng ngày giàn khoan 981. Đến phút chót 250 con người ấy lại rầm rộ cả lên bằng hàng chục thứ tiếng với các từ “Biển Đông Nam Á - ASEAN! Hoan hô! Vinh Sinh - 12 đồng tác giả! Hoan hô!”
Các buổi sau, Hội thảo tuy không sôi động bằng buổi đầu song cũng không hề bằng lặng. Chuyện Biển Đông, ý lộn, biển Đông Nam Á, mà lị…
Tiến sĩ Nông Hồn, nữ Giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải (Trung):
“Liệu chúng ta có thể hy vọng khai thác, đánh cá chung trong khi chưa giải quyết được tranh chấp trên biển? Trung rất muốn tăng cách tiếp cận của mình với luật lệ quốc tế. [À há, thế ra Trung có luật Trung, quốc tế có luật quốc tế; Trung là Trung, quốc tế là quốc tế, phải không mợ Tiến sĩ?] Lúc này, cần ngăn cản không để Chủ nghĩa dân tộc xảy ra thái quá!” [Quá đúng, chỉ nên để cái chủ nghĩa đó xảy ra vừa vừa phai phải thôi. Buồn tình thì thảy giàn khoan vô biển nhà hàng xóm, chán lại lôi về.] Nhân dịp hội nghị quý hóa này, tôi kêu gọi các nước bạn cần phải tìm hiểu hơn về Trung. [Hiểu rồi, hiểu từ ngàn năm nay rồi, mợ ạ!] Trung đã và sẽ không chấp thuận Tòa trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp Trung-Philippines, vì như thế kẻ được người thua. [Ơ hay, giả sử mợ thò vào túi tôi lấy đi mất 10 đô. Tôi thưa mợ ra ông tòa, mợ không chịu mà đòi hai ta chia đều cho hòa: tôi 5 đô, mợ 5 đô để khỏi ‘kẻ được người thua’?]

Đô đốc Jagmeet Singh, cựu Tư lệnh Hải quân miền Đông Ấn Độ:
“Theo hướng xấu hơn, không khí địa-chính trị tại Biển Đông chắc chắn đã thay đổi trong 5 năm qua. Nếu Trung cứ tiếp tục cứng rắn với yêu sách của họ và hung hăng trong cách cư xử thì những leo thang với các nước láng giềng sẽ đi đến thất vọng và bất đồng. Khiến các nước ASEAN mở chiến dịch hiện đại hóa và phát triển quân sự. [Chỉ tổ béo mấy cha nội đầu nậu và lái buôn súng ống!]
“Một cuộc chạy đua vũ trang mới trên đại dương đang hiển lộ. Cách đi của ‘nước lớn’ Trung tạo ra 2 thái độ từ các nước nhỏ có chung biên giới biển: a. Dù muốn dù không cũng phải học cách tiếp nhận sự tham gia của quân đội Hoa Kỳ tại nước mình và trong khu vực; b. Tìm sự công bằng qua Tòa công lý quốc tế hay Tòa trọng tài, bởi mọi kênh giải quyết đa phương giữa các bên tranh chấp hết hiệu quả.” [Bác Chà Và nầy nói phải: dân Việt chúng tui có câu Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy.]

Giáo sư người Đức Jonathan Berlin thuộc Trung tâm Đông Nam Á trình bày thẳng bằng tiếng Việt:
“Từ vụ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Đại Việt cho đến việc xây trái phép bãi ngầm Gạc Ma thành một ‘đảo nổi’ - có thể xem là chuỗi yếu tố vô trách nhiệm trong chiến dịch lớn hòng thay đổi bộ mặt Biển Đông theo ý muốn của Trung Nam Hải. Các đảo, đá lớn nhỏ tương tự mà có sân bay hải cảng sẽ biến thành những hàng không mẫu hạm của Trung không thể bị bắn chìm. [Rõ quá rồi còn gì!] Tôi phải nói thật là rất tiếc khi nhiều khả năng cộng đồng quốc tế không làm sao bắt buộc Trung ngừng hành động vô tiền khoáng hậu như thế trong lịch sử hình thành trái đất!? [Ha ha… Phát kiến mới về địa lý của vị Giáo sư giỏi tiếng Việt!] Nhưng điều đó càng không có nghĩa các quốc gia liên đới không phản đối và yêu cầu phía Trung giữ các cam kết.
Cho phép tôi dùng hình ảnh để so sánh: Nếu giàn khoan HD-981 là một cố gắng của Trung khi thay đổi tình trạng với động thái di chuyển một ‘đảo nổi di động’ qua vùng biển của Đại Việt, thì việc tự xây tạo ở Gạc Ma là một cố gắng sinh ra ‘đảo nổi cố định’. Cả hai hành động cũng là một cố gắng để quân sự hóa vùng Trường Sa. [Trên cả tuyệt vời!]
Cuối cùng, điều hết sức quan trọng về tình cảm mà người Việt thấy nhưng quốc tế ứ chịu thấy: những hành động đang xảy ra ngay tại nơi 64 chiến sĩ Hải quân Đại Việt hy sinh năm 1988 đã khoét vết thương vốn rất sâu trong lòng dân Việt thêm một lần nữa, sâu thêm.’ [Muốn khóc quá, anh Jonathan ơi! Hai bông hồng thắm dành cho anh…]

Đến từ Đại học Chính trị Singapore là Phó giáo sư Joci You:
“Tôi đề nghị nên coi các sự kiện sau đây như ‘trận chiến ngầm’ mới nhất và đang diễn tiến: Dù đã xảy ra trong quá khứ với tiến độ chậm, nay Trung đang thúc mạnh việc mở rộng 6 đảo, nguy hiểm nhất là đảo đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa. Các công trình lấn biển ở Hoàng Sa cũng có quy mô ngày càng rộng lớn; như cảng ở đảo Phú Lâm được tái thiết kế để tàu sân bay trú ẩn trong tương lai rất gần; với đường băng trên đảo đang được mở rộng và kéo dài, các phi cơ vận tải, quân sự, phi cơ cảnh báo sớm và chỉ huy trên không, thậm chí cả phản lực sẽ có thể cất hạ cánh trên đảo. Tức là đang hình thành một vòng cung móng ngựa chặn họng quần đảo Trường Sa hướng vào Đại Việt, cũng như hướng ra eo biển Malacca. Vâng, thưa quý vị, mấy bữa nay tôi máy mắt liên hồi. Vẻ như các ‘hành động thật’ ấy có thể là ‘động tác giả’ cho một ‘trận chiến nổi’ nào đó chăng?” [Lại “nhân bảo như thần bảo” rồi. Chờ 2 ngày nữa Giáo sư sẽ thấy…]

                              (còn tiếp)



Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 90

6/
                               (tiếp theo)

Nghe Yến nói đến đây, anh Khảm đột ngột kéo ghế, đứng lên và bước hẳn ra ngoài quán mà không nói thêm lời nào. Tôi trố mắt nhìn theo bóng anh, lòng bối rối... không biết phải nói phải làm gì khi bên tai nghe tiếng nấc nho nhỏ của chị Phượng. Cũng may là bản thân mình không hút thuốc lá. Nếu tôi hút thuốc lá như anh Khảm hay thằng Đỉnh... thì sẽ không biết phải xử trí như thể nào trước hình ảnh vừa xảy ra trong tối hôm nay. 

Trong chốc lát, tôi rời bàn, đi nhanh ra ngoài quán để tìm anh Khảm. Kia rồi anh đang đứng bên vệ đường mặt hướng về phía con lộ dẫn ra biển bị che khuất bởi bóng đêm. Anh đứng đó, hai tay thọc vào túi quần trong yên lặng. Tôi lại gần, khẽ lắp bắp:

- Đâu ai ngờ... Chuyện lại như thế há anh... Thôi...

Tôi im bặt khi nghe tiếng nấc của anh Khảm bật lên run run như muốn nói điều gì mà mắc nghẹn trong cổ. Tiếng nấc nhỏ rồi to hơn thành tiếng khóc ai oán như hối lỗi vì chuyện do anh làm, đã tạo ảnh hưởng không hay cho chị Phượng. Anh khóc vì buồn và anh đã khóc ngon lành. Hẳn vậy vì tôi đã từng nghe anh thổ lộ chỉ mong khi rời trại, cả anh lẫn chị Phượng sẽ lên đường định cư trong cùng một ngày. " Sống thì cùng sống, đi thì cùng đi... Ở đâu có anh thì phải có chị... dù là đi định cư khác nước ". Giờ đây, cảnh anh Khảm sẽ đi, chị Phượng phải ở lại trại một mình mà nguyên do cũng từ bản thân anh gây ra nên anh buồn hay vì sự chia tay sẽ thấy trước mắt chẳng còn xa như tôi đã bắt gặp tâm trạng anh trong chuyến đi Tanjung Pinang vừa rồi. Anh Khảm vẫn đứng yên chỗ khi tôi đã ở bên cạnh và không buồn che dấu hình ảnh mềm yếu của bản thân nữa. Cứ khóc, có chảy nước mắt thì lòng mới vơi đi cái buồn tối nay. Tôi chia xẻ tâm trạng của anh và của chị Phượng.

Vài người khách đến quán khi thấy hai chúng tôi đứng yên trong bóng đêm nên đã nghi ngại khi họ vừa rảo chân bước vừa ngoái đầu nhìn lại. Thấy dáng vẻ của họ, tôi liền kéo tay anh Khảm quay vào quán và trở lại cái bàn cũ. Yến và chị Phượng vẫn ngồi yên trong chỗ như đang chờ đợi hai chúng tôi. Hai ly nước của tôi và Yến do người hầu bàn mang ra để bên cạnh hai ly nước của anh chị Khảm-Phượng gần đó mà tất cả vẫn còn nguyên vì chưa ai đụng đến. Để phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, tôi cầm lấy ly nước của mình, khẽ khuấy chiếc muỗng và nói:

- Lần đầu tiên mới thấy anh Khảm khóc... Khóc thật tình, ngon lành. Bây giờ em mời anh chị dùng nước, Yến uống nha Yến.

Tôi nhìn chị Phượng và Yến. Ánh sáng trang trí mờ mờ ảo ảo của sân quán cà phê Dạ Lý còn soi rõ các vệt nước long lanh trên mí mắt họ. Chị Phượng lấy tay chậm vào mũi, khẽ đáp lời như một hờn dỗi:

- Anh Khảm mà khóc gì Vũ ơi... Người như gỗ như đá... Có biết thương ai mà thật tình.

Bàn chân của Yến khẽ đá nhẹ vào tôi như một hiệu lệnh ngầm. Đưa mắt nhìn sang, khóe mắt của nàng cũng đảo nhanh với tôi. " Thôi mình nên yên lặng, ngồi im uống nước cho chắc ", tôi nhủ lòng. 

Tối hôm nay, không hiểu sao phòng bên trong quán cà phê Dạ Lý lại đông khách hơn thường ngày. Tôi định nói ra điều đó cho anh Khảm biết thì thấy bác sĩ Luân đi cùng với một người nữa đến thẳng bàn của nhóm chúng tôi và đứng lại. Anh Khảm lấy ngay vẻ bình thường hàng ngày, cất giọng:

- Ô! Anh Luân... Khỏe chứ.

- Bình thường! Cảm ơn anh. Có chuyện này tôi muốn cho quý vị biết. 

Bác sĩ Luân cười sau câu nói mang vẻ trịnh trọng với nhóm chúng tôi rồi chỉ tay vào người đi bên cạnh, ông tiếp từng đoạn ngắn:

- Xin giới thiệu đây là anh Phước, chủ nhân mới của quán Dạ Lý... Đây là anh Khảm, chị Phượng... Và đây... Cậu Vũ, cô Yến... Đều là khách ruột của quán mình đó Phước.

Thì ra bác sĩ Luân đã sang lại quán cà phê Dạ Lý cho người khác. Vậy ra ông cũng sắp lên đường định cư! Chuyện thật bất ngờ vì trong danh sách định cư mà phòng thông tin của ban Đại diện trại đọc trong mấy đợt rồi, chúng tôi đâu có nghe thấy tên ông. Cầm chân ông và người tên Phước ngồi lại bàn nước, anh Khảm nói ra điều đó thì ông bác sĩ cười, trả lời:

- Mấy cái list định cư anh nghe đọc trên loa là dành cho người đậu thanh lọc thôi, còn mình đến trước ngày đóng cửa mà có danh sách danh siết gì. Họ dìm mình ở trại lâu quá rồi giờ phải cho lên đường chứ anh. Phải không nào?

Bác sĩ Luân cho biết trong mấy đợt ghe nhập trại tị nạn Galang vừa qua may mắn đã có hai thuyền nhân là bác sĩ nên có lẽ nhờ vậy mà phòng An ninh P3V mới chịu nhả ông ra cho đi định cư. Như đã kể ở các đoạn trước, bác sĩ Luân nguyên là bác sĩ quân y thời miền Nam VNCH và khi Việt Cộng vào được Sài Gòn thì chúng bắt ông tù cải tạo gần 3 năm trời rồi mới được trả tự do để phục vụ tại nhà thương Chợ Rẫy như một trao đổi cá nhân, có đi có lại. Sau hơn chục năm làm việc trong chế độ mới, ông vượt biên đến trại tị nạn Galang trước ngày đóng cửa và đúng lẽ là người tị nạn không vướng lưới thanh lọc của Cao Ủy, bác sĩ Luân đã định cư bên Pháp từ lâu nhưng vì cần người chữa bệnh, hồ sơ của ông bị phòng An ninh P3V giữ lại cho đến bây giờ. Hai bác sĩ mới đến trại đã thế chỗ của ông thật đúng lúc. Mừng cho ông sẽ xổ lồng nay mai. Nghe tiếng cười, lời nói đầy âm hưởng vui vẻ của ông, tôi nghĩ chắc hẳn ông sẽ rất mừng khi nghĩ giờ phút rời trại chỉ trong nay mai. Nào ngờ, ông quay ra nói với anh Khảm:

- Khi còn kẹt ở đây thì tôi mong cho chóng đến ngày đi định cư, giờ ngày đó sắp đến thì mình lại buồn. Tôi chẳng hiểu lòng mình sao nữa? Còn anh. Tôi nghe loa đọc tên anh trong list định cư rồi, có cảm giác như tôi không hả anh Khảm?

Anh Khảm ngồi im. Có lẽ chuyện buồn vừa rồi với chị Phượng vẫn chưa tan biến trong lòng nên anh khẽ lắc đầu và chỉ đáp lại bằng nụ cười với bác sĩ Luân. Bác sĩ Luân lại tiếp:

- Ở Galang này lâu ngày tự nhiên tôi thấy mến cảnh và mến người... Đi sang Pháp bây giờ cũng cực lắm. Không biết trình độ của hai tay bác sĩ mới nhập trại ra sao? Ghe đến tới tấp nên cả hai Galang 1 và Galang 2 hiện giờ nhiều bệnh nhân quá. Kỳ thật! Hồi xuống ghe bỏ nước vượt biên, tôi cũng có cái cảm giác tiếc tiếc, nhớ nhớ, lo lo... như với bệnh nhân của mình ở đây. Ai sẽ chăm sóc cho họ?

Sống cu ky một mình ở trại mà bác sĩ Luân còn có tâm trạng lưu luyến với bệnh nhân như thế thì trách chi anh Khảm phải nặng lòng cùng chị Phượng. Dầu gì thì họ cũng là một đôi từng chia xẻ ngọt bùi với nhau từ khi còn ở trong trại tuốt sâu trong rừng bên Mã Lai. Một miếng khi đói bằng một gói khi no lại thêm trong cảnh hương lửa mặn nồng, sớm tối bên nhau nữa. Anh Khảm đã buồn khi thấy việc chia tay với chị Phượng trước mắt và đã vừa khóc vì chuyện đó nhưng lại lắc đầu phủ nhận với câu hỏi của bác sĩ Luân. Tôi nhìn sang Yến thăm dò thì bắt gặp nàng kín đáo lấy tay che miệng cười. Chợt ông tên Phước cất tiếng nói như lời làm quen:

- Tôi rất vui khi biết các anh chị tối nay ở đây... Mong gặp mặt ở quán thường xuyên để ủng hộ tôi nha.

- Đừng lo, bác sĩ vừa nói rồi anh à, tụi tôi là khách ruột của quán. Có uống cà phê cũng chỉ ghé ở đây là chính. Tôi thay mặt cả nhóm, đáp lời.

Hỏi thêm thì chúng tôi biết bác sĩ Luân sẽ rời trại 3 ngày sau chuyến định cư của anh Khảm. Nhân có mặt bác sĩ Luân tại bàn nước, tôi nói lời cảm ơn với ông vì đã giúp trong việc khám bệnh cùng cho thuốc điều trị trong thời gian vừa qua. Ở Galang 1, ngày nào thì nhà thương cũng chỉ phát giới hạn có 100 phiếu khám bệnh nên khi cần thì thuyền nhân phải xếp hàng mới có. Dòng người đứng xếp hàng đã bắt đầu từ 4, 5 giờ sáng nên khó mà lấy được phiếu nếu như dậy trễ. Nhờ quen được với bác sĩ Luân nên mỗi khi bị bệnh, tôi và Yến chỉ cần đến trước cửa phòng của ông tại nhà thương. Thấy hai đứa tôi, ông sẽ dẫn ngay vào để khám trước, khỏi cần phiếu. Tôi vẫn nhớ lời nói của bác sĩ: " Galang đông người quá, trăm phiếu phát ra không đủ cho nhu cầu người cần. Hồi tôi mới đến trại, nhà thương hầu như trông có người đến khám bệnh mà có thấy mấy ai đâu ". 

Cuộc trò chuyện đã làm tan biến cái buồn trong lòng, chị Phượng cất miệng hỏi với ông bác sĩ:

- Anh sang quán rồi sổ phong thần tính sao. Có bàn giao cho chủ nhân mới không?

Sổ phong thần là quyển sách ghi tên khách thiếu nợ tại quán. Ngồi quán cà phê là thói quen của thuyền nhân trong trại vì thực tế họ chẳng biết phải đi đâu trong các buổi tối hay khi gặp bạn bè, cần chỗ để trò chuyện riêng. Quán cà phê là chỗ lý tưởng nhất nhưng đến quán thì phải gọi thức uống mà có lúc trong túi lại cạn tiền, khô máu. Đành ghi sổ nợ, hẹn khi có sẽ gửi trả sau mà nguồn tiền lại lệ thuộc vào thân nhân ở nước thứ ba gửi giúp. Thân nhân không giúp nữa, thuyền nhân sẽ sạch nhẵn túi nhanh chóng và phải ghi nợ. Quán bán hàng ở Galang nào cũng đều có sổ phong thần và người thiếu nợ càng nhiều thì sổ đó càng dầy hơn. Chủ quán thường phải theo dõi thông báo của phòng phát thư bảo đảm PKL trên loa phóng thanh để biết khách nợ vừa nhận được tiền thân nhân gửi mà kịp gặp mặt đòi ngay. Khách nợ sắp rời trại đi định cư, may ra chủ nợ còn đòi được tiền thiếu nhưng người hồi hương về nước thì cầm chắc sẽ bị mất không. Chấp nhận hồi hương, thuyền nhân con nợ đó coi như đã thua canh bạc vượt biên thì họ còn gì trong tay để mà sòng phẳng với chủ nợ. Họ làm mặt lì mà chủ nợ đành chịu, cười trừ. Phòng An ninh P3V hầu như không can thiệp vào chuyện nợ nần của thuyền nhân trên đảo. Chủ nợ có gửi đơn thưa với Cao Ủy thì cũng nhận được câu trả lời không xét đến các giao dịch cá nhân của thuyền nhân. Tự giải quyết lấy với nhau. Sổ phong thần là chuyện chẳng đặng đừng mà bất cứ chủ quán hàng nào ở Galang cũng biết mà không tránh được. Bác sĩ Luân nghe chị Phượng hỏi, ông lắc đầu và ngập ngừng đáp lời:

- Không! Coi như bỏ luôn... Họ cũng không có tiền... Trại tị nạn mà chị.

Ngày anh Khảm lên đường, như một gặp gỡ lần cuối, từ sáng sớm tôi, Yến, Bẩy cùng Đỉnh đã đến chỗ ở của hai người họ trong zone 3. Đến trước cửa barrack thì kịp thấy anh Khảm cùng mấy người học trò đang nói chuyện với nhau. Thấy nhóm chúng tôi, mấy người học trò đó cáo từ anh Khảm rồi bỏ về ngay. Trên cái sạp gỗ chung của barrack, chị Phượng đang làm các ổ bánh mì nhồi thịt nguội cho cả nhóm ăn sáng. Anh Khảm quay qua nhóm chúng tôi nói:

- Ăn chút đồ lót dạ nha mấy em. Có cà phê sẵn đây rồi mình khỏi cần ra quán làm chi mất công. 

Bữa ăn sáng kết thúc chóng vánh. Anh Khảm kiểm tra lại cái va li giả da đựng hành lý của mình rồi đi gặp từng người trong barrack để chia tay. Chị Phượng cho chúng tôi biết cũng có một ông sống chung trong barrack sẽ lên đường đi Úc ở chuyến định cư ngày kế tiếp. Chị nho nhỏ thêm lời:

- Barrack đông người vậy mà đậu thanh lọc chỉ được một số ít đếm được. Lên đường định cư hôm nay, anh Khảm nói cũng rất ngại khi phải đi chào từ biệt họ. Sợ họ lại buồn, hiểu lầm mình. Vài tháng nữa chị cũng sẽ ra khỏi barrack như anh bây giờ. Mong rằng Cao Ủy sẽ có một thay đổi tốt đẹp cho những người còn ở lại.

Nhìn lại barrack một lần chót, anh Khảm khoát tay ra dấu cho cả nhóm chuẩn bị lên đường. Đỉnh lấy tay xách cái va li giả da đựng hành lý, buột miệng với anh Khảm:

- Để em lo cái va ly này nha thầy. Thầy vác nó vô tới trỏng, mồ hôi mồ kê ướt hết quần áo có mà chết dở.

Tôi bước lại bên Đỉnh, lấy tay thử cầm vào cái va li của anh Khảm, ước thầm trọng lượng. Tưởng nhẹ nhưng nó lại khá nặng. Hành lý bên trong là những thứ gì khi tôi nhớ lời anh nói ở bến tàu Tanjung Pinnang sẽ chỉ mang vài bộ quần áo trong ngày rời trại đi định cư! Đỉnh giúp cho anh Khảm thật đúng lúc. Đường từ đây vô tới điểm đón người định cư ở tuốt trong Galang 2 đâu có gần, nội cái đi bộ không thôi cũng đã mệt lừ người huống chi lại phải vác nặng. 

Chúng tôi đi bên nhau băng qua lòng barrack này rồi thông qua barrack khác để ra hẳn bên ngoài hàng rào tôn của zone 3. Trên con đường nhựa sáng hôm nay, bất cứ ai nhìn vào nhóm chúng tôi cũng biết có người rời trại đi định cư nước thứ ba. Yến và Bẩy đi cạnh chị Phượng còn tôi với Đỉnh thì rảo bước sát bên anh Khảm. Trời có mây nên che bớt ánh nắng buổi sớm mai và có lẽ vì vậy nên ai cũng cảm thấy hơi lạnh. Vài nhóm tiễn người đi định cư đi trước và cũng có một bọn khác theo sau chân chúng tôi xa xa. Anh Khảm gật đầu thay lời nói với một người đàn ông đứng trước cửa căn chòi nhỏ cạnh bên đường khi hỏi: " Đi Mỹ phải không? ". Ngang chân đồi nhà thờ Công giáo Galang, vượt qua các barrack lá của zone 2 và zone 1 nằm sát bên vệ đường, chúng tôi từ từ từng bước lên con dốc có tượng Mẹ Bồng Con. Chính nơi này, buổi tối hôm nào khi từ buổi dạ hội Đêm Không Gian Hội Ngộ ở quán cà phê Đại Dương trở về, nhóm chúng tôi đã một phen hốt hoảng khi nhìn thấy các đốm lửa xanh lè xuất hiện đột ngột ở cây đa cổ thụ ven đường. Cây đa vẫn còn đó với cái bóng um tùm tôi tối cùng các chùm rễ lòng thòng từ ngọn cây xỏa xuống như những lọn tóc xoăn của phụ nữ. Bước các bước chân lên con dốc có khu mộ địa của các thuyền nhân xấu số mà người trong trại gọi là Galang 3, anh Khảm đột nhiên dừng chân lại, đứng yên lặng trước các bậc thang dẫn đường vào cửa và đọc lầm thầm các lời kinh cầu. Là đồng đạo, chị Phượng và Yến cũng yên lặng làm theo anh Khảm. Tôi, Đỉnh và cô Bẩy đứng yên im lặng chờ, dõi mắt nhìn toàn cảnh chung quanh của khu vực. Đối diện nghĩa địa giờ đây đã có thêm khu đền lộ thiên với tượng thờ Đức mẹ Nữ vương do thuyền nhân đạo Thiên Chúa giáo tại trại tị nạn Galang lập ra trên một mỏm đồi thấp. Những mái chòi của thuyền nhân ẩn hiện sau các hàng cây rừng dưới chân đồi chung với các dậu cây, luống rau trái, dàn bầu bí... Chúng tôi thả dốc, băng qua nhà nguyện của Hội Thánh Tin Lành rồi lại vượt khỏi các barrack lá khác nằm gần một con suối cắt ngang qua đường nhựa. Đây là các barrack lá đầu tiên của Galang 2 thuộc zone B. Từ con đường nhựa, chúng tôi đi qua zone A hay còn gọi là zone biệt lập vì là nơi tạm trú của người đi trong các chiếc ghe đầu tiên đến trại sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa để chính thức thi hành chương trình thanh lọc. Zone A này nay không còn biệt lập nữa khi con số thuyền nhân đến trại ngày càng nhiều để có thêm các barrack lá, chòi và quán xá bán hàng... mới mọc thêm ở chung quanh.

Nghe Đỉnh thắc mắc không biết chuyến bay chở người định cư Hoa Kỳ sẽ đón thuyền nhân đi chung trong chuyến bắt đầu ở đâu thì anh Khảm vừa đi vừa nói:

- Anh nghe thằng Hoài Bảo làm ở phòng định cư kể là chuyến của anh đi hôm nay sẽ được Cao Ủy sắp xếp đón bằng cái tàu cao tốc dịp mình đi Tanjung Pinang trước hết. Sau đó, tàu cao tốc chạy sang đảo Batam rồi từ BaTam, chuyến của anh sẽ đi bằng máy bay sang Singapore. Đến Singapore lại phải đổi sang máy bay khác đi Nhật... Hình như ghé vào phi trường Narita hay Tokyo rồi kế đó sẽ bay vòng lên gần Bắc Cực để đảo xuống Hoa Kỳ. Đấy là chuyến dành cho những người đi vùng Bắc Mỹ như CANADA hay Hoa Kỳ như chuyến của anh. Chuyến đi Âu Châu như định cư ở Anh quốc, Tây Đức hay Pháp, Bỉ... thì hành trình sẽ khác. Máy bay sẽ ghé Bangkok lấy thêm người ở trại Sikiew hay bên Sungei Besi ở Mã Lai chuyển sang. Từ Bangkok, máy bay sẽ vượt qua các nước trong vùng trung Á để thẳng đường đến Âu Châu cho gần. Đi Úc đi New Zealand, chuyến bay thường từ Batam chuyển tiếp sang Singapore nhưng cũng có khi lại thẳng một lèo đến thủ đô Jakarta. Từ Jakarta, sẽ đổi máy bay khác để đi tiếp tới Úc hay New Zealand là hoàn tất. Anh nghĩ Cao Ủy sẽ sắp xếp người đi chung với phi trình thương mãi của các hãng hàng không nào mà họ thấy tiện nhất cho cả các bên liên quan. Tất nhiên khi phi trình càng ngắn, máy bay chứa đủ khách thì càng có lợi cho các hãng hàng không mà chính vì vậy, có khi máy bay phải quá cảnh qua nhiều phi trường. Nghe kể thì nghĩ gặp phi cơ ghé vào nhiều chỗ sẽ thích thật vì biết thêm nhiều nơi. Nghĩ vậy nhưng trong thực tế, có là hành khách của các chuyến bay đó, mình sẽ rất mệt.

Điều anh Khảm nói ra, chúng tôi mới biết. Thảo nào các chuyến đi định cư đều khác nhau về số lượng người rời trại. Chuyến nhiều, chuyến ít người định cư cũng do từ đây. Anh Khảm lại nói:

- Trước kia thì anh nghĩ khi đến Hoa Kỳ, máy bay sẽ phải ghé vào phi trường Travis là cái phi trường anh đã đến hồi đi tu nghiệp thời còn chế độ cũ. Khi đó, anh đã thấy phi trường Travis nó rộng gấp mấy lần so với Tân Sơn Nhất bên mình. Rộng mênh mông nhưng Travis lại không thấm vào đâu khi so sánh với phi trường Los Angles... Máy bay nào đến Hoa Kỳ bên bờ phía Tây đều hầu như sẽ đáp xuống phi trường Los Angles này và chắc chắn, chuyến của anh hôm nay cũng sẽ ghé vào. Los Angles Airport là một trong các phi trường lớn nhất nước Mỹ mà nhất của nước Mỹ thì khác gì nhất của thế giới.

Chúng tôi băng qua cây cầu gỗ dẫn vào nhà thờ Đức mẹ Vô Nhiễm để đi tắt đến chỗ tập trung trước cửa phòng khám bệnh IOM của Cao Ủy. Phòng IOM nằm đối diện với dãy nhà của các phái đoàn nhận người định cư, phòng JVA đại diện chính quyền Hoa Kỳ tại trại. Ngày đi định cư nào cũng là ngày hội vui của những thuyền nhân may mắn nhưng cũng là ngày buồn cho những ai còn phải kẹt lại trong trại. Từng nhóm người đứng chùm nhum đây đó với nhau trong sự yên lặng hay nói cười rộn rã. Vài nhân viên An ninh P3V cùng các police địa phương trong bộ đồng phục quần xanh-áo tím-mũ beret đen đứng yên lặng giữ trật tự bên lề đường, vô cảm nhìn đám thuyền nhân chúng tôi. Anh Khảm tách ra khỏi nhóm để gặp các bạn quen cùng binh chủng không quân đang đứng chung với nhau cạnh bụi cây dứa dại trước cửa văn phòng IOM. Tôi cũng rảo chân đây đó và một khuôn mặt quen với tôi trong đám đông đã giơ tay chào như một biểu lộ thân quen. Tôi tiến đến thì ra là ông Thành. Tôi quen ông Thành qua lời giới thiệu của anh Khảm ở buổi dạ vũ tại quán cà phê Đại Dương và đã đi cùng ông để gặp anh Đoàn Thạnh Nam trong các tháng trước. Nhìn bộ quần áo mới toanh ông mặc trên người cùng cái va ly để kề bên chân, hôm nay cũng là ngày ông rời trại. Tôi bước đến, bắt tay chúc mừng ông thượng lộ bình an. Ông cười thật tươi rồi nhỏ nhẹ nhắc lại chuyện cũ.

- Tui cảm ơn chú em tối hôm đó tiên đoán sẽ đậu thanh lọc. Chú em ở lại, mong sẽ may mắn qua được thanh lọc như tui, như anh Khảm... Chú em gặp được Đoàn Thạnh Nam là ổn rồi. OK. May lắm đó đa.

Tôi mỉm cười xác nhận với lời ông Thành. Thực sự thì chưa ổn đâu nhưng đúng là gặp may vì nhờ các điều anh Đoàn Thạnh Nam kể, tôi mới có thêm các hiểu biết về chuyện thanh lọc. Sau buổi gặp gỡ ở quán cà phê Gió với anh hôm đó, tuy chưa biết mình sẽ phải sắp xếp như thể nào trong bản hồ sơ lý lịch Cao Ủy của cá nhân mình, nhưng tôi biết vài người trong barrack có thể sẽ bị rớt thanh lọc khi nghe họ nói khai như thế này, thế kia... Biết vậy nhưng không thể góp ý hay nói cho họ lý do tại sao nên hay không nên khai như thế vì chắc gì người ta đã tin lời mình. Chưa ổn là vì vẫn không biết phải khai thế nào trong bản lý lịch cũng như khi gặp mặt luật sư Cao Ủy để cầm chắc sẽ lấy được vé đậu. Hôm nay là lần chót gặp ông Thành nên tôi định sẽ trò chuyện thêm thì một giọng đàn bà chen vào:

- Anh ơi! Xe tải sắp đến rồi... Em buồn lắm... buồn lắm.

Tôi ngước ngang nhìn, một phụ nữ trạc tuổi với chị Phượng trong tay cầm chiếc khăn nhỏ chậm lên mắt... tiến đến sát bên ông Thành. Chị nhìn tôi, gật đầu chào rồi quay qua ông Thành trong tiếng sụt sùi. Tôi bỏ hai người họ, lách qua đám đông để về lại chỗ cũ của cả nhóm. Khu vực này bây giờ thật đông người trong tiếng cười nói, gọi nhau í ới và cả tiếng khóc... như một cái chợ lộ thiên. Có những cặp nam nữ tự nhiên ôm ấp, tay trong tay với nhau bất kể đang hiện diện trước bao cặp mắt của người khác. Phút cuối gặp nhau ở đây, còn gì để họ phải ngại ngùng, phải sợ sệt. Tôi đi qua người này, người kia và nghe tiếng gọi tên mình. Quay mặt nhìn, tôi thấy Yến đứng chung với anh chị Khảm-Phượng cạnh bên cổng gỗ nhỏ tam quan dẫn thẳng vào chùa Kim Quang. Tôi bước lại gần, định cất lời hỏi vì không thấy Đỉnh và cô Bẩy đâu thì vội im bặt khi nhìn thấy những con mắt sũng nước của anh chị Khảm-Phượng. Giờ biệt ly của họ sắp đến rồi khi một nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại cầm chiếc loa tay chạy bằng pin nói lớn:

- Đồng bào có tên trong danh sách chuyến định cư Hoa Kỳ sáng nay chú ý, chú ý... Xe tải của phòng An ninh P3V sắp sửa đến đón đồng bào ra cầu tàu trong chốc lát. Yêu cầu đồng bào tập trung trước phòng khám IOM ngay. Xin tập trung chờ sẵn sàng, sẵn sàng.

Tiếng ồn ào từ đám đông nổi lên chung với một đoạn nhạc quen thuộc tai tôi đã từng nghe trong ngày đầu tiên khi cả nhóm theo chân anh chị Khảm-Phượng đi vào Galang 2 của buổi đầu mới nhập trại. Đoạn nhạc mà anh Khảm từng nói mỗi lần trong trại có chuyến định cư thì thể nào phòng thông tin sẽ phát thanh cho thuyền nhân nghe như một lời chúc mừng. Những đoạn nhạc mới ngày nào anh Khảm ao ước sẽ được nghe cho riêng đời mình thì giờ đây, đang nhẹ nhàng, chầm chậm trôi trong tiếng loa. When will I see you again... When will we share precious moments... Will I have to wait forever or will I have to suffer and cry the whole night through... Are we in love or just friends... Is this my beginning or is this the end... Ca sĩ Thomas Andres đã thay cho anh chị Khảm-Phượng cũng như những người sắp rời trại khác để phả trong làn gió các lời nhạc dịu dàng, êm ả, nhắn nhủ với nhau. Ta đã yêu hay chỉ là bạn... Là lần đầu hay lần cuối... Biết bao giờ mình sẽ gặp lại...

Lời nhạc thật buồn trong cảnh chia tay hôm nay. Tiếng loa trong tay nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại lại cất lên, nhắc nhở người định cư tập trung ngay tại khu vực càng làm cho những người sắp sửa rời trại hối hả trao đổi với thân thuộc mình bằng lời nói, bằng tiếng khóc cùng các giọt nước mắt như thể họ sẽ không còn kịp thời gian, cơ hội ở bên nhau nữa. Không đường ray song hành, không các toa xe lửa cùng tiếng còi tàu thúc giục hành khách nhưng rõ ràng, tôi đang đứng ở một sân ga với cảnh biệt ly người đi, kẻ ở lại. Cảnh biệt ly ai cũng biết rồi ở phương trời xa nào đó, mấy khi họ sẽ gặp cố nhân... thêm lần nữa trong đời.

Tôi nhìn anh chị Khảm-Phượng như nhắc nhở cho hai người biết khi có tiếng chiếc xe tải chạy đến gần. Đám nhân viên An ninh P3V cùng police địa phương túa ra ổn định trật tự để chiếc xe tải dễ dàng chạy vào đúng vị trí đón khách. Giờ chia tay đến rồi, hai người họ chỉ còn khóc với nhau thay cho lời tiễn biệt. Yến nhìn tôi trong đôi mắt đỏ hoe, ràn rụa lệ như thể sắp sửa bước lên chiếc xe tải để rời trại, bỏ tôi ở lại một mình. Tôi đến bên nàng, nói đùa:

- Làm gì khóc dữ vậy... Người ta đi định cư còn chưa bằng em kìa? Thằng Đỉnh, cái Bẩy trông thấy lại cười cho đấy. 

Yến dễ khóc thật. Tôi nghĩ vậy nhưng chợt nhớ có lần anh Khảm đã nói những người khóc ngay được trước các nghịch cảnh của người khác, lòng họ rất hiền vì có tâm hồn. Anh Khảm đã từng bảo Yến là người có tâm hồn và tôi may mắn đã gặp. Tôi từng thắc mắc, muốn anh Khảm giải thích người có tâm hồn trong câu anh nói trước đây khi đã khen về Yến " Đàn bà, con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi " mà rồi do bận rộn công việc nên đã quên. Phải chăng người có tâm hồn là người có lòng mẫn cảm với cái đau, nỗi buồn của tha nhân tương tự bản thân mình như Yến bây giờ. Có thể lắm.

Chợt có người lay nhẹ vào tay tôi, ngoảnh lại nhìn thì ra là thằng Đỉnh. Tôi cất giọng hỏi:

- Ê! Mày đâu nãy giờ vậy Đỉnh? Cô Bẩy nữa?

- Nhỏ Bẩy nói đi đến tiệm gặp cái Đào rồi anh. Em nãy giờ ra ngồi ở quán cà phê gần miếu ba cô kia kìa. Đỉnh lấy tay chỉ về dãy quán nước ở xa xa.

Đám nhân viên phòng An ninh P3V cùng police địa phương phối hợp với các nhân viên phòng trật tự của ban Đại diện trại bắt đầu gọi tên từng người định cư để lên chiếc xe tải. Nhìn những người mắt mũi đỏ hoe trong tiếng khóc đang theo chân nhau bước chân lên cầu thang của chiếc xe, Đỉnh buột miệng cười, nói nhỏ với tôi:

- Nước mắt nước mũi tùm lum vậy chứ sang được bên đó rồi ba bẩy hai mươi mốt ngày sẽ quăng cục lơ tây ngay thôi. Mấy người không khóc lóc, mếu máo... có khi lại chung tình với nhau đó anh Vũ.

- Sao mày nói vậy mà nghe được... Làm như biết rõ trong bụng họ. Hay ha! Thấy anh Khảm, chị Phượng kia kìa... Không lẽ! Tôi đáp lời.

- Anh không nghe câu người ta nói Galang Tình Xù à! Rồi anh xem họ nha. 

Tôi nhìn quanh với những người sắp sửa rời trại. Cũng có những người thật bình thản dù phút giây hiện diện ở trại với họ chỉ tính trong vài phút đồng hồ nữa là cùng. Đám trẻ choai choai minor nam-nữ đứng bên nhau cười đùa trong giờ lên đường như chưa hề biết đến nỗi buồn của cảnh chia tay. Cũng có người vẻ bề ngoài thật bình thản như thể bỏ nơi này để đến một chốn khác như trong chuyến lữ hành du lịch dù trong lòng họ, thực không biết rõ đang vui hay buồn. Không giống như các chuyến hồi hương về quê nhà, thuyền nhân sẽ được theo nhau ra tận cầu tàu trong phút tiễn biệt. Các chuyến định cư, phòng An ninh P3V ấn định chỗ chia tay chỉ ở trước phòng IOM thôi. Xe tải đã gần đầy người đứng chen chúc bên nhau trong thùng. Tôi bước vội đến cạnh chiếc xe tải khi thấy anh Khảm giơ tay vẫy gọi đến. Thấy tôi đến gần rồi, anh Khảm nói vọng xuống:

- Vũ với Yến thỉnh thoảng có rảnh việc nhớ ghé thăm Phượng thay cho anh nha. Chuyện thanh lọc, các em phải khéo léo khai báo với Cao Ủy... Anh chúc tất cả gặp may mắn. Có nhắn gì thêm với gia đình em không? Sang bên Mỹ anh sẽ viết thư về... Nói dùm cho.

Mấy ngày trước, dùng máy chữ của phòng Dịch thuật, tôi đã đánh một bức thư ngắn gửi cho mẹ cùng các em gái bên quê nhà biết thêm về cuộc sống chung ở trại tị nạn Galang hiện thời mà không đả động gì về việc Cao Ủy đang thanh lọc thuyền nhân. Thư đó cũng kèm theo một tấm hình chụp tôi đứng trước cửa phòng làm việc dưới gốc cây chuối kiểng khổng lồ có các tàu lá to rẽ ra hai bên thân như một cái quạt nan khổng lồ. Tối hôm qua, cầm lá thư không dán, tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng và trao tận tay, nhờ anh gửi dùm khi sang được bên Hoa Kỳ. Không biết chuyện gửi thư ở các trại tị nạn người Việt bên các nước Mã Lai, Thái, Phi hay Hồng Kông ra sao nhưng ở đảo tị nạn Galang, phòng An ninh P3V không cho phép thuyền nhân gửi thư trực tiếp từ trại về thẳng Việt Nam. Muốn gửi thư về quê nhà, thuyền nhân trong trại phải gửi cho thân nhân hay người quen biết ở nước thứ ba nào đó để rồi họ sẽ chuyển tiếp gửi dùm sau. Nghe anh Khảm nói vậy, tôi khẽ lắc đầu. Được một lát, anh Khảm chồm người ra khỏi thùng xe, dặn nhỏ từng lời bên tai:

- Sau này nếu có gặp chị Hoa cùng mấy con anh... Hãy dấu kín chuyện anh và Phượng ở đây nha Vũ... Anh xin em.

Tôi nhìn lên khuôn mặt của anh Khảm. Đôi mắt anh sắc nét không một chút lệ, mọng đỏ của người vừa khóc xong. Thay vào đó, mặt anh bây giờ đầy vẻ rắn rỏi, cương nghị như sẵn sàng một thân một mình bước vào cuộc đời mới ở nơi xa lạ sắp đến với nhiều bất trắc đang chờ. Vậy là anh cũng biết sợ vợ anh bên quê nhà hay được chuyện vụng trộm ở trại. Sợ có nghĩa anh Khảm vẫn thương mà thương thì phải có trách nhiệm với gia đình. Tôi gật đầu với lời anh yêu cầu cũng như xác nhận: " Đỉnh ơi, mày nói không sai ".


                             (còn nữa)

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 22

                     (tiếp theo)

Hai mươi mốt.


Trước lúc xảy ra những bất ngờ như vậy, tôi đã có một khoảnh khắc yên tĩnh nằm dài trên chiếc chiếu trải dưới sàn, đầu kê lên chiếc gối bông và eao trên kia là một mái nhà hẳn hoi chứ không phải bầu trời như mọi lần tôi ngủ ngoài rừng. Chuyện đó chả là gì đôi với ngời đời, nhưng với tôi quả cái vi khí hậu của “mái ấm gia đình” đó đã gợi ra biết bao cảm nghĩ nhất là khi ngước nhìn lên vách, tôi thấy treo một bức ảnh cắt từ họa báo chụp một bà mẹ đang bế trên tay một đứa bé trai. Giá như lúc này thằng liên lạc đừng chạy đi làm thịt chồn với anh chủ nhà, thằng hộ pháp đừng có trốn biến đâu mất, giá tôi không chỉ có một mình, chẳng biết làm cái gì, giá như vậy, hình ảnh hai mẹ con kia hẳn đã thoảng đi. Vậy nhưng tôi đã nằm ruổi dài, ngắm mãi nó mà ngẫm nghĩ về cái người đời vẫn gọi là tình mẫu tử mà trong ký ức tôi chẳng lưu giữ một chút gì về nó. Nếu như tôi có một ngời mẹ như cái đứa bé trong ảnh kia rất có thể tôi đã sống khác bây giờ. Người ta thường nói đến những đứa trẻ mồ côi khi lớn lên tính nết thường khô khan, thính cô độc, và thích sống lang thang hơn là bó mình trong quy củ gia đình. -Không hiểu điều đó nghiệm vào tôi có đúng không nhưng tôi luôn cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó rất căn bản so với người đời và bởi thế đôi khi tôi thường bị chìm đắm trong một nỗi buồn nặng nề mà chẳng do một nguyên cớ nào. Chẳng hạn lúc này đây, lẽ ra tôi có thể sung sướng trong tiện nghi dù là tối thiểu, vậy mà kỳ chung tôi vẫn thấy lòng nặng chịu, toàn thân bải hoải, chân tay như dính chặt xuống chiếu không nhấc nổi lên nữa. Bỗng dưng tôi thèm được gọi tên một người nào đó, nhưng là ai bây giờ chằng có ai cả và cái điều đó đâm nhói trong ngực tôi, rồi thật ngớ ngẩn, những giọt nước nóng ấm không hiểu sao cứ ứa ra hai hàng mi. Có tiếng chân bước cót két dẫm lên thang tre làm tôi vội vàng chùi mắt và ngồi nhỏm dậy.
Người đàn bà trẻ tuổi vừa đi đâu đó, mặt đỏ bừng và nhìn tôi miệng cười tươi:
“Sao mình buồn thế? “ .
“Không mình có buồn đâu. Khói thui con chồn làm chảy nước mắt đấy.”
“Không phải đâu, mình nói dối, mình nhớ vợ ở nhà phải
không? ôi, các mình khổ quá mình ơi.”
Tôi ngạc nhiên về cái nhạy cảm của cô ta:
“Tại sao biết mình khổ?”
Người đàn bà trẻ tuổi lại nhoẻn một nụ cười làm sáng khuôn mặt:
“Anh kia nói mà, anh kia nói là các mình không có nhà ở không có cơm ăn, không có vợ ôm, khổ quá mà.”
Tôi hiểu ngay anh kia là ai, nhưng lúc đó tôi chẳng có ý nghi ngờ nào hết, tôi chỉ thấy buồn cười cái nhìn nguyên sơ của cô gái miền cao. Rồi lúc còn lại một mình, tôi lại nghĩ có khi cô ta nói đúng, tôi đã quen quá rồi không còn biết thế nào là khổ và điều đó chỉ người ngoài cuộc mới nhận ra: Vậy thì tại sao tôi không thử sống khác đi? Bằng cách nào? Lăm le đào nhiệm như thằng hộ pháp? Hay xây dựng “sự nghiệp” theo kiểu thằng học giả? Không được tôi không liều lĩnh và cũng không kiên tâm như hai thằng đó cái phẩm chất đáng kể nhất tôi có thể có là cam chịu dạt trôi khắp nơi theo sự đời đa đẩy. Rồi, một lúc nào đó nó đẩy tôi khỏi cái kiếp sống “lấy sương làm màn, lấy làm chiếu” để tới một mái nhà cố định nào chứ? Chắc còn lâu lắm, khi tôi đã lưng còng, đầu bạc hơn cả ông toán trưởng bây giờ. Mặc dù hai mẹ con trong ảnh trên vách nhìn tôi với ánh mắt trìu mến, ân cần, nhưng họ vẫn thuộc một thế giới xa xôi nào đó mà tôi không thể với tới? Đến bao giờ số phận đưa đến cho tôi một người con gái gắn bó để có được những đứa con xinh xắn như thế kia? Quả thực điều đó còn xa xôi quá khi những người con gái tôi đã gặp chẳng lưu lại ký ức hình ảnh nào. Kể ra cô cấp dữơng trường thanh niên vừa học vừa làm cũng có để ý đến tôi đấy, nhng hồi đó tôi quá trẻ để có thể đáp lại những biểu hiện tinh tế eô giành eho tôi ngoài cái việc lắp bắp cảm ơn mỗi khi trong cạp lồng cơm của tôi được cô chia thêm cho một miếng cháy đen xạm. Ngày tôi rời trường cô bắt tôi hứa viết thư một khi tôi đã sống ổn định ở một nơi nào đó. Hỡi ôi, cho tới nay, mấy năm trôi qua, lá thư đó vẫn chưa được viết vì tôi vẫn chưa có được một địa chỉ cố định như lời cô dặn. Bây giờ chắc cô đã quên tôi, riêng tôi đôi kh. i còn nhớ, nhất vào những lúc thằng cấp dưỡng cho tôi cạo cháy trong nồi cơm của nó.
Vẻ mới mẻ của ngời đàn bà trẻ vừa bước ra từ bên trong cánh màn làm tôi ngạc nhiên. Cô ta đã thay váy mới, thêm một cái khăn xanh quàng quanh bụng và cái áo chẽn trắng bó sát người khắc hẳn người đàn bà lấm láp vác bó củi dựng cột nhà lúc tôi mới tới. Hóa ra ở nơi u tỳ này thật hiếm cơ hội cho cô trang điểm, làm đẹp. Bởi vậy tôi tự thấy có nghĩa vụ phải ngắm nhìn đôi chút nếu không cô sẽ buồn biết bao.
“Đẹp lắm, cô mặc the này đẹp lắm...” .
Lời khen làm cô sung sướng đỏ ngời gương mặt. Tuy nhiên tôi ehỉ nói được có thế thôi. Cô ngập ngừng chờ đợi rồi uyển chuyển bước ra ngoài. Nếu như tôi biết trước được “phép lạ” sẽ xảy ra trong đêm ấy, có lẽ tôi cũng chẳng làm gì được hơn. Cái giới hạn ấy tôi không thể vượt qua đù cho có được khuyến khích đi chăng nữa.
Mãi về sau, mỗi lần nhớ tới đêm hôm đó, tôi thường suy nghĩ về thế giới bên trong người đàn bà, bà Trởng phòng dạo trước của ông toán trởng, cô nàng búp bê của thằng học giả, cô vợ ông xã đội của thằng hộ pháp, và nhãn tiền là người đàn bà ngoại tình chớp mắt trong đêm, không, tôi không trách cứ và cũng chẳng nghĩ xấu về họ, bên trong những hành động người đời thường coi là nông nổi và nhẹ dạ, còn chứa một cái gì đó khó cắt nghĩa, khó tách bạch rạch ròi như ta thường thấy trong các cuộc họp kiểm điểm, cái đó như một thôi thúc vô hình chi phôi họ và ta không thể nào không mỉm một nụ cười cảm thông của người đàn ông. Ôi cái trách nhiệm sinh nở đè nặng trong trái tim người đàn bà mới thiêng liêng, cao quý làm sao, dẫu có thế nào, họ cũng mang tới cho nhân loại cái sản phẩm vẫn được coi là “vốn quý nhất”: con người. Với ý nghĩ đó, tôi cứ nằm ngắm nhìn bức ảnh hai mẹ con treo trên vách cho tới khi thằng liên lạc nhà từ dưới sân lên, hốt hoảng:
“Chết roi, mày nằm đây lâu chưaa? Cái sắc cốt của tao...”
Nó vội vàng lật chiếu lên, nhăn răng ra cười:
“May quá, tao nhãng đi, cứ để đây suốt từ trưa. Cả một đống tiền của đơn vị chứ ít đâu?”
Nó nhìn ngược nhìn xuôi rồi ghé tai tôi nói nhỏ:
“Mày phải canh chừng thằng hộ pháp, tao thấy nó cứ xoắn lấy con vợ thằng chủ nhà!”
“Tôi bảo nó đừng quá lo, sáng mai đi rồi, có tài thánh cũng chẳng tán nhanh được thế, trừ ra thằng đó có “phép la”. Nó bảo tôi không được chủ quan, cứ đề phòng là hơn cả, lòng dạ đàn bà biết đâu lường, lại cả con bé kia nữa, mắt cứ long sòng sọc, thằng chồng thì lại đần quá. Thằng liên lạc cứ lải nhải dặn dò làm tôi phát bực:
“Kệ xác nó, nó tán được thì nó hưởng, con kia có của phải giữ, của mày đâu mà lo.”
“Không được, nếu xảy ra chuyện gì chết luôn cả tao lẫn mày. Ông toán trưởng nhà mày kể cũng lạ, cái thằng đứng đắn tử tế xung phong thì không cho di, cử ngay cái thằng động đực này cho rách việc ra.”
Thằng liên lạc khoác sắc cốt đi rồi, tôi cứ cười thầm mãi cái tính lo xa của nó. Ây thế rồi, thật khó mà tin được, “phép lạ” đã xảy ra trong đêm. Sáng hôm sau, tôi còn đang ngủ rất say, thằng liên lạc lay tôi rôl rít:
“Dậy, dậy, thằng hộ pháp bỏ trốn rồi”.
“Trốn đâu, chắc nó ra ngoài rừng đấy thôi”.
Mắt vẫn ríu lại vì ngủ chưa đẫy giấc, tôi quắp người ngủ tiếp Thằng liên lạc lôi bật tôi dậy:
“Nó trốn thật rồi. Nó lấy cả tiền của tao đây này”.
Quả thực, cái sắc cốt thằng liên lạc gí vào mắt tôi không còn căng phồng như chiều qua nữa, tôi choàng dậy:
“Nó trốn hồi nào?”
“Làm sao tao biết đợc, tối qua nó chuốc rượu cho tao ngủ say như chết. Thức dậy nó đã đi từ tám đời.”
Nó chửi rất tục, lồng lộn đi lại trong căn nhà sàn và giục tôi sửa soạn gấp, đuổi theo thằng hộ pháp. A, chuyện này không được rồi, “Nếu mày không giúp gì được thì mày cũng đừng làm cái gì hại tao”, thằng hộ pháp đã nói thế, làm sao tôi đuổi theo nó được, đành tìm ke hoãn binh thôi.
Tôi xuống thang, đủng đỉnh đi ra suối rửa mặt. Hai vợ chồng chủ nhà đã kéo nhau đi làm nương từ sáng sớm, chắc anh chồng chẳng hề biết chuyện gì đã xảy ra với vợ mình đêm qua, nếu không hẳn ầm ĩ lên rồi. Nước lạnh làm tôi tỉnh táo và bỗng thấy nhớ thằng hộ pháp, chiều qua nó còn vùng vẫy với tôi ở đoạn suối này, còn cười nói và liếc tình cô chủ nhà, bây giờ nó ở đâu, liệu tôi có gặp lại nó không?
Ngày thường có lúc nào tôi và nó rời nhau, việc nó bỏ trốn bỗng tạo nên một lỗ hổng rất lớn trong tôi. Tôi giận mình có ít tiền không đưa cho nó ngay chiều qua để nó phải xoáy của thằng liên lạc làm thằng này chạy cả ra suối tìm tôi.
“Bo n mình đi ngay sao được, tôi bảo nó, phải chờ vợ chồng chủ nhà về để chào, cảm ơn đã chứ”.
Ôi dào, vẽ chuyện, mình cứ đi, miễn không xoáy cái gì là được rồi.. Tôi không chịu, tôi bảo nó dù sao cũng phải làm tốt công tác dân vận, nhất thiết phải chờ chủ nhà về, truớc mắt cứ đặt nồi cơm lên ăn cho no bụng đã. Nghe tôi nói, nó nổi cáu:
“Vậy đến tối họ mới về mày cũng bắt tao chờ hả? “.
“Đành vậy chứ còn biết làm sao?”
“Nếu vậy thằng hộ pháp đã bay tận đâu ròi. Thôi được, mày cứ nấu cơm đi, tao chạy ra nương báo chủ nhà mình phải đi đột xuất vậy.”
Thằng liên lạc xăm xăm bỏ đi, tôi leo lên nhà đánh ngay giấc nữa. Liên tiếp hai việc tày đình thằng hộ pháp gây ra làm tôi choáng váng đầu óc, người mỏi nhừ, không còn muốn động chân động tay làm gì nữa. Thằng liên lạc quay lại thấy tôi đang ngủ ngon lành, nó tru tréo ầm ĩ. Tôi biết nó sốt ruột đuổi theo thằng hộ pháp chẳng qua vì món tiền kia thôi.
“Mày mất bao nhiêu? Ngần này đủ không? “, tôi rút phăng ngay cả số tiền giành giụm được trong mấy năm, ấn vào tay nó. Nó đếm kỹ lưỡng từng tờ rồi trả lại tôi chỗ lẻ.
“Cũng may tao cất làm ba nơi không thì bán cả mày đi cũng không đền nổi. Giờ tính sao đây? Tao đã chào chủ nhà rồi, hắn cố giữ ở chơi thêm ngày nữa, nhưng tao từ chối, riêng con vợ hắn rất lạ, cứ hỏi cuống lên: “Đi à, các mình đi thật à? Sao anh kia bảo vài ngày nữa mới đi? “.
Tôi thở ra nhẹ nhõm, thế là đã rõ, câu chuyện đêm qua chỉ có tôi là người thứ ba biết được, thôi cứ coi nó là một giấc mộng. Tôi bảo thằng liên lạc:
“Mày đã eầm tiền rồi, tiền này không dính dáng gì đến mày nữa. Tao cấm mày về tâu với Ban chỉ huy.”
Nó sợ tôi đòi lại tiền nên bằng lòng ngay, vui vẻ đi nấu cơm để tôi ngủ thêm lát nữa. Tôi cố chợp mắt mãi chẳng được đành nằm nhớ lại mọi biểu hiện eủa thằng hộ pháp mấy hôm nay, hóa ra nó đã có ý bỏ trốn từ lâu nên mới nói chuyện sinh sống, làm ăn ở bản Mù U say sưa vậy. Cái thằng liều thật, tôi sẽ ăn nói làm sao với ông toán trưởng để ông đừng có điện về Ban chỉ huy gửi giấy về địa phương truy nã? Nếu không ngăn được chuyện đó, thằng hộ pháp chỉ đặt chân về nhà chắc bị tóm ngay, nói gì đến việc rủ rê vợ thằng xã đội đi trốn? Càng nghĩ tôi càng giận nó đã giấu cả tôi và rồi không khéo thằng học giả nói đúng: “Manh động chỉ có chết”. Vậy nhưng nếu không thế thì sao? Nếu nó tin cậy bàn bạc với tôi liệu giúp gì được? Chịu, tôi không tìm ra câu trả lời, thôi cứ kệ, “bấc đến đâu dầu đến đấy”.
Cơm nước xong, sợ cô vợ chàng chủ nhà về không thấy thằng hộ pháp lại hỏi han lôi thôi, rắc rối, tôi bèn giục thằng liên lạc đi ngay. Trước khi ra hỏi nhà, tôi ngoái nhìn lần nữa bức ảnh hai mẹ con, thầm chúc cho vợ chồng nhà này nay mai sẽ có đứa con xinh đẹp như thế.
Thằng liên lạc khoác xắc cốt, chống gậy đi truớct tôi khoác ba lô rỗng theo sau. Con đư ờng nhỏ leo qua những tảng đá rêu phong, len lỏi dọc theo những khe cạn tối om rồi đổ ra một khu rừng toàn lau lách. Mặt trời trên đỉnh đầu dội xuống cái nắng như có cả ngàn con kiến châm vào da thịt, thằng liên lạc hăng hái là thế cũng phải vuốt mồ hôi mặt nằm lăn ra trên đám cỏ tranh thở hồng hộc.
“chịu thôi, tao mệt quá rồi, nằm lại đây thôi”.
Tôi rút dao, chui vào bụi cây dọn dẹp một chỗ đủ nằm rồi cũng lăn kềnh ra, dốc bi đông nước tu ừng ực. Ngước nhìn bầu trời chói sáng qua kẽ lá tôi chợt nhận ra suốt từ đêm qua, đầu óc tôi không lúc nào dứt nổi hình ảnh thằng hộ pháp. Lúc nào rảnh rỗi tao phải nhờ mày viết hộ tao một bức thư cho con vợ thằng xã đội, nó đã nói với tôi vậy. Tao đang quặn ruột quặn gan nhớ nó đây, nhưng diễn tả ra như hằng học giả thì tao chịu, mẹ kiếp, cái bọn trí thức nó hơn mình chỗ đó. Nhưng tao không cần mày thêm muối mắm gì hết, có thế nào cứ viết ra thế ấy. Chẳng hạn như lúc này, tao với mày vừa phá xong bụi tre gai phải không, cái gốc tre vừa rồi mày chặt ẩu, bật lên suýt nữa tao không nhanh thì nó đâm chột con mắt rồi, mày cứ viết mẹ nó ra như thế, rồi thì bên cạnh mình toàn bụi gai cả thôi, chả có chỗ nào ngả cái lưng, mày phải ngồi xổm trên hòn đá nhọn, còn tao thì đu đưa trên cái rễ cây như khỉ leo giây, suốt từ sáng hai thằng làm như trâu ấy, có bi đông nước dốc hết vào miệng rồi, ba bát cơm nhét bụng cũng ra bã hết rồi, bồ hôi mẹ, bồ hôi con bò ra khắp người, ấy thế mà lúc này tao lại nghĩ thương. Hôm tao đi, nó trốn mãi mới thoát đợc thằng xã đội để chạy ra bến xe đưaa cho tao ba cái bánh chưng và hai cái bánh giò. Nó còn dặn tao bánh chưng để lâu được, anh ăn bánh giò trước. Rồi khi xe chuyển bánh, mắt đỏ đòng đọc, nó chạy theo dặn với: “Nhớ biên thư cho em gửi về đằng nhà mẹ. “ Tao quát: “chạy xa ra không xe đè chết. “ Giời ơi, tao nghĩ tao cứ hối mãi, sao mình quát nó, sao không nói được câu nào ngọt ngào, tử tế, đêm nào không ngủ được, nhớ tới chuyện đó tao cứ sôi gan sốt tiết lên. Tao định bụng phải biên thư, ấy thế rồi nấn ná mãi đến giờ vẫn chưa được hột chữ nào. Mày viết hộ tao nhé, mày cứ viết y như tao nói vừa nãy ấy, chả cần gì màu mỡ riêu cua, văn chương chữ nghĩa làm đếch gì, cứ người thật việc thật mày viết cho tao thôi. Than ôi, cho tới lúc này thằng hộ pháp đã trôi dạt tới tận chân trời nào, tôi vẫn chưa viết hộ nó được một chữ. Tôi đành an ủi rằng thư từ, chữ nghĩa chả được cái tích sự gì, viết cả ki lô như thằng học giả rốt cuộc vẫn bị con búp bê kia nó đá lăn quay, tình yêu hóa thành tình hận, người tử tế biến ra kẻ bất lương, hoa thơm trái ngọt trở nên mật đắng, rượu chua.
Tôi đang loay hoay với mớ triết lý vụn, thằng giao liên đã bò tới bên thì thào:
“ Ở đằng kia có xác con gì chết, quạ kéo tới đông quá mày ạ.”
Tôi giật thót, nghĩ tới đêm qua thằng hộ pháp mò mẫm đi đêm không tiểu có xảy ra chuyện gì không? Tôi chui vội ra khỏi bụi cây và nhìn theo tay thằng liên lạc, quả nhiên phía trước tôi thấy một đàn quạ nhớn nhác bay lên bay xuống, rối rít gọi nhau. Thằng liên lạc lò dò theo tôi tới gần cái hố, ở bên dưới lấp ló cái gì đó màu đen đen, mùi thịt khắm bốc lên cùng với đàn ruồi nhặng bay tứ tung. Đàn quạ thấy người đã bay hết lên cây ngó xuống la hét ầm ĩ.
Tôi bước lại gần kêu to:
“Con gấu, con gấu chết...”
“Sao nó chết ở đây? “
“Sập bẫy chứ sao.”
Tôi phải lấy khăn tay bịt mũi, cầm dao phát quang miệng hố mới thấy rõ con gấu bị mũi dáo xuyên lưng chắc chết từ lâu lắm Người đặt bẫy hẳn đã chuyển bản, hoặc đã bỏ quên nó. Thằng liên lạc run bần bật:
“May là con gấu chứ không phải tao hoặc mày.”
Tôi nghĩ tới thằng hộ pháp lò dò đi đêm qua chẳng may rơi xuống một cái bẫy bị bỏ quên thế này có thánh cũng chẳng tìm ra, lúc đó hẳn chỉ còn cách quy cho nó cái tội vượt biên. Thằng liên lạc dục tôi:
“ Xả nó lấy mật đi, tao với mày chia nhau...”
Hì hục cả tiếng đồng hồ tôi mới moi được túi mật nhỏ bằng hai đốt ngón tay đưa cho thằng liên lạc. Nó mừng rỡ:
“ Rõ thật của trời cho, mang về xuôi bán được khối tiền, chỉ tiếc thịt thối cả rồi, nếu không tao với mày được bữa no.”
Tôi rùng mình nhớ tới cái lần ăn thịt bò chết năm ngoái.
Bữa đó bọn tôi ngủ lại một cái lán ven đường, cạnh một trại bò. Nửa đêm thằng hộ pháp dựng tôi dậy thì thào:
“Mày có biết lúc tối bọn trong trại chôn con bò đằng sau lán mình không? “.
Bị phá giấc ngủ tôi nổi cáu:
“ Mày định thắp hương cúng nó hả?”
“Không, mình ra đào lên-xả thịt đánh chén.”
“Bò chết bệnh đấy bố ạ, có thế bọn nó mới đem chôn ch ứ.”
“ Ôi dào, bệnh với bò chứ đâu với người “.
Tôi nghe bùi tai, theo nó đi đào mả bò, ruột gan phèo phổi vứt đi hết chỉ lấy mỗi hai cái đùi sau lúi húi xào nấu suốt đêm. Sáng ra chỉ có thằng học giả sợ hết hồn không dám động đũa, cả ông toán trưởng cũng lắc đầu, chỉ có tôi, thằng hộ pháp, thằng cấp dưỡng ăn ào ào. Lúc đi làm, thỉnh thoảng tôi lại hỏi nó:
“Sao? Mày có thấy làm sao không?”
Nó vỗ bụng cười hềnh hệch:
“Chả sao cả, mày cứ lo hão, hổ với sói còn ăn thịt thối bằng mười mình cũng có sao? Còn một cẳng bò nữa, chiều về tụi mình “tế nốt.”
Quả nhiên sau cái trận ấy tôi và thằng hộ pháp chẳng làm sao cả, lại có vẻ khoẻ ra, chỉ có thằng cấp dưỡng ốm một trận, trọc cả đầu, nhưng chắc không phải do ăn thịt bò chết. Tuy nhiên cái con gấu này chết lâu quá rồi, giờ có thằng hộ pháp ở đây cũng chịu không dám nghĩ tới chuyện ăn thịt, thôi trả lại nó cho bày quạ. Tôi kéo thằng liên lạc đi tiếp con đuờng qua đồi lau lúc này đã nhạt nắng. Nó chưa hết hí hửng với cái mật gấu buộc trên đầu gậy vừa đi vừa giơ lên phơi khô. Mãi gần chiều, hai đưá mới qua hết dãy đồi bát úp đi tới chân dãy núi con đường sắp sửa leo ngược lên. Bụng đói, đôi chân rời rã, tôi kéo thằng liên lạc ngồi lại bên một gốc cây lớn, giở cơm nắm ra ăn.
“Leo qua dãy núi này là nhìn thấy Mù Cang...”
Chân tôi vừa đá phải vật gì sang sáng nên không để ý tới thằng liên lạc nói gì. Tôi cui xuống nhặt lên một con dao bằng nhôm, trời, con dao của thằng hộ pháp, hình đôi chim câu châu mỏ vào nhau làm tôi nhớ tới ý định “cắt dái thằng xã đội” của nó. Hoá ra nó đã đi qua đây, đã ngồi nghỉ lại. Tôi bỗng thấy nhói buồn, con dao của nó nằm đây, còn chính nó bây giờ ở đâu?
                                     
        (còn tiếp)

                PHỤ LỤC

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ
         Một thiên đường mù của trí tuệ.
                                                   Hoàng Khởi Phong
         
                             (tiếp theo)

       Vấn đề chính ít ai nhắc tới là giá trị văn chương của những tác phẩm này, cũng như sự khác biệt giữa hai phong trào: Các nhân vật trong phong trào Nhân Văn quá ít ỏi, không đi ra khỏi quỹ đạo của Đảng, lại bị nhà nước chi phối bao tử qua hình thức phân phối nhu yếu phẩm bao cấp và tem phiếu... Do đó các nhà văn trong phong trào Nhân Văn chỉ đòi hỏi một điều là chính trị không được can thiệp thô bạo vào văn nghệ. Trong giai đoạn 87-91 các nhà văn tham gia đông đảo hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn, mức độ phản kháng mạnh hơn và đã đi xa hơn. Những người làm văn nghệ trong giai đoạn này không chỉ đòi tự do cho văn ngh? sĩ, mà còn đòi thay đổi cả một cơ chế, cả một chế độ. Và quan trọng hơn nữa những tác phẩm này đồ sộ hơn, có chất văn chương hơn.
Năm 1990 trong cương vị chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn Học, chúng tôi thực hiện một số Văn Học đặc biệt, số 49 với chủ đề Văn Chương Phản Kháng. Đây là tờ báo đầu tiên tại hải ngoại đề cập tới tới phong trào văn chương phản kháng ở trong nước.
 Kế đó nhà xuất bản Lê Trần thực hiện một tập sách biên khảo công phu: "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương", với 27 cây bút  hải ngoại viết về 79 nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, kịch tác gia, nhà đạo diễn ở trong nước. Cuốn sách dầy khoảng tám trăm trang khổ lớn này được một số nhà báo tại quận Cam, cùng với một số hội viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại biểu tình chống đối, kéo lê đi giữa đường phố của Little Saigon, và nếu không có sự can thiệp của Sở Cứu Hỏa thành phố, cuốn sách này còn bị đốt ngay trước cửa chợ.
Mười năm đã qua đi, tôi không hiểu những vị toan đốt sách đó, đã làm được gì cho văn học Việt Nam hải ngoại. Chỉ biết rằng Văn Bút Việt  Nam Hải Ngoại càng ngày càng phân hóa. Đây là tổ chức duy nhất của miền Nam, còn duy trì được tiếng nói của mình đối với quốc tế. Sự chia rẽ không thể hàn gắn của Văn Bút  Việt Nam Hải Ngoại, khiến cho Văn Bút Quốc Tế phải quyết định cho tổ chức này ngủ một giấc đông miên kéo dài tới mấy năm. Hiện nay Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã hợp nhất, nhưng ngay lập tức đã có những tiếng xì xèo từ trong nội bộ. Việc phó hội trong những kỳ Đại Hội Văn Bút Quốc Tế sắp tới chưa biết sẽ đi về đâu, nhưng có điều chắc chắn vì mải tranh dành các chức vụ, mà dường như các hội viên của Văn Bút  Việt  Nam Hải Ngoại đã dồn mọi nỗ lực trong việc tranh cãi, hơn là sáng tác những tác phẩm có giá trị văn học. Thời gian thực hiện cuốn "Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương”, nhà xuất bản Lê Trần qua các anh Trần Vịnh, Thân Trọng Mẫn và Lê Bửu Tấn gợi ý, để tạp chí Văn Học đảm trách phần chọn lựa bài vở, vì lý do tạp chí Văn Học là tờ báo đầu tiên đã nêu vấn đ? văn chương phản kháng ở trong nước. Tôi nghĩ cuốn sách biên khảo này quá thiên về chính trị, không phải là sở trường của anh em Văn Học, nên chúng tôi chỉ nhận lời tham gia với tư cách cá nhân đóng góp bài vở qua các anh Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, chị Thụy Khuê và tôi. Tôi định viết về tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn, nhưng rútcục phải viết bài dẫn nhập về Đại Hội các nhà văn lần thứ IV. Từ đó tới nay hơn 10 năm đã qua đi, tôi không có dịp viết về tác phẩm này, nhưng mỗi khi đề cập tới văn chương trong nước, đặc biệt là văn chương phản kháng, chưa bao giờ tôi quên nhắc tới tác phẩm này. Đi Về Nơi Hoang Dã lần đầu tiên do nhà xuất bản Văn Học (miền Nam) tại Sài Gòn xuất bản vào năm 1990. Trong lần in này nhà xuất bản phát hành 10.000 cuốn, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi  đã không còn một cuốn nào nơi những kệ sách.
Ngay lập tức nhà xuất bản Văn Học xin tái bản, nhưng từ đó tới nay cuốn sách này không bao giờ có ấn bản mới ở trong nước. Năm 1995, nhà xuất bản Việt Nam tại hải ngoại in lại cuốn sách này, và mới đây nhất nhà xuất bản Huyền Trân cho tái bản lần thứ hai tại hải ngoại. Đó là chưa kể có những cuốn được in lại tại đây mà không đề nhà xuất bản, chỉ đề giá bán và địa chỉ để mua là một hộp thư.
Nhật Tuấn mở đầu cuốn tiểu thuyết của ông như sau:
"Chúng tôi gồm năm người đàn ông, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn sàng làm chồng các cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh bữa cơm nóng sốt. Vậy mà đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những đỉnh núii quanh năm mây phủ, không có cả đến một tiếng chó, một bãi phân trâu, cái thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân vào cổng làng...".
Đó là những câu mở đầu cho cuốn sách. Nó mở ra cho người đọc một chân trời kỳ bí lạ lùng. Cái lạ lùng bí hiểm không phải do không gian núi co rừng thẳm của chuyệmà khởi đi từ các nhân vật trong tác phẩm này. Không một nhân vật nào trong cuốn sách có tên riêng, bởi vì mỗi một nhân vật như điển hình cho một  lứa người trong xã hội. Ông già là "Toán Trưởng", với bốn gã đàn ông lực lưỡng dưới quyền, được Nhật Tuấn gọi bằng những biệt  hiệu "Thằng Hộ Pháp, Thằng Cấp Dưỡng, Thằng Học Giả" tượng trưng cho ba mẫu người và nhân vật chót cùng là "Tôi" như là một nhân chứng cho những xung đột diễn ra giữa những nhân vật nói trên. Chính vì là nhân chứng nên nhân vật tôi này điển hình cho mọi tầng lớp nhân dân, anh như một khán giả duy nhất của vở kịch có bốn diễn viên. Anh dửng dưng với mọi đấu đá, anh đứng ngoài những tranh chấp, và sau cùng anh cùng là người có lòng nhân nhất trong toàn bộ câu chuyện.

             (còn nữa)




Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - -Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 32

                               Chương 32





Thời đó chưa có mấy cái để ăn nên quan chức còn chưa ăn bất kể thứ gì như bây giờ. Thép, xi măng, gỗ cổ thụ, kim khí quý…gì cũng ăn.Mợ cười rinh rích :
“ Ba cái thứ đó ăn thua gì ? Ăn chia dự án mới gọi là ăn. Vài triệu  đến trăm triệu đôla là sự thường.Mà ăn…hợp pháp , nhất ăn vốn vay ODA, bị bên đối tác tố cáo rồi vẫn bình chân như vại, vì thằng nào cũng ăn, bắt một thằng có mà bắt hết à, lấy ai ra làm việc ?”
“ Công ty em có phải cho tụi nó ăn không ?”
“ Không cho nó ăn có mà sập. Nó phái thanh tra đến lục tung cả số sách là ốm nặng ..”
“ Có bao giờ em phải cho nó ăn cái.. thân của em không ?”
“ Đừng hòng, cứ nom cái bản mặt mỡ trông như cái đầu heo của bọn quan chức là em muốn phát ói , nói gì phải ngủ với tụi nó..”
“ Nhưng trúng phải cái thằng nó ký duyệt dự án lớn thì sao ?”
“ Thì cho nó tiền bảo nó đi tìm gái non, còn em đang SIDA không may lây sang “đồng chí” mất cái vốn quý của đảng….he he…”
Mợ cười như phát rồ. Chắc lăn lộn trong giới quan chức nhiều, trải nghiệm lắm, mợ mói ghê tởm chúng nó đến vậy.
“ Toàn một lũ chó đói,..miệng xoen xoét vì dân vì đảng nhưng có cơ hội là vẽ ra dự án dù có bẻ cong đường,  lấp sông, đâm  hà bá phá sơn lâm tụi nó cũng lắm. Địt mẹ cán bộ !”
Gã cười hô hố :
“ Sao em vơ đũa cả nắm vậy ? Cũng có cán bộ lo cho dân,không ăn lấy một cắc chớ ?”
Mợ trợn mắt
“ Ai ? Ai vậy ? Anh tìm cho em một thằng như thế em xin thờ nó làm chồng..”
Gã lại cười :
“ Em chửi vậy nhưng hôm tivi chiếu em lên sân khấu nhận giải thưởng doanh nhân tiêu biểu em lại phát biểu ơn đảng ơn chính phủ như hát  hay  ?”
Mợ cười thích chí :
“ Em phải theo phong trào  chớ. Anh coi lên tivi phát biểu có thằng nào nói thật không ? Từ thằng lớn đến thằng bé . Ngay cả đại văn sĩ Nguyễn Khải cũng phải than “nói dối lem lẻm…”. Không nói dối bốc cứt mà ăn à ..”
Mợ lại cười ré như mới phát hiện ra chân lý lớn lao của thời đại …chưa bao giờ huy hoàng đến thế .
Mợ về họp Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty, trước khi lên xe còn dặn dò :
“ Cấm anh không được xớ rớ tới con bé người làm đấy nha.Ngủ với con sen  xui lắm đó. Lơ mơ là em cắt..”
Mợ làm một động tác làm gã sởn gai ốc. Nhưng mợ định vậy, còn có thành không là tùy thuộc con bé người làm.Từ hôm mợ về Saigòn  nó vui lắm, cứ ti ta tí tởn như trúng đề.
Sáng nay nó đánh cái quần cộc tới tận bẹn, ngáp một khoảng lưng lòi cả quần lót loại lọt khe, áo ba lỗ cứ cúi xuống chút là lộ nguyên cả bầu vú  trắng nõn . Xong việc ngoài vườn rồi nó vào lau nhà. Nó bò nhoài lau gạch bông đúng vào lúc gã ngồi máy tính đọc tin. Cả thân hình nở nang của nó cứ núng na núng nẩy làm những con chữ trên màn hình vi tính bay tứ tung, Khó mà tập trung làm việc với con nhỏ này. Mà sao vú nó bự thế, bộ đùi nó tròn và trắng thế, lại còn cả đôi cánh tay nần nẫn như con trăn chỉ muốn cuốn quanh cổ gã. Gã bực minh đóng sập cửa , cắm mặt vào màn hình, rê chuột tìm hình Nữ vương hòa bình thiêng liêng cao quý để xóa bỏ cái hình đầy dục tích của con bé người làm phòng ngoài.Gã vào bác gu-gồ tìm hoài không có, bực mình gã lại gõ tìm hình Phật bà quan âm. Bất thình lình bên phòng ngoài con bé người làm gọi thất thanh :
“Ối chú ơi..chú ơi…”
Gã vội tông cửa chạy ra. Con  bé đang nằm ưỡn ra trên gạch bông ôm đùi nhăn nhó :
“ Ối đau..đau quá…”
Người gã bừng bừng nhưng vẫn quát :
“Sao đau ? Mày đau ở đâu ?”
Con bé ôm lấy đùi :
“ Bọ cạp ..con bọ cạp nó cắn con.
Rồi nó cầm lấy tay gã ấn vào đùi non của nó. Ối má ơi,con bé cứ kéo tay gã lên cao,  gã đã thấy  lấp ló cái quần lót của nó. Gã mê mẩn mặc cho con bé cầm tay chà trên đùi nó cao nữa, cao lên  nữa. Gã chợt nhớ đến một câu trong kinh thánh “ Còn một chút nữa thôi là tới thiên đàng…”.ờ ..ờ…một chút nữa thôi ..một chút nữa thôi ,,….Gã bỗng rụt tay lại như ong đốt. A không…không…rồi nó sẽ từ dưới bếp lấn vào phòng ngủ và tót lên giường đòi làm bà chủ.
Con bé người làm ngây người rồi ngồi dậy, tức tối nguây nguẩy bỏ ra ngoài vườn. Gã nhìn theo tiếc rẻ , Rõ ràng miếng giò lụa bỏ miệng rồi mà không dám nhai.Thôi cũng đành.Cái mảy xảy cái ung…con nhỏ này không phải tay vừa…đưa nó lên giường rồi đừng hòng đuổi nó xuống. Gã vào buồng tắm mở vòi nước phun khắp người cho nó..hạ hỏa.
Buổi tối gã ngồi ngoài vườn ngợp trong ánh trăng rải khắp tàng cây và bãi cỏ . Hóa ra vẫn còn một thứ thuần khiết chưa bị nhiễm độc : ánh trăng. Thiên nhiên và xã hội - ở cái sứ xở ngập lụt dối trá này còn có thứ gì là thuần khiết ? Tất cả đều đã bị chính trị đầu độc , tuy chưa tới mức  dữ dội như thứ "chính trị ăn thịt người " ở Trung Quốc, nhưng cũng là một thứ "chính trị tranh ăn", vơ vét, sùng bái quyền lực và tiền bạc. Chỉ nhiêu đó cũng đủ hủy hoại hết sông nước , núi rừng và bờ biển, hủy hoại hết lương tâm, danh dự, tình người, hủy hoại hết những giá trị thiêng liêng cả tinh thần lẫn vật chất.
Nhưng mà có một thứ nó không hủy hoại được : ánh trăng. Gã giơ ra cả hai bàn tay hứng ánh trăng nhễ nhại . Gã nghe văng vẳng như những giọt âm thanh dồn đập trong Sonate Ánh trăng của Beethoven, Thế giới âm thanh  này cũng thuần khiết như ánh trằng không một thứ chính trị nào hủy hoại được ,liệu nó cứu rỗi được cái xã hội đang lụi tàn này ?  Chắc không, chắc phải có hẳn một con sông cỡ “ Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai “ may ra mới rửa sạch được những thối  tha trong xã hội con người.này.
Tuy nhiên vẫn còn có một thứ có thể phá được cái huyền ảo của đêm trăng ,Đó là tiếng còi xe hơi chọc vào tai. Hai ngọn đèn pha sáng quắc lóa mắt gã. Nàng Dạ Hương – Giám đốc công ty bất động sản . Mợ tắt máy xuống xe đóng cửa cái rầm rồi xách  túi vào  nhà. Rồi, trúng mánh nữa rồi, đêm nay lại rượu mực nữa rồi,gã thầm reo lên. Vừa vào tới nhà, mợ quẳng cái túi  lên bàn, ghi chặt đầu gã vào hai quả bưởi Năm Roi nóng rực :
“ Anh có nhớ em không ?”
“ Nhớ chứ sao không ?”
“ Nhớ nhiều không ?”
“ Nhiều…nhớ nhiều…”
Ôi trời ..mợ õng ẹo khác nào bà Phó Đoan của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ..Gã cũng muốn bắt chước nhà văn đẩy mợ ra gắt :”Gớm lắm nữa…”nhưng không dám. Để mợ nổi tam bành lục tặc lên gã chỉ có ..ra bã. Gã đanh phải ôm lấy mợ hôn chùn chụt lên má. Mợ chìa cả má bên kia :
“ Bên này nữa…”
Ối mẹ ôi, cứ cái đà này mợ lại bắt lên giường “mây mưa đánh đổ đá vàng” nữa đây.Gã nhẹ nhàng thoát khỏi vòng tay của mợ :
“ Em tắm đi, thay đồ rồi mình ăn tối…”
Mợ õng ẹo:
“ Anh vào..tắm cho em đi ”
Ói trời..lại nữa…Gã thừa biết “tắm cho em” là tắm thế nào.Xịt nước mọi nơi mọi chỗ từ núi cao rừng rậm tới vực sâu., Chỗ nào mợ cũng vít đầu gã xuống , đặc biệt một chỗ mợ cười hắc hắc rồi bắt gã dùng lại làm theo chỉ đạo của mợ cho đến khi mợ giật nảy lên mới tha.
Tối này cũng vậy. mợ bắt gã tắm cho mợ cả tiếng đồng hồ mới tha.
“ Anh ngoan lắm..đáng cho em yêu lắm…”

                       (còn tiếp)


Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Nhật Tiến vẫn đứng ở ngoài nắng - Mai Thảo



Một buổi chiều Sài gòn, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cùng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bỗng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vỉa hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mới mở, như hàng ngàn cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Sàigòn lúc bấy giờ. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ xậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lúi húi với một chậu nước và một chồng bát đĩa nhớp trước một gốc cây.

Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát cùng trước một vỉ tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thủ của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cùng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bốc khói xanh um, chị Nhật Tiến má hồng cái củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc, đang phụ một tay với ông bố nhà văn.

Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cùng đã lăn xả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ, mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một cõi bờ, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn hình nghìn vẻ của ta. Và đương nhiên đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến.

Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngừng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa Số Sáu xuống, vui vẻ hội nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến:

- Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ?

Và Nhật Tiến đã cười, nụ cười bình thường chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo:

-Giỏi quỷ gì. Việc phải làm thì phải làm. Để cho ai đây.

***
Suốt thời gian những năm sau, buổi chiều hè đường Duy Tân hôm đó thường hằng trở lại trong trí nhớ tôi. Mỗi lần nghĩ đến Nhật Tiến ở xa. Mỗi lần nghe nói về Nhật Tiến. Trở lại, thời kỳ tôi nằm ẩn ở một xóm nhỏ bên quận Bình Thạnh, nghe nói Nhật Tiến cùng dự một khóa học tập chính trị với Hoài Bắc, Thái Thanh, Lệ Hằng và Nguyễn Thị Hoàng. Khi ở Tây Bắc, được tin Nhật Tiến đã cùng gia đình vượt biển. Khi nghe Ko Kra đảo quỷ. Khi đọc Songkhla trại tù. Khi thấy bản văn đầu của Nhật Tiến gửi sang từ đất Thái. Lúc nhận được bạch thư cứu nguy người vượt biển, cáo trạng gửi đi cùng khắp thế giới về cướp biển Thái Lan. Và mới đây chuyến đi Âu Châu của Nhật Tiến. Và vừa đây, một buổi trưa chủ nhật, đến gặp tác giả Thềm Hoang trong ngôi nhà mới dọn đến của gia đình ông ở đường King, một khu vực yên tĩnh của thành phố Santa Ana. 
***
Ba giờ chiều. Nắng cuối năm có hơi lạnh lùa vào từ một triền núi xanh thẫm ở xa xa gợi nhớ tới đỏ au rạo rực những gò má thiếu nữ Đà Lạt những mùa thu về trên cao nguyên và thông rừng đất nước. Ngôi nhà thấp. Thảm cỏ trên lối vào. Cửa ga-ra mở rộng. Căn phòng khách, hai họa phẩm lập thể lớn treo tới sát trần ngó xuống tấm hình trẻ măng tươi cười của người đoạt Giải Thưởng Vãn Chương Toàn Quốc 196l, tấm hình đánh dấu thời kỳ chủ bút Thiếu Nhi, thời kỳ giám đốc Huyền Trân. Mặt bàn, chân ghế bừa bộn sách báo, tài liệu và những xấp photocopie bản thảo, là phương cách cất giữ từng dòng chữ viết ra cực kỳ cẩn thận ở Nhật Tiến. Chuông điện thoại reo. Thấp thoáng một bóng con gái. Đứa cháu chiều nào nơ cài mái tóc , váy xếp chững chạc ngồi phụ bố một tay dưới gốc cầy Duy Tân, đã thiếu nữ và đang quay lưng điện đàm với bạn. Rồi Nhật Tiến, tóc ngắn, kính trắng, rắn rỏi từ một phòng trong nhanh nhẹn đi ra.

Một tách trà nóng. Ông tới muộn vậy. Và trong khi Nhật Tiến chọn vài tấm hình cho in trong phần chân dung, tôi nhìn ngắm người bạn đã có những hoạt động tích cực mạnh mẽ nhất trong bọn chúng tôi từ ngày tới Mỹ. Bảy năm đã trôi qua. Bảy năm thân thế tử sinh, xấp ngửa hình hài, kín trùm giông bão. Bảy năm của ở lại, của lên đường, của gặp nạn, của tới bến. Mỗi chặng, mỗi đoạn của hành trình một đời là một tầng đầu, một tầng hai địa ngục. Nhưng bản năng tồn tại và khả năng phục hồi ở Nhật Tiến thật mạnh, khiến so với ở nhà thấy ông cũng chẳng đổi thay gì mấy.

Như những người có một tầm vóc nhỏ nhắn, rằn rỏi, lại sống một đời sống hàng ngày rất lành mạnh chừng mực - điều nầy thấy thật rõ ở người bạn thân của ông là Lê Tất Đlều - Nhật Tiến chưa hề bị khối đá tháng ngày đè nặng, vẫn ở giữa vùng trời sáng láng nhất của tuổi trung niên. Hèn nào đời sống vẫn băng băng, thế sống vẫn lấp lánh, dáng sống vẫn mũi kiếm, những hoạt động nhiều mặt vẫn thật đều thật khỏe. Ông nói lát nữa đi họp. Sẽ có bài thuyết trình ở hội nghị giáo giới. Ông thuật vừa ở Sacramento về, kêu gọi cứu nguy người vượt biển, tố cáo tệ nạn hải tặc, Nhật Tiến vừa rời khỏi Songkhla rồi lại hoành hành dữ dội ở vịnh biển Thái Lan. Những việc làm khác, không nói, chiếm hết thời giờ, lấp đầy được cái khoảng trống vĩ đại mọi người đều ít nhiều cảm thấy về ngày tháng trên xứ sở nầy. Sống và viết. Đi và thuyết trình. Đến và hội nghị. Trở lại và lên tiếng. Hai trăm trang bạch thư. Một trăm trang cáo trạng. Thơ nói sẽ trở về dòng sông xa. Truyện kể những khốn cùng xã hội. Tiếp tay cho con tàu Akuna. Đặt lại vấn đề in lại sách. Một con người toàn phần của cộng đồng. Một tham dự thường trực với tập thể. Tiếng Kèn đã in ra. Sắp in tiếp Mồ Hôi Của Đá. Hôm qua, theo anh em Khai Phóng đi cắt cỏ mướn trong những khu vườn Beverly Hills, vầng trán cháy nắng. Chủ Nhật chăn đoàn sói con đi cắm trại, cái khăn vàng ở cổ, hướng đạo từ ngày xưa, vẫn huynh trưởng bây giờ.

***

Đó Nhật Tiến hiện giờ, Nhật Tiến lưu vong, Nhật Tiến ở Mỹ. Nhật Tiến mà Võ Phiến: hắn còn viết được khá lắm ông ơi, mà Đỗ Quý Toàn : hắn tới rồi thúc đẩy mọi người cùng phải viết. Nhật Tiến của lát nữa ra khỏi nhà đi họp, chiều tối mới về, sáng ngày mai lại cắt cỏ dưới nắng, ngọn đèn bàn viết sáng mãi tới khuya cho bài tham luận phải hoàn tất đêm nay.

Tôi ra về, cho Nhật Tiến đi họp. Tác giả Thềm Hoang đã ra xe: Hôm nào ông tới đây ngủ lại một đêm, mình trò chuyện. Ừ, hôm nào sẽ tới.

Bốn giờ chiều. Cái nắng cuối năm của Santa Ana vẫn trải lụa trên những lòng đường yên tĩnh. Cái nắng càng về chiều càng tuyệt đẹp. Cái nắng rất mùa thu, lả lả, ngây ngây, châm kim vào da thịt, như từ một tứ thơ Đinh Hùng thả xuống, như từ một trang tiểu thuyết Nhất Linh đi ra. Cái nắng còn đuổi theo bước chân của Dũng vượt biên giới sang Tầu, tà áo của Loan vẫn thấp thoáng ở trong vườn, tinh yêu lớn lao một đời thả không tiếng những nụ hoa vàng lên mái tóc. Cái nắng Chủ Nhật, cái nắng cực kỳ thanh bình, cực kỳ an toàn còn ở quanh tôi từ ngôi nhà Nhật Tiến đi ra, suy nghĩ tới những cõi nắng, những trời nắng, những cái nắng khác. Cuối cùng là con đường phải cuốc bộ thăm thắm mịt mùng qua những cánh đồng cháy nắng, những đồi trọc hoang vu đầy những hố bom. Nắng ấy, cháy rực, thiêu đốt là nắng trong “Mẹ Tới Giữa Mùa Xuân”, một truyện ngắn mới của Nhật Tiến. Từ một nhà giáo mẫu mực, hiền hòa, nhỏ nhẹ Ba Sinh đã biến thành một con người dầm mưa dãi nắng suốt ngày ngoài đường phố. Cái nắng cơ cực ấy được tả trong “Trận Đánh Cuối Cùng Của Một Kẻ Sĩ”, một truyện ngắn mới nữa, vẫn của Nhật Tiến. Nhà giáo. Ba Sinh. Nhật Tiến đó không, một phần nào trong nhân vật? 

***
Còn bao nhiêu những cõi nắng khác chói chang, dữ dằn đổ lửa như vậy. Những cái nắng thế kỷ, bỏng cháy vai trần hàng triệu con người lầm than trên trái đất, những con người mất quyền làm người, theo Nhật Tiến "nạn nhân của thế lực tiền bạc và thế lực bạo lực” . Những cái nắng Việt Nam. Ôi, cuối cùng là những cái nắng Việt Nam. Nhễ nhại trên bãi mìn Long Giao, nơi đôi chân tù đày của Phan Nhật Nam trên những mảnh thủy tinh vỡ. Ngùn ngụt ở K1, K2. Pleiku, nơi Nguyễn Sỹ Tế, Mặc Thu vác nặng lội qua suối khô trong mệt lả những trưa rừng. Rời những cõi nắng lên đường, những giải nắng vượt tuyến, những thác lửa trại đảo. Hai ngày ở bãi đáp. Bốn phía chung quanh sinh lầy mặn chát. Một tháng lênh đênh ngoài biển Đông, nắng quỷ múa cười trên ngàn con sóng dữ, những da dẻ cháy xém, boong tàu lửa bỏng, hải tặc tràn sang, cái nắng kẽm gai trên Ko Kra làm điên loạn thần phách, cái nắng ở Songkhla dưới những tấm tôn hực lửa trên đầu.

Những trong nắng và những ngoài nắng ắy. Nhật Tiến đã thấy đã trải qua, đã viết ra, đã thuật lại. Gọi đó là nắng cáo trạng, nắng bạch thư, gọi đó là nắng Koh Kra, nắng Nhật Tiến. Trước cái khuynh hướng muôn thuở của con người là sự kiếm tìm những tàn cây đầy bóng mát cho tâm hồn và đời sồng, văn chương bây giờ của Nhật Tiến, những vận động, những lên tiếng không ngừng của Nhật Tiến cho thấy ông vẫn lựa chọn đứng ở đó. Ngoài nắng. Dưới nắng. Thái độ đó có thể bị nhìn thấy là khô cứng quá khích. Hoặc với những tâm hồn đã bóng rợp, một đọa đầy vô ích. Tôi chỉ nhìn thấy tự nhiên và bình thường nơi người nhà văn lưu đày ở Nhật Tiến một ý muốn. Cái ý muốn được đứng cùng, đứng mãi với vượt biển thê thảm như đứng với quê nhà, với Việt Nam.


MAI THẢO
(trong tác phẩm Châ