mười hai.
Dấu hiệu đầu
tiên của xã hội con người chúng tôi bắt gặp dẫu rằng chỉ là một bãi phân trâu
khôn cũng đủ làm cho thằng hộ pháp mừng quớ lên, làm tôi bồi hồi, còn thằng học
giả buông một câu triết lý: “Không có cái gì dính dáng đến con người mà lại
không làm tôi chú ý” rồi cứ đứng đực ra trầm ngâm mãi khiến tôi phải quát lên:
“Phát đi chứ,
mày định nghiên cứu cứt trâu khô đấy hả?”
“Sao không? Nếu
nó có thể nói lên một điều gì đó v về con người. Mày xem đây có phải nó gồm
nhiều loại xơ của nhiều loại cỏ và cây khác nhau không? Điều đó chứng tỏ trâu
được chăn thả tự do chứ chưa có chuồng trại tập thể.”
“Vậy đã sao?”
“Không sao, nó
chỉ chứng tỏ trình độ tổ chức sản xuất ở đây chưa cao.”
“Thôi bố...”.
Tôi lại đành
phải quát lên cho nó buông cái mớ chữ nghĩa của nó ra để cầm lấy con dao cùng
với tôi phát cái đám tre gai bùng nhùng này đi. Trong cái nghề của bọn tôi “mồm
miệng” không thể đỡ “tay chân” được, cứ phải xấn tới phát thật lực nếu không
muốn đứng ỳ ra giữa rừng cây.
Bởi vậy ông
toán trưởng đã rất khôn ngoan khi xếp thằng học giả luôn luôn đi đầu để phía
sau tôi và thằng hộ pháp thúc vào lưng nếu không nó sẽ tụt lại phía sau lảm
nhảm làm sốt ruột đến eả ông toán trưởng vốn kiên nhẫn nhất. Thằng hộ pháp
ngược hẳn lại, một khi đã cầm con dao vào tay đố có cạy răng lấy nửa lời, nó cứ
phát hùng hục cho tới khi ông toán trưởng thổi còi mới dọn sơ một vạt bằng,
quăng dao nằm ngửa ra thở. Có lần như thế, tôi chỉ lên trời hỏi nó:
“Tao đố mày đám
mây đang trôi qua kia giống hình cái gì?”
“Hình cái con
cặc... Mệt bỏ bố, nằm mà nghỉ còn hỏi rắc rối.”
Dĩ nhiên tôi
không giận nó, tôi cứ nhìn theo đám mây có lúc giống như một con ngựa đang hí
rung cả bờm nhưn g cái miệng lại mím thật chặt, có lúc lại thấy như có cả đoàn
người đang dắt díu nhau lên trời. Tuy nhiên, cũng có lần tôi đang sướng run lên
sắp tìm được một hình ảnh lý thú, tiếng còi ông toán trưởng lại toét lên, xua
cả đám mây Iẫn sự tưởng tượng về nó bay di mất. Đương nhiên trong việc này
không ai có lỗi cả. Ông toán trưởng có nhiệm vụ thổi còi, còn tôi chỉ ngắm trời
vào ngoài giờ sản xuất. người có lỗi chỉ là thằng học giả, vừa phát cây nó vừa
lẩm bẩm:
“o khó là cái
cửa sổ... o khó là cái cửa sổ...”
Tôi biết thừa
nó đang học tiếng Nga, nó bảo một ngày phải học mười từ trong lúc đi làm, tôi
mặc kệ nó, chỉ có ông toán trưởng đôi lúc cằn nhằn: “Cậu phải làm việc với cả
hai bàn tay và khối óc chứ. Như vậy sao gọi là toàn tâm toàn ý phục vụ sản xuất
được”.
Những lúc đó,
nó tím mặt lại, nín lặng, chẳng biết nó nghĩ gì Thằng hộ pháp xui nó: “Mày cứ
nhẩm trong bụng thôi, ha hồ muốn học gì học, thánh cũng chả biết. Rồi nó tắc
lưỡi: “Mày học làm gì, càng học càng thành dở người như mày thì học làm gì, cứ
ngu như tao lại khỏe”. Tôi phải công nhận rằng lâu lâu thằng hộ pháp cũng nói
được một câu chí lý. Tôi cũng rất ghét học hành, sách vở lắm khi chỉ làm méo nó
đầu óc, cái gương thằng học giả càng làm tôi ghê sợ chữ nghĩa. Những kiến thức
người ta nhồi nhét cho tôi suốt trong những năm buồn tẻ và dài dằng dặc ở trại
mồ côi, tôi đã trả lại hết cho thày ngay từ khi ra trường. Cũng bởi vậy ông
toán trưởng có thể phát động đủ các phong trào, trừ ra mỗi việc bắt bọn tôi
đóng vở học văn hóa để thằng học giả dạy.
“Bắt cóc bỏ ớ a
còn dễ hơn bắt chúng mày ngồi làm toán”, nó than vậy rồi xin với ông toán
trưởng dẹp bỏ cái trò học hành ấyr đi. Thằng hộ pháp thì nói toạc móng heo: “
học thế này chẳng qua lấy thành tích cho mày và ông toán trưởng thôi, bọn tao
được cái gì? “ Từ đó không ai nhắc tới chuyện đó nữa. Xế chiều, khi mặt trời đang
chới với khuất sau những đỉnh núi xam xám, thằng hộ pháp đi trước bỗng nhảy
cẫng lên:
“Tới dường mòn
rồi, tới đường mòn rồi chúng mày ơi...”
Tôi vội vàng bỏ
cả bụi mây gai đang phát dở, luồn người lên trước. Quả thực cắt ngang tuyến
chúng tôi đang đi là một con đường nhỏ xếp đá, cây hai bên phát quang, ven
đường xếp những khúc gỗ bào nhẵn chắc làm ghế ngồi nghỉ cho người bộ hành. Tất
cả những thứ đó hẳn đều do bàn tay con người làm ra và điều đó bỗng làm tôi
mừng rỡ như người xa quê đột ngột được trở về nhìn lại ngôi nhà thân thuộc. Tôi
quăng dao nằm ngửa ra, dang tay dang chân trên con đường lổn nhổn đá, ngửa mặt
lên nhìn bầu trời xám ngắt, một con chim lẻ loi bay ngang và cảm thấy rất rõ
những nhọc mệt đang tan nhanh trong mạch máu. Thằng hộ pháp sục sạo trên đường,
lát sau nó xách về một cái rỏ tre cũ nát:
“Đúng con đường
này dẫn tới bản Mù U rồi các bố ạ. Cái rọ này dùng để đựng măng tre chặt trên
rừng gánh về nhà đây mà. Không biết sao lại vứt đây?”
Thật buồn cười,
cái máu “điều tra” của thằng học giả không khéo đã nhiễm sang cả thằng hộ pháp,
nó tần ngần đứng giữa đường, quay ngược quay xuôi:
“Đằng này về
đâu? Đằng kia về đâu?:
“Một đằng lên
núi, một đằng xuống biển”.
“Không, tao
muốn hỏi nó đi về cái xã, cái huyện nào kia?”
“Xã Lông Bông,
huyện Lang Bang, nước U tỳ...”
“Quê quán mày
đó phải không thằng mồ côi kia?”
Tôi biết nó sắp
nổỉ cáu vì làm nó cụt hứng muốn dẫn câu chuyện về cái xã có cô vợ ông xã đội
của nó. May thay, ông toán trưởng đã đi tới:
“Theo đúng bản
đồ, ta chỉ còn cách bản Mù U ba cây số nữa thôi”.
Thằng hộ pháp
nhảy lên:
“Đề nghị thủ
trưởng cho em tới đó trước”.
“Không được,
cấm không ai được đi lẻ. Phải quay về chỗ trú quân, hội ý chuẩn bị trước khi
vào bản”.
Buổi tối, ông
họp bọn tôi, sau khi thuyết rất dài về yêu cầu “Đi dân nhớ, ở dân thương”, ông
nêu ra tám điều kỷ luật, thí dụ như không được lấy của ai từ cái kim sợi chỉ,
không được trêu chọc phụ nữ, không được đi giày vào nhà theo đúng tập quán địa
phương... Quả thực những điều ông đề ra thừa đủ cho cả một đạo quân tiến vào giải
phóng một thành phố lớn. Thằng hộ pháp từ chiều đã kiếm đâu ra hai mảm bát vỡ
và với cái dụng cụ thô sơ đó, nó đã cạo được gần sạch bộ râu mọc nham nhở khắp
trên mặt. Nó cứ ngồi xoa mãi cái cằm nhẵn, giờ mới giơ tay:
“ Tôi xin hỏi
nhỡ có cô nào tặng mình cái gì đó thì có được nhận không?”
Thằng học giả
nói chõ:
“Tặng thì nhận
chớ sao không?”
Ông toán trưởng
lắc đầu quầy quậy:
“Không được,
không được, thế có loạn, nhỡ ra nó tặng luôn cái thân nó anh cũng đòi nhận sao.
Nhất thiết mọi thứ đều phải thông qua tôi”.
Thằng hộ pháp
ngồi ngẩn ra, rồi cười hềnh hệch:
“Vậy nếu có đứa
thế thật, tôi cũng phải mang cái thân nó đưa thủ trưởng thông qua trước... ?
“Tầm bậy, hết
sức tầng bậy...”
Ông toán trưởng
đỏ mặt tía tai, lấp liếm cái thẹn bằng một bài giảng dài dòng về quan hệ trai
gái. Ông nói rất hùng hồn đanh thép cứ như từ trước nay ông chỉ biết duy nhất
có mỗi bà vợ ở quê xa. Thằng cấp dưỡng ngồi cười khảy, mặt cứ khinh khỉnh làm
tôi hiểu rằng nó đang nhớ tới chuyến đi công tác năm ngoái với ông toán trưởng.
Hồi đó tao phải đi “điếu đóm” cho ông ấy mãi xẩm tối mới tới một xóm lại chỉ có
mỗi một cái nhà sàn, trong nhà lại có mỗi một con mẹ đàn bà. Cơm nước xong, bà
chủ trải chiếu ra ngay gần bếp cho thầy trò nằm, còn bà ta thì nằm phía trong,
cách có mỗi cái màn bằng vải thô. Mới chập tối ông đã giục: “Cậu đi ngủ trước,
đảm bảo sức khỏe, tớ còn phải hỏi chuyện bà chủ nhà nắm tình hình. “. Ừ thì ngủ
trước có sao, càng khỏe xác. Thế là tao lăn ra ngủ một mạch chẳng còn biết trời
đất. Mãi tới nửa đêm, bếp lửa đã tắt, lạnh quá tao mới thức giấc. Xung quanh
đèn đóm tắt hết, trời tối như mực, tao bỗng hết hồn vì có cái con gì sang sáng
to đằng con gián cứ bò dần bò dần vào phía gian trong. Mẹ ơi, phải con ma
không? Tao nhớ mẹ tao vẫn thường bảo không có ma, đi qua nghĩa địa mà thấy ma
trơi thật ra là lân tinh trong mả bốc lên nên sáng vậy thôi. Thế là tao đoán
ngay ra cái con gián đang bò chính là cái mặt đồng hồ dạ quang của ông toán
trưởng. Lát sau tao thấy nó biến mất, rồi lại nghe có tiếng hổn hển bên trong
màn, tao mới vỡ nhẽ. Sáng hôm sau ông ấy hỏi tao:
“Đêm qua ngủ
ngon không?”
“Dạ ngon lắm,
ngủ như chết chẳng biết gì. .
“ấy thế mà có
lúc cậu nói mê ghê quá.”
“Dạ cháu nằm mơ
đấy ạ, cháu nằm mơ thấy con ma trơi nó cứ bò bò trên sàn nhà.”
Ông ta tím mặt
lảng phắt sang chuyện khác cứ như đêm qua không hề có chuyện gì xảy ra. Thằng
cấp dưỡng đã kể tôi nghe chuyện này với giọng giận dữ và cay đắng như thể chính
nó là đức ông chồng bị cắm sừng của bà chủ nhà vậy.
Tan họp, thằng
hộ pháp nhăn nhó:
“Thắt buộc như
thế, thà tao mắc võng nằm ngoài rừng còn hơn.”
Thằng học giả
khoái chí:
“Tao rất tán
thành 8 điều quy định của ông toán trưởng, muốn cấm gì thì cấm, không cấm cái
chuyện gửi thư là được rồi. Mà nói thật không thắt buộc vậy, mày động đực lên,
có mà loạn cả bản.”
Thằng hộ pháp
bĩu môi:
“Cái nọai trí
thức dở hơi như mày mới ham ngủ với nhau trên giấy. Tao hỏi mày thư từ thì béo
bổ cái nỗi gì.”
Tôi phải can
hai đứa không lại thành cãi nhau. Thằng cấp dưỡng dừng dậy, đập tay lên vai
thằng hộ pháp:
“Mày ngu lắm,
việc gì phải thắc mắc, cứ ăn vụng rồi chùi sạch mép thì đã sao. Đời này thiếu
gì thằng chỉ giỏi nói miệng thôi, bụng thì thối như cứt ấy.”
Thằng hộ pháp
ngẩn mặt, mắt sáng lên ra vẻ đắc ý lắm. Nó leo lên võng nằm một chặp rồi còn
giở mình kêu to:
“ối giời ơi,
tao nhớ con vợ thằng xã đội quá..”
Không đứa nào
để ý tới nó, trong đêm trước ngày gặp lại “xã hội con người”, hình như mỗi đứa
đều chìm đắm trong những riêng tư, thằng học giả hẳn nghĩ tới cô nàng búp bê,
thằng cấp dưỡng nhớ mẹ, ông toán trưởng không hiểu có nhớ bà vợ quê xa hay là
bà Trưởng phòng dạo trước không? Thế còn tôi, cố nhắm mắt nhớ về cái gì đó mà
chẳng được. Những căn phòng ố vàng kê hàng loạt dãy giường giữa bốn bức tường
cao vợi trại cô nhi, căn nhà lợp lá gồi bốn bề gió thổi trong trường thành niên
vừa học vừa làm? Không, những hình ảnh hãi đó đã vùi sâu trong ký ưc. Và nghĩ
cho cùng, cũng chẳng có ai để mà nhớ. Bà phước già nua và nghiêm nghị, ông thầy
phụ trách lớp vừa học vừa làm... những con người đó làm nhiệm vụ của họ và tôi
làm nhiệm vụ của tôi, ngoài ra chẳng có gì mà bồi hồi, luyến nhớ. Vậy nhưng
cũng giống mấy thằng kia: tôi cũng thao thức chẳng ngủ được, cứ nằm ngửa trên
võng mở mắt nhìn bầu trời chi chít sao qua kẽ lá rừng. Câu chuyện về cái lỗ đen
trong vũ trụ của thằng học giả đêm nào lại nhắc tôi tới cái vực sâu trong con
người mà tôi đã cảm nhận được một cách rất cụ thể hôm nó trượt ngã ở vách đá.
Tôi cố nhớ lại cảm giác đó bằng cách tưởng tượng mình đang cheo leo trên vách
đá nhìn xuống dòng sông sâu hút bên dưới. Tuy nhiên, ngoài hình ảnh cụ thể đó,
tôi không nhìn thấy vực sâu nào hết ở trong tôi mà lần trước tôi đã thấy. Nó đã
biến mất dường như chưa hề có nó. Tại sao như thế nhỉ? Tôi vùng dậy khỏi võng
và bước tới hỏi thằng học giả đang lúi húi viết. Nó ngước lên nhìn tôi như thể tôi
đang lên cơn thần kinh.
“ Mày chỉ cảm
thấy cái hố thẳm ấy chừng nào mày hết sức thành thực với chính mày”.
“Cái đó tao có
thừa”.
Thằng học giả
gật đầu:
“Vậy cũng chưa
đủ, phải thêm một diều kiện nữa: mày phải sống giả dối với mọi người “.
“Mày lại lên cơn
dở hơi rồi”.
Thằng học giả
bật cười:
“Cái óc bã đậu
của mày hiểu sao được nhưng nghịch lý. Thôi cứ sống cỏ cây như thằng hộ pháp
kia cho khỏe xác, khỏi thắc mắc làm gì những chuyện siêu hình của con người.”
Tôi không giận
nó mà còn ngồi xích lại gần:
“Mày viết thư
cho con búp bê phải không? Tao cứ thắc mắc sống thế này có chuyện quái gì, sao
mà mày viết cho nó lắm thế? Mày bịa chuyện ra phải không?”
Nó nói mộtt
cách rất nghiêm trang:
“Đối với thượng
đế của chính tao thì không bao giờ tao nói dối...”
Nó cúi xuống tờ
giấy đang viết với cái vẻ dù có cạy răng nó cũng chẳng thèm nói câu nào. Tôi
quay lại võng ôm nỗi thắc mắc thằng học giả vừa quẳng vào tôi nặng chịeh trong
lòng, khiến mắt cứ giương lên. Nói láo, nó nói láo. Không ai có thể giả dối với
mọi người mà lại thành thực với chính mình đươc, “nghịch lý” là cái thứ nó bịa
ra thôi, muốn thấy lại vực sâu ấy trong con người mình, tôi chỉ có cách lại
treo người trên vách đá nhìn xuống rồi nhắm mắt lại như lần truớc. Tôi yên tâm.
không nghĩ ngợi nửa và rồi khi sắp chợp đi, bên tai tôi thoảng tới một thứ âm
thanh nào đó rất mơ hồ. Tôi chợt tỉnh và nhận ra trong luồng gió đang ào tới
văng văng có tiếng chó sủa. Tôi nhỏm dạy hỏi thằng học giả vẫn đang còn lúi húi
viết:
“Mày nghe thấy
gì không?”
“Có tiếng chó sủa
từ nãy, bản ở gần đây lắm rồi. Trưa mai tao gửi thư được thôi”.
“Tao nghe tiếng
chó lạ lắm. Cứ như là nó đang tru lên ấy. Nghe sởn cả gai ốc”.
Thằng học giả
cười nhếch mép:.
“Ma hú đấy,
trên miền núi này hay có ma cà rồng lắm. Mày sợ không?”
Tôi không sợ,
nhưng một ám ảnh bất an nào đó cứ đeo lấy tôi khi tôi chúi đầu vào sâu trong
chăn. bên tai vẫn văng vẳng có tiếng chó tru lên ai oán...
(còn
nữa)
PHỤ LỤC :
LES
GOUFFRES DE L’ÂME
Entretien de
Mireille Gansel avec Phan Huy Duong
*
La Quinzaine
Littéraire, n° 840
« Je
fixai la lune suspendue dans le ciel, sorte de barre de fer chauffée à blanc et
tordue. Moi qui avais horreur des histoires compliquées, j’allais être servi. »
MG : Ce
livre a été publié en 1988. Mais les faits qu’il relate, peut-on les dater ? A plus d’un
égard, il me fait penser au Procès de Kafka. Le Procès est à la fois intemporel
et historiquement, culturellement, politiquement daté.
PHD : Pour
le lecteur occidental, ce livre évoque irrésistiblement Kafka. Pourtant son œuvre est
quasiment inconnue de la plupart des Vietnamiens et n’a eu aucune influence
dans la littérature contemporaine du Vietnam à ce jour. Néanmoins, comme pour
le Procès, ce livre est à la fois historiquement, politiquement daté tout en
étant par certains côtés intemporel.
1988 est
l’année de relative libéralisation de la publication des S_uvres littéraires
dans la logique de la politique de Renouveau (Dôi Moi, 1986) destinée à sortir
le pays de l’effondrement économique. C’est alors qu’une nouvelle génération
d’écrivains vietnamiens (Nguyên Huy Thiêp, Duong Thu Huong, Pham Thi Hoai, Bao
Ninh, etc.) a trouvé son public à travers des S_uvres où elle ose affronter des
problèmes auparavant tabous.
MG :
Est-ce que la double métaphore, ‘la jungle’ et ‘le retour’, qui sous-tend ce roman est elle-même
politiquement datée ?
Très
certainement. Le roman relate la vie d’un groupe d’hommes qui explorent la
jungle afin de tracer une route : « au départ de la mission, il
nous avait dit que cette route revêtait une importance stratégique, qu’elle
servirait à ravitailler des villes qu’on développerait dans le futur ». Le
thème évoqué ici est une métaphore de la recherche d’une voie de
développement économique pour le pays dans les années où l’ex-système
socialiste s’effondrait et où le Vietnam souffrait de disette. Il reprend dans
les conditions de l’après-guerre un thème rendu célèbre dans la littérature du
pays par le poète Chê Lan Viên : L’Homme qui chercha la voie pour libérer la
Patrie (c’est-à-dire Hô Chi Minh).
Retour à la
jungle. La jungle était le point de départ de la libération du pays. Ici, elle devient le point
de départ d’une nouvelle aventure : la construction du pays.
MG : En
quoi cette métaphore si vietnamienne évoque-t-elle littérairement Kafka ?
PHD :
Formellement, le récit évoque le Procès. Cinq hommes errent dans une jungle sans fin qui
représente en fait le monde où ils sont ‘condamnés’ à vivre pour réaliser une
mission dont ils ne devinent ni le sens, ni la fin. Ils ne sont reliés à
l’extérieur que par un vieil émetteur-récepteur qui leur donne des ordres qui
semblent venir d’un autre monde, des ordres ubuesques, sans explications
ni justifications.
MG : Mais
chez Kafka, le ‘héros’ est seul.
PHD : Ici
réside la différence culturelle. Le sujet pensant de Descartes si cher aux Occidentaux constitue
une nouveauté dans la culture traditionnelle du Vietnam. Il n’a commencé à
apparaỵtre dans la littérature vietnamienne qu’au début du 20e siècle à travers
l’accueil de la littérature française. Dans ce roman, le ‘héros’ est en fait
une petite communauté humaine liée par un destin commun. Malgré tout ce qui les
oppose entre eux, il reste, au moins sur le plan affectif, une solidarité très
caractéristique des communautés villageoises.
(à suivre)
HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN
Trao đổi giữa Mireille Gansel và
Phan Huy Duong
La Quinzaine Littéraire,
n° 840
"Tôi ngước nhìn trời đêm lơ lửng ông trăng
như một cục sắt uốn cong bị nung đỏ. Tôi không ưa nghe những chuyện “rắc rối
cuộc đời “ nơi phố phường .."
MG: Cuốn sách
này xuất bản năm 1988. Nhưng liệu có xác định được thời gian các sự kiện
trong đó không ? Hơn thế nữa, nó làm tôi liên tưởng tới "Vụ án" của
Kafka. "Vụ án" vừa vượt thời gian và vừa có tính lịch sử,văn
hóa, chính trị .
PHĐ : Với người
đọc phương Tây, cuốn sách này gợi tới Kafka một cách không cưỡng nổi Tuy
nhiên, phần lớn độc giả Việt Nam hầu như không biết tới tác phẩm này và tới nay
nó cũng chẳng có mảy may ảnh hưởng tới văn chương hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên,
giống như với "Vụ án", cuốn sách này vừa mang tính lịch sử vừa mang
tính chính trị, và về mặt nào đó nó vượt thời gian
Năm 1988 là năm
tương đối cởi mở trong xuất bản các tác phẩm văn học với trào lưu "đổi mới" (1986) nhằm cứu
đất nước ra khỏi nền kinh tế suy sụp. Vì thế đã xuất hiện một thế hệ mới các
nhà văn (Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Tị Hoài, Bảo Ninh.. vv) đã dám
động tới những vấn đề trước đây cấm kỵ…
MG: Phải chăng
biểu tượng kép 'rừng' và 'sự trở về' làm cuốn sách có nền tảng chính trị ?
PHĐ :"
Chắc chắn vậy . Cuốn tiểu thuyết mô tả cuộc sống của một nhóm người khảo sát
rừng nhằm vạch một tuyến đường : " Lúc
bắt đầu thăm dò tuyến đường, các ông bảo nó rất quan trọng, nó là con đường
huyết mạch để phát triển miền núi tương lai", Đề tài gợi ra ẩn dụ của
việc tìm kiếm con đường phát triển kinh tế cho một đất nước nơi hệ thống xã hội
chủ nghĩa trước đây sụp đổ và nơi Việt Nam bị nạn đói. Ông viết trong các điều
kiện hậu chiến của một lý thuyết nổi
tiếng trong văn học trong nước do nhà thơ Chế Lan Viên gợi ra :" Người đi tìm đường giải phóng Tổ Quốc ( tức
Hồ Chí Minh )
"Đi về nơi hoang dã ". Nơi
hoang dã là điểm xuất phát cho cuộc giải phóng đất nước. Ở đây nó đã trở thành
điểm xuất phát cho cuộc phiêu lưu mới : kiến thiết đất nước
MG: Vì sao cái
ẩn dụ rất Việt Nam này lại gợi ra văn chương Kafka ?
PHD: Rõ ràng
câu chuyện gợi lên "Vụ án". Năm người đàn ông đi lang thang trong
khu rừng bất tận mà thực ra là biểu
tượng cho thế giới mà họ bị "kết án
phải sống" dể thực hiện một sứ mạng mà họ không hiểu được ý nghĩa
cũng như kết cục. Họ chỉ được kết nối với thế giới bên ngoài bằng chiếc máy vô
tuyến điện dường như từ một thế giới khác ra lệnh cho họ những yêu cầu cục,
không giải thích cũng không biện minh.
MG :"
Nhưng trong "Vụ án" chỉ có một nhân vật !
PHĐ : Ở đây có
sự khác biệt văn hóa. Các chủ đề tư tưởng của Descartes rất gần gũi với người phương Tây nhưng lại rất mới trong văn
hóa truyền thống của Việt Nam. Nó bắt đầu xuất hiện trong văn học Việt Nam vào
đầu thế kỷ 20 thông qua việc tiếp nhận văn học Pháp. Trong cuốn tiểu thuyết
này, các 'nhân vật' thực sự là một cộng đồng nhỏ của con người được liên kết
chung một số phận. Mặc dù mọi thứ chọi
nhau nhưng vẫn còn, ít nhất là về mặt cảm xúc, tinh thần đoàn kết rất đặc trưng
của cộng đồng làng xã.
(còn tiếp)
Tiểu thuyết do
Phan Huy Đường và Đặng Trần Phương dịch từ tiếng Việt
Nhà xuất bản Philippe Picquier