Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

SỐNG NHƯ LÀ CHẾT - -Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 23

                                      Chương 23



Gã lần  mò theo bậc lên tận đỉnh núi Nùng giữa vườn Bách Thảo. Trời nhá nhem tối, nhìn xuống đây đó từng đôi ngồi dưới gốc cây, lập lòe đốm  thuốc lá. Gã cũng đã vài lần ngồi với cô trong những tối em cúp cua Anh văn. Có lần cô ôm lấy gã thì thầm :
 " Anh đang nghĩ gì thế ?"
 " Anh chẳng nghĩ gì"
 " Không nghĩ đến em à ".
Gã bật cười :
" Đã ôm nhau thế này còn phải nghĩ nữa kia à ?"
Cô bướng bỉnh :
" Nhỡ anh nghĩ tới cô khác thì sao ?"
Gã đè cô bật ngưả trên nền cỏ ẩm ướt và êm ái :
" Có còn muốn nghĩ nữa không ?"
Cô im bặt cắn vào vai gã đau nhói. Đúng là không ai nghĩ gì trong lúc này. Cả hai thân thể cuống quýt ghì xiết nhau trong tiếng thở gấp gáp. Khi buông gã ra, cô hôn lên mắt gã và lại hỏi :
" Anh có yêu em không ?"
" Không yêu mà lại thế này ư ?"
Cô ngúng nguẩy :
" Em muốn anh nói rõ có hay là không cơ …"
Nhưng đó là chuyện đã qua, bây giờ  "bốn mắt người …bốn mắt thủy tỉnh…" rồi. Đứng trên đỉnh núi Nùng, bất chợt gã chụm tay lại làm loa :
" Có…anh có yêu em…"
Tiếng gã vang vang như những lớp sóng đuổi nhau lan truyền trong không gian tối.Cô có nghe thấy không ? Chắc là có, nhưng với cô mọi việc  đã xong, đã hoàn tất…affaire accompli…. Thì tình yêu suy cho cùng cũng là một thứ áp-phe chứ sao ? Gã cay đắng bò xuống núi . Trời đã khuya lắm. Gã còn đủ tỉnh táo mở khóa xe và đạp đi trong phố tối…Một gã cảnh sát đứng đầu đường nhìn gã và sờ tay vào súng .
" Thôi này đừng bắn nữa…
trái tim tôi vừa có một lỗ thủng
Đã rơi vào đó thiên đàng tôi mới có
Ngọn gió nào luồn lọt kẽ tay?
Mộng tưởng trắng về đâu đêm nay ?
Hàng phố ngủ rồi …
cả con chuột cũng thôi không thập thò miệng cống
Chỉ có tôi vẫn phải đi với lỗ thủng này…"
Bài thơ vụt hiện trong gã. Phố xá vắng tanh. Chỉ có gã đạp xe loằn ngoằn trên mặt đường. Giá như chưa chia tay, thế nào gã cũng khoe cô bài thơ.  Nhưng cô không thích gã làm thơ.
"Thơ anh "du đãng" lắm. Anh viết truyện ngắn hay hơn. Cứ mỗi truyện ngắn em trả cho anh một trăm đồng. Được chưa ?"
Một trăm đồng thời đó lớn lắm. Phở gà Huyền Trân công chúa có 3 đồng một bát đặc biệt. Cô nói vậy thôi, sinh viên năm cuối làm gì có tiền. Thỉnh thoảng vòi mẹ được 4 đồng cô lại đẩy gã vào phở Thìn.
" Anh vào ăn đi…"
" Sao em không vào ?"
" Đủ tiền một bát thôi, anh ăn đi em chờ ngoài này…"
Gã quát lên :
" Bộ em coi anh là thằng khốn nạn ?"
Gã lôi cô đi sềnh sệch. 4 đồng hôm đó cũng mua được hai cái bánh mì batê ngồi ghế đá hồ Thuyền Quang ăn với nhau và cười  rinh rích. Gã ngửa cổ nhìn trời cao xanh ngăn ngắt.
" Anh có biết em nghĩ gì không ?"
" Em nghĩ gì ?"
" Em nghĩ nếu có cái rìu em sẽ bổ vỡ đầu anh coi trong đó có gì ?"
Gã ôm lấy cô cười rú :
" Ôi trời …em tôi thông minh quá…Mình đi uống "nước trắng" đi !"
" Tiền đâu ?"
" Yên trí…anh "cắm" bìa mua chất đốt ở quán bà Dậu rồi.Còn "giầm đạn" lắm…"
" Chết…vậy anh nấu cơm bằng gì ?"
Gã cười hì hì :
" Bấc đến đâu…dầu đến đó…lo gì ?"
Gã chẳng biết "dầu đến đó" thì gã ăn gì, hẵng cứ ngồi quán đưa cay cái đã. Hết bìa chất đốt lại đến bìa thực phẩm. Không có dầu nấu thì mua cá bể, đậu phụ…làm quái gì. Trước mắt cứ mang "cắm" là có ngay chén rượu với đĩa lạc rang lại chẳng hơn ư ? Thế là quên cả bụng đang réo òng ọc, gã mang bìa mua hàng đi "cắm" cái đã.
Gã đưa cô tới quán bà Dậu ở vỉa hè phố Nhà Thờ lớn. Đi qua tượng Nữ vương Hòa bình đang đứng trên cao, gã nháy mắt :
" Xuống làm chén "cuốc lủi" cho ấm bụng đi bà…"
Cô cười rinh rích, đấm vào người gã thùm thụp. Gã chọn một chỗ có thể dựa lưng vào tường, hai cái ghế gỗ với chiếc bàn bé tí. Gã gọi hai chén "cuốc lủi" và đĩa lạc rang . Cô nhấp chén rượu, mặt đỏ ửng sau chiếc khăn len choàng đầu. Gã nhìn đồng hồ :
" Muộn lắm rồi. Hôm nay em cúp cua à ?"
" Cúp chứ đến lớp làm gì. Tới lớp cứ nhìn mặt thầy Đức béo lại phát ngấy. Mặt thày đã ngấy rồi, môn lý luận văn học còn ngấy hơn…"
" Em cúp cua nhiều nó đuổi…"
" Cho nó đuổi…đi bán bánh trưng rán thích hơn…"
" Chết với bố mẹ…lột da em là cái chắc…"
" Phải rồi…em chỉ sợ ông bà bô. Hai cụ nghiêm lắm… không đuổi nhưng nhốt em trong phòng , khóa trái cửa là cái chắc…"
Gã cố nén một tiếng thở dài nhưng lại làm nó não nề hơn.
" Lỗi tại anh…anh chẳng làm được cái gì cho em ?"
Cô bật cười :
" Anh lại sắp làm dấu thánh giá " Lỗi tại tôi…lỗi tại tôi mọi bề "…Phải không ?"
Gã trừng mắt :
" Chắc anh phải bỏ việc đi buôn thôi…"
Cô lại cười :
" Anh không đi buôn được đâu…anh chỉ làm kỹ sư được thôi…"
" Anh chán thiết kế những chiếc "cầu giấy " lắm rồi…"
" Vậy là sao ?"
"Là thiết kế những chiếc cầu chỉ lưu trên giấy không bao giờ được mang ra thi  công…"
Cô cười nhoẻn :
" Em cũng có hơn gì anh… toàn học và viết ra những điều giả dối…chả có ích lợi gì… Em làm khóa luận về Lamartine thì thày trách sao không làm về thơ Sóng Hồng ? Con bạn em nó làm đề tài : 70% thơ trong "Nhật ký trong tù" là thơ Đường, thày sợ quá bắt xé ngay…"
Gã lắc đầu :
" Em muốn tốt nghiệp thì phải quên những thứ thực sự là thơ văn đó đi…cứ ca ngợi văn học cách mạng cho thật hùng hồn vào là bằng đỏ…"
" Vậy thì em toàn làm chuyện vô ích chẳng sinh ra cái giá trị gì ?"
Gã chua chát :
" Chẳng cứ gì anh với em…cả cái xã hội này đang chạy không tải…nom thì tất bật , bận rộn ghê lắm, nhưng kỳ thực toàn sản xuất ra giả sản phẩm…Như cái bọn tuyên huấn, tuyên giáo hùng hổ hò hét vậy nhưng kỳ thực sản phẩm tụi nó là những gì ? Toàn lặp lại những "tri hồ giả dã", những giáo điều đã chết của một thứ chủ nghĩa gọi là Mác Lê cứ luôn miệng ca ngợi bách chiến bách thắng mà thực ra thiên hạ nó vứt sọt rác từ tám đời nào rồi… "
Cô rầu rầu :
" Buồn nhỉ…cả tuổi thanh xuân của biết bao con người tiêu phí vào những công trình vô bổ, tô vẽ một lý thuyết giả dối…"
Gã cười  rinh rích :
" Em nói thế đến tai bố em thế nào cũng ăn đòn…"
" Em hay cãi bố lắm. Mẹ em phải can : bố làm cán bộ tuyên huấn, con lại nói năng như phản động. Từ giờ cấm nói chuyện chính trị trong nhà này…"
" Vậy rồi bố em bảo sao ?"
Cô cười phá :
" Bố sợ mẹ hơn sợ…đảng. Đang trong cơn say sưa thuyết con gái về tính ưu việt Mác Lê, mẹ chỉ lừ mắt cái là bố im thít…"
Gã cười cùng cục :
" Nhà em vui nhỉ !!!"
Nhà cô đây rồi. Trong nhà tối om, cửa đóng im ỉm. Gã vứt xe vỉa hè ngồi bậc thềm chụm tay vào hú "cúc cu…cúc cu…". Mọi ngày thế nào cô cũng hé của lách người ra với gã. Nhưng bây giờ…."cúc cu…cúc cu…" gã mỏi cả miệng cửa vẫn khóa chặt, không mảy may tiếng động. Thôi rồi …cô đã nói thực :"  Vậy thì chào anh…tôi hết chịu nổi …"
Gã bụm miệng lại "cúc cu…cúc cu…" lần chót. Trong nhà vẫn im bặt, không một tia sáng, không một tiếng động nhỏ. Thôi rồi " bốn mắt người …bốn mắt thủy tinh" thật rồi.
Gã chuệnh choạng đạp xe trong phố vắng, miệng lẩm bẩm :
" Lỗi tại tôi…lỗi tại tôi  mọi bề"…

                                             (còn nữa) 

25-7-2015









Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU – KỲ 201




                             (tiếp theo)



Ong Bí thư huyện hoảng hồn chối lia lịa :
“ Bà biết gì ? Bà biết cái gì mà bảo tôi vải thưa che mắt thánh. Xưa nay tôi có giấu bà cái gì đâu ?”
Bà vợ xì một cái vào mặt ông :
“ Thôi ông ơi, ông đừng có vừa ăn cướp vừa la làng . Tôi biết tỏng chuyện mẹ con nhà ông giấu tôi thuê bụng con Doan cho nó đẻ chứ gì ? Tôi biết từ lâu nhưng tôi cứ lờ đi để coi mẹ con nhà ông xoay xở sao ?”
Ong Bí thư huyện bị vợ bóc mẽ, tẽn tò, đành hạ giọng  :
“Bà biét rồi..bà biét cả rồi…vậy cũng hay…tôi khỏi phải trình bày dài giòng . Giờ đã đậu rồi, đã có kết quả rồi, tôi đã có con trai nối dõi rồi, giờ cứ coi như con của cả tôi lẫn của bà, cho nó về sống ở nhà mình…”
Bà Bí thư huyện cười khảy :
“ Sao ông nói dễ nghe thế, cứ ngon như ăn chuối  …”
Ong Bí thư huyện ngớ người :
“ Sao bà nói vậy…mình có con trai rồi thì đón về nuôi dưỡng nó chứ có khó khăn gì đâu ?”
Bà vợ ông Bí thư nghiêm mặt :
“ Tôi hỏi thật ông, nó có đúng là con ông không ?”
Ong Bí thư nói giọng chắc nịch :
“ Không con tôi còn con ai…tôi đã thuê riêng nó…có lịch từng ngày .. trật đi đâu được…”
Bà vợ ông cười nhạt :
“ Tôi không tin…khối đứa con gái nằm với một thằng lại chìa cái của nó cho thằng khác.Ong có ở sát cạnh nó suốt ngày suốt đêm đâu mà dám chắc là nó không chìa cho thằng nào ?”
Ong Bí thư cười cười :
“ Gớm cái bà này đa nghi còn hơn Tào Tháo. Con bé này con nhà nghèo, suốt ngày nó ở nhà với mẹ dọn cỏ trồng rau , có đi được đến đâu mà nghi cho nó…”
Bà vợ lắc quày quạy :
“ Tôi chưa  tin, tôi chưa tin nó đẻ con trai cho ông. Cứ phải chính mắt tôi chứng kiến . Thời bây giờ trẻ con nó lộn sòng vào nhà người ta thiếu gì.   Khối anh tò vò mà nuôi con nhện …”
Ong Bí thư lắc đầu :
“ Gơm khiếp cái bà này…cứ theo như bà nói thì xã hội này loạn à ? Toàn là con lộn sòng ?”
“ Chứ lại không ư ? Vậy ông không biết có ông Thứ trưởng vợ đẻ được hai trai ba gái. Ong nghi nhất thằng con đầu, tức là cô vợ có chửa rồi mới lấy ông, gây nên cảnh thằng ăn ốc thằng đổ vỏ.Ong cứ nghi nghi hoặc hoặc vậy, rốt cuộc khi ông về hưu rồi mới mang thằng con đầu ra thử máu. Hoá ra không phải con ông thật. Thế rồi tức mình ông lôi tuốt cả mấy đứa còn lại ra thử hết…”
Ong Bí thư huyện sốt ruột :
“ Kết quả ra sao ?”
Bà vợ toét miệng ra cười :
“ Cả 5 đứa chẳng đứa nào là con ông ấy cả…”
“ Trời ơi…trời ơi…lại đến thế nữa kia ?”
Ong Bí thư huyện đỏ cả mặt, vã cả mồ hôi ra. Câu chuyện bà Bí thư huyện đưa ra làm dấy lên trong ông nỗi nghi ngờ chẳng khác gì con rắn trong tim đang ngủ yên nay thức dậy phun nọc phè phè. Cái nọc độc của sự nghi ngờ đó chạy rần rần khắp ngừời khiến  ông không thể không nghĩ ngợi.Ong kiểm tra lại suốt thời gian ông thuê bụng cô Doan coi có lúc nào có thể sa sẩy ra bên ngoài được không ? Không, dứt khoát là không, không thể có chuyện cô Doan dám trốn ông, đi ngủ với thằng khác trong khi đã hạ bút ký cái hợp đồng đẻ thuê chặt chẽ đến từng câu từng chữ thế.
Ong cứ kiểm tra lần lần từng thời gian coi cô Doan có dấu hiệu khác lạ không ? Ong bỗng giật thót người nghĩ tới thằng  xe ôm chở cô từ bệnh viện bà mẹ trẻ em khám thai trở về. Liệu thằng này có “chơi” ông gửi con vào bụng cô Doan để rồi sau này dùng chính thằng con này chiếm đoạt tài sản của ông không ?
Không, không thể nào, cái con bé nhà quê ấy không táo tợn đến thế, không có gan làm chuyện tày trời như vậy, vả lại còn bà mẹ nữa, bà mẹ nhìn tướng tá cũng hiền lành , phúc hậu không thể là phường buôn gian bán lậu, lừa đảo trắng trợn. Giả dụ thằng xe ôm đó có là bồ cũ của cô ta đi nữa thì nếu mon men tìm đường trở lại không thể che giấu bà mẹ, nhất định sẽ lộ ra và bị bà mẹ cấm cản. Thì hợp đồng đã nêu rõ nếu cô Doan phản bội ông Bí thư huyện uỷ, đẻ ra con không phải máu mủ của ông thì buộc phải hoàn trả lại cho ông tất cả các khoản tiền đã nhận . Đó quả thật là một quả trời giáng  nên cô không đời nào nhẹ dạ như vậy. Vả lại nếu cô đẻ xong cho ông đứa con, hợp đồng kết thúc thì cô vẫn có quyền cặp ai thì cặp kia mà. Tóm lại cô ta chẳng dại gì mà phản bội ông, vi phạm hợp đồng để rồi lãnh hậu quả không lường trước.
Nghĩ  bụng vậy, ông Bí thư nói cứng :
“ Tôi nói thật  với bà…không thể có chuyện lộn sòng, thằng nặn bụt thằng nặn bệ được đâu. Cắm sừng lên đầu tôi cô ta chỉ có thiệt, mất cả chì lẫn chài là cái chắc…”
Bà vợ gật đầu :
“ Tôi cũng nghĩ vậy. Con bé nhà quê ấy cầm số tiền lớn vậy mà lại được hưởng sung sướng, ăn trắng mặc trơn thì tội gì nó không thực hiện cho đúng hợp đồng …”
Ong Bí thư huyện reo lên :
“ Đúng…đúng…bà nói rất đúng…có một lý lẽ rất hiển nhiên là nếu  cô ta không đẻ cho mình để sau này nối dõi  mà lại đẻ cho thằng cha căng chú kiết nào đó thì có hoạ…điên cô ta mới làm như vậy. Bà cứ tin tôi đi…”
Bà vợ ông Bí thư huyện toét miệng ra cười :
“ Tin ông đi à ? Tin ông để tôi đổ thóc giống ra mà ăn …”
Ong Bí thư huyện lo lắng :
“ Vậy bà tính sao giờ ?”
Bà Bí thư huyện nghiêm mặt :
“ Trước hết phải xác định thằng bé có đúng là con ông không đã. Có kết quả rồi tính tiếp..”
Ong Bí thư huyện lo lắng :
“ Rầy rà quá…mình mà đi xét nghiệm AĐN thế nào cũng lộ chuyện…rồi dến tai thường vụ thành uỷ nó bắt kiểm điểm chết…”
Bà Bí thư huyện nói chắc nịch :
“ Ong yên trí…tôi đã dàn xếp xong hết rồi..cứ để mặc tôi lo mọi chuyện. Trước hết là phải xác định coi thằng bé có đúng là con ông không.Tất nhiên phải làm thật kín không để lộ ra ngoài ảnh hưởng đén uy tín của ông đâu mà lo. Mai tôi sẽ tiến hành ngay…”
Quả nhiên hôm sau có người đến tận nhà lấy máu ông Bí thư huyện uỷ và xuống tận quê lấy máu thằng bé mới sinh. Suốt mấy hôm chờ đợi kết quả, ông hồi hộp lắm. Lậy trời lậy Phật cho nó là con ông. Bà vợ ông đã ra tay như vậy tức là bà đã chấp nhận chuyện ông mướn người đẻ thuê , miễn kết quả đúng là con ông.
Bà mẹ ông thoạt nghe tức giận lắm. Bà bảo con vợ ông rõ đúng là thần đanh đỏ mỏ. Nó cố tình làm ra vẻ không tin bắt thử máu chẳng qua là nó phá chuyện ông có con với người khác đấy mà. Thôi được rồi, thử thì cứ thử, vàng đâu phải thau mà sợ lửa. Tư cách đạo đức của hai mẹ con cô Doan bà nắm vững lắm mà. Làm gì có chuyện trê nuôi nòng nọc cho đến khi nó đứt đuôi nhảy lên bờ thành  con của cóc bao giờ. Bà yên tâm lắm vậy nhưng suốt trong mấy ngày chờ đợi tối nào bà cũng thắp hương khấn vái cầu trời phù hộ cho thằng bé chính là máu mủ nhà bà.
Về phần cô Doan, khi ông dẫn người tới lấy máu để thử gien thằng con, cô cười nhạt :
“ Sao không thử ngay từ lúc mới đẻ, bế về nhà rồi mới bày đặt thử máu ?”
Ong Bí thư huyện nhăn nhó :
“ Thì anh có đòi thử máu đâu. Thằng bé này không con anh còn con ai …”
Ong cười cười rồi như mọi ngày, ông ôm lấy cô, lập tức bị cô đẩy ra :
“ Này này…hết tiêu chuẩn rồi nha…”
Ong Bí thư cười nhăn nhở :
“ Tiêu chuẩn ? Tiêu chuẩn gì kìa ?”
Cô Doan nghiêm mặt :
“Ong nên nhớ là hợp đồng tôi ký với ông quy định tôi chỉ là vợ ông khi chưa có bầu thôi nhé. Giờ đã đẻ con cho ông rồi, đường ai nấy đi, ông sờ vào người tôi là vi phạm hợp đồng đấy…”
Ong Bí thư ỡm ờ :
“ Hết hợp đồng cũ  thì bổ sung hợp đồng mới chứ lo gì ?”
“ Thôi đi ông…hợp đồng cũ lẽ ra thanh lý rồi, ông còn đòi xét lại bầy trò thử máu kìa…”
Ong Bí thư nhăn nhó :
“ Cái đó không phải do anh hay mẹ anh. Anh với mẹ anh tin em sái cổ rồi. Thằng bé đó không con anh thì con ai. Chỉ có điều…mụ vợ…mụ vợ …”
Cô Doan cười nhạt :
“ Mụ vợ ông nó không tin…nó nghi ngờ…nên mới bày trò bắt thử máu thằng bé coi có phải con ông không chứ gì ?”
Ong Bí thư gật đầu :
“ Đúng rồi…con mụ này nó đa nghi như Tào Tháo…nhưng cây ngay không sợ chết đứng…con mình thì cứ mặc nó tha hồ thử vẫn cứ là con mình…đúng không nào ?”
Cô Doan cười khẩy :
“ Tất nhiên cứ cho nó tha hồ thử…nhưng giả sử…nó thử sai thì sao ?”
Ong Bí thư huyện  giật mình :
“ Sai là sai thế nào ?”
Cô Doan bĩu môi :
“ Sai là sai lầm chứ sao ? Y tế bây giờ lắm chuyện thối tha lắm ông không biết à ? Mổ ruột thừa cắt nhầm ngay dạ con của người ta. Rồi thử SIĐA người ta không có bệnh la toáng lên là dương tính. Rồi lại còn khối trường hợp tiêm nhầm vacxin làm chết trẻ con nữa. Ai mà đi tin được mấy thằng cha bác sĩ xét nghiệm bây giờ ?”
Ong Bí thư nhăn nhó :
“ Bác sĩ mà không tin thì còn biết tin ai ?”
“ Thì tôi đã cảnh báo ông rồi. Ong không tỉnh táo, cứ u mê nghe theo lời con mụ vợ già với ba thằng bác sĩ vườn để mất con là tại ông thôi…”
Ong Bí thư  quả quyết :
“ Yên trí…em cứ yên trí…anh hết sức bình tĩnh và tỉnh táo để khỏi oan uổng cho con mình…”
Nói xong ông lại nhào vào ôm cô Doan lần nữa. Lần này chẳng hiểu sao cô không phản đối nữa,cũng không đòi ông “ký hợp đồng” mới, cô cứ mặc ông thoả thuê trên ngừời cô, miệng nín lặng không thốt ra một lời.
Đêm hôm đó về nhà, ông vừa trèo lên giường đã bị bà vợ chun mũi đuổi ra :
“ Ong lại tới với con Doan phải không ? Ong ra ngay khỏi giường tôi…”
Ong Bí thư huyện giật mình chối lấy chối để :
“ Làm gì có chuyện đó…hợp đồng đẻ mướn xong rồi …đời nào tôi còn đến đó nữa…”
Bà vợ cười nhạt :
“ Thôi đi ông…tôi còn lạ gì ông…tôi đi guốc vào bụng ông..”
Ong Bí thư huyện  giơ tay thề độc :
“ Thì đã bảo là không mà…đời nào tôi còn tới đó nữa…tôi mà dối bà thì tôi cứ…tôi cứ…”
Bà Bí thư vội vàng :
“ Thôi thôi ông đừng có thề độc không lại lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử bỗng dưng tôi lại thành con mẹ goá…”
Ong Bí thư huyện cười thầm trong bụng.Ong làm ra vẻ thế thôi chứ thoát được bà vợ khô đét như con mắm để ra ngủ riêng còn gì sung sướng hơn. Bấy lâu nay nhân chuyện để thuê, ông được sống với cô Doan thật bằng lên thiên đàng. Đúng là một đằng lên cao vút khi lẻn được vợ thực tới chỗ vợ hờ, một đằng chẳng khác gì xuống vực sâu khi buộc phải thực hiện nghĩa vụ làm chồng thực. Ong bị lộ chuyên thuê người đẻ thuê cũng từ chỗ này mà ra.
Thoạt đầu bà Bí thư thấy đức ông chồng sao nhãng chuyện  phu thê cũng cứ tưởng là ông hồi này bận họp hành, học tập nghị quyết hoặc là cơ quan có chuyện đấu đá nên thần kinh bị ức chế ảnh hưởng tới chuyện chăn gối nên bà cũng cắn răng chịu nhịn bỏ qua cho ông. Thế rồi thấy ông cứ liên tục tránh né vậy, lại cứ hay về thăm mẹ đẻ bà mới sinh nghi, bà cho tay chân ngấm ngầm điều tra mới vỡ lẽ ông chẳng có học hành nghị quyết nghị cò, hoặc đấu đá gì hết, chẳng qua ông chúi đầu chúi mũi vào đứa con gái đẻ thuê vậy thôi.
Thoạt đầu bà nổi giận đùng đùng. Bà đã bố trí cho tay sai phá tan tành cái tổ ấm lậu của ông . Nhưng rồi bình tĩnh lại bà thấy cái chuyện không sinh con đẻ cái cũng là do bà, ông phải tính chuyện thuê đẻ cũng là do bà, giờ bà phá hỏng kế hoạch làm ông tuyệt tự thì bên họ đằng chồng không bao giờ tha thứ cho bà. Vả lại nếu ông thuê đẻ được đứa con trai , về danh chính nó là con ông thì cũng là con bà, có được thằng con khai tuy không phải máu mủ mình nhưng trong khai sinh nó là con chính thức của bà lại chẳng hơn là nhận con nuôi ư ?
Bà nghĩ vậy nên nhắm mắt cho qua chuyện ông thuê đẻ , chỉ cho tay chân ngấm ngầm theo dõi . Bà cũng đành chịu ngậm đắng nuốt cay để cho ông mò tới với cô Doan  xao nhãng  bà.
Nhưng từ lúc cô Doan sinh được con trai và mẹ chồng bắt thằng bé về nuôi, hợp đồng đẻ thuê giữa cô Doan và ông chồng kết thúc thì bà vợ ông Bí thư huyện  bắt đầu có những suy nghĩ khác.
Trước hết là bà phải có biện pháp quản chặt không cho ông chồng bén mảng tới chỗ cô Doan nữa. Sau là chuyện thằng bé mới sinh sắp sửa chính thức lọt vào gia đình bà. Nếu cái thằng mà bà sai đi dò xét không nêu chuyện nghi ngờ đứa con mới đẻ thì bà cũng chẳng nghĩ tới, cho qua mọi chuyện đón thằng bé về. Nhưng những mật báo tới tai bà có một chuyện làm bà nảy sinh nghi ngờ : cô Doan đi khám thai, đi chợ trên tỉnh đều chỉ do một gã xe ôm chở cô đi. Đấy chỉ là chuyện mối quen của xe ôm hay có tình ý gì khác ? Bà đã tăng cường cho người theo dõi coi hai người đó có biểu hiện gì khác không nhưng tuyệt nhiên không có.  Vậy rồi bà cũng chưa hết nghi ngờ. Lẽ ra chuyện này người tỉnh táo phải là ông, và nếu có dấu hiệu gì đáng nghi ngờ thì  ông phải là người phát hiện, đàng này thằng cha chắc vớ được con trẻ ranh nên mê mẩn, mụ mẫm cả đầu óc, nó có đưa người cửa trước, rước người cửa sau thì cũng có mắt như mù có tai như điếc . Ong đã u mê vậy thì nhất thiết bà phải tỉnh táo. Chính vì vậy cho dù không có bằng cớ gì cụ thể về chuyện phản bội của người đẻ thuê , bà Bí thư huyện vẫn quyết định thử máu thằng bé mới sinh coi có thật đúng là con ông không ?
Thế là bà chờ tới lúc ông chính thức đặt vấn đề xin cho thành bé gia nhập vào gia đình bà, bà mới đưa ra yêu cầu thử máu để xác nhận nó là con ông.
Lý lẽ bà đưa ra quá xác đáng khiến mẹ con ông Bí thư huyện đành phải ngậm đăng nuốt cay mà chấp nhận. Về phần mẹ ông Bí thư huyện, thực ra trong bụng cũng không muốn có chuyện này. Với bà, nếu thằng bé là con ông Bí thư huyện thì càng tốt, nhược bằng không phải máu mủ nhà ông thì cũng có sao đâu, thà có còn hơn không , có đứa con lộn sòng còn hơn là tuyệt tự.


                      (còn tiếp)

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

ĐỖ QUYÊN - Trung-Việt Việt-Trung - Truyện - KỲ 17





                                    
                                     ( tiếp theo)

Trong học vấn, Thiết Ngôn vốn không xỏ nhầm giầy người khác. Giầy dịch thuật và ngôn ngữ đã vừa vặn rồi. Dân tộc học, đây chẳng rành chút nào, nói thẳng là chí ghét. (Mấy lần quên kể: bạn gái đầu đời của Ngôn tôi thời sinh viên đã bỏ tôi theo một giáo sư dân tộc học!). Tôi kể các chuyện tung ra giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt, người Trung chỉ vì chúng xảy ra gần vụ giàn khoan. Thế thôi. Chứ trong khoa học, các giả thuyết sinh ra chết đi, như trong văn học nghệ thuật với các trường phái. Hơi đâu mà để tâm cho nặng tim.

Trước khi xong vụ 3 nhà dân tộc học Việt tận tụy vì lịch sử giống nòi Việt là Tạ Đạo, Hà Văn Thúy (giàn khoan đã rút, Trung-Việt tạm đuề huề, nhưng hai bác này vẫn còn uýnh nhau trên mạng, vui lắm!) và Đỗ Kiên Cương, xin nói lại đôi chút kiến thức phổ cập. Để cho vấn đề nó được rõ rành rành như canh nấu hẹ…

Đến giờ phút này, chưa kịp xem phần tiếng Trung, bên tiếng Việt của Từ điển Wikipedia tôi chưa thấy các khảo cứu của 3 bác đó được bổ sung vào 2 hạng mục “’Người Việt’ và ‘Nguồn gốc các dân tộc Việt’.
Vẫn đang trơ gan cùng tuế nguyệt nơi đây 3 giả thuyết chính về nguồn gốc người Việt, dựa trên 2 quan điểm bản địa và thiên di.

Theo thuyết thiên di, một số học giả Pháp cho rằng người Việt xưa đã phát tích từ giống gốc Mông Cổ ở xứ Tây Tạng dọc theo sông Nhị Hà tràn xuống miền bắc và miền trung của đất Việt ngày nay; (tuy nhiên trong các năm qua nhiều kết quả từ khai tích, khảo cổ và sử sách cho thấy thuyết này sai lầm).
Cũng theo thuyết thiên di, từ sử sách hai nước Trung-Việt, giả thuyết khác được công nhận rộng rãi nhất: người Việt cổ có gốc từ hạ lưu sông Dương Tử tới vùng Bắc Việt gồm nhiều nhóm gọi chung người Bách Việt. Khi người Hoa Hạ tràn xuống chiếm lãnh thổ, các nhóm này bị đồng hóa dần với người Trung. Chỉ duy nhất nhóm Lạc Việt ở miền Bắc Việt tồn tại làm nên tổ tiên của người Việt hiện đại.

Theo thuyết bản địa, trong đó có nhà dân tộc học Pháp L. Finot và nhà khảo cổ học Việt Hà Văn Tấn, thì người từ xứ Ấn chạy tới quần đảo Indonesia rồi vòng lại bán đảo Mã Lai, Thái Lan đến định cư tại đồng bằng Bắc Bộ và hợp với giống Mongolian từ Tây Tạng kéo xuống để sinh hạ ra người Việt cổ.

* *
À nữa, với nghiên cứu gia Hà Văn Thúy, tôi nghe các sếp lớn nói Tổng cục An ninh văn hóa Trung vừa bổ sung một văn bản mới vào hồ sơ mật. Bài này phải nói là thú vị. (Thì cũng từ lấy từ trang mạng xuống, mật mỡ gì đâu nhỉ? Vào vanhoanghean.info.vn gặp liền.) Tiện, dẫn lại cho nữ sĩ tỏ. Tôi rút gọn, lược các chỗ chuyên môn sâu và không kiểm duyệt các chỗ nhạy cảm Trung-Việt Việt-Trung.

          ‘Tường trình về nẻo đường 14 năm ngậm ngải tìm trầm - Nguồn gốc dân tộc Việt:

Gần 45 năm trước, quyết định bỏ cái nghề vi trùng học được đào tạo đàng hoàng ở nước bạn Liên Xô, bắt đầu cầm bút viết văn tôi nhủ đáy lòng đầu tim: Muốn thành nhà văn chân chính phải tìm hiểu lịch sử dân tộc từ cội nguồn; còn muốn  đoạt giải Nobel, bét ra cũng phải thấu tường lịch sử nước nhà 500 năm qua.
Không hài lòng với các tài liệu chính thống cũng như không chính thống mà tất cả đều theo thuyết của Viễn Đông Bác Cổ, tôi cảm thấy xấu hổ và không thể tin tổ tiên của tộc Việt mình không chỉ là dân Tàu lai lại còn phạm tội tổ tông diệt chủng sắc tộc tiền nhiệm là dân bản địa Nguyên Đông Dương.

Thế rồi một ngày đẹp trời của năm 2000 - một thiên niên kỷ mới của nhân loại và biết đâu cũng là một kỷ nguyên khai minh nguồn gốc dân Việt - vô tình tôi coi thấy một đoạn tin nói rằng: loài người chỉ có quê hương duy nhất là Đông Phi và người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới Đại Việt từ 70.000 năm trước.
Khi ấy đang ở Cà Mau, đêm tôi nằm mơ cầm bài báo chạy tuốt ra tận ngoài Hà Thành tới hồ Hoàn Kiếm và reo to: ‘Ơ-rê-ca! Độc lập dân tộc đây rồi! Cơm áo là đây!’ Tâm trí tôi tỏa sáng, dạ bảo bụng: nếu thực vậy thì phát minh này không chỉ làm chao đảo lịch sử phương Đông mà còn biến đổi thân phận dân tộc Việt. Nhờ ông bạn Gu Văn Gồ tốt bụng và thông minh, tôi xác minh thông tin trên là tin cậy.
Rồi sau 15 phút suy nghĩ, tôi vứt thẳng tưng vào ngăn kéo tập bản thảo tiểu thuyết dang dở và kỳ vọng ứng cử viên Nobel, đoạn ra bàn thờ song thân thắp hương nguyện dồn góp hết tâm sức, thời gian, tài sản, thậm chí cả hạnh phúc gia đình nếu cần, vào công cuộc tìm nguồn gốc dân tộc.

Trong 14 năm, như độc giả cũng biết ít nhiều, tôi cho xuất bản 6 đầu sách: Tìm Về Cội Nguồn Văn Hóa Việt (2004), Con Đường Tìm Lại Cội Nguồn (2006), Về Cội Nguồn Bằng Di Truyền Học (2008), Người Việt Là Ai (2009), Viết Lại Lịch Sử Trung (2011), Hành Trình Lịch Sử Văn Hóa Việt (2014). Bốn cuốn đầu đều của nhà xuất bản Văn Học Dân Tộc, đến 2 cuốn sau thì cạn tiền, may có Amazon nó phát hành miễn phí trên liên mạng không thì công toi.

Bản tường trình này là kỷ niệm 14 năm của đêm mơ ‘Ơ-rê-ca!’ từ Cà Mau chạy một mạch về Thủ đô, như một niềm tri ân những đồng nghiệp, độc giả từng cộng tác và ủng hộ cũng như những vị phê phán, bài bác.

Bốn câu hỏi trong 14 năm tôi từng đặt ra: 1. Tộc người đầu tiên hiện diện trên đất Đại Việt là ai? 2. Vào khoảng thời gian nào? 3. Họ từ đâu tới? 4. Việc tiến hóa, di chuyển thế nào để trở thành người Việt chủng Mongoloid phương Nam ngày nay?

Với tôi chỉ câu hỏi đầu là có sẵn lời đáp: Từ cuối thế kỷ 20 chúng ta có kết quả rằng, thoạt kỳ thủy 2 đại chủng Australoid và Mongoloid có mặt trên đất nước ta. Từ khoảng 30.000-4.500 năm trước, duy nhất người Australoid tồn tại. Nhưng từ 4.500 năm trước, người Mongoloid xuất hiện trở lại và chiếm đa số dân cư, trong khi đó, người Australoid dần biến mất. Như vậy, qua khảo cổ và cổ nhân chủng học, hiện nay chúng ta chỉ biết thực trạng dân cư Đại Việt và Đông Nam Á từ khoảng 30.000 năm trước tới hiện nay.
Nhấn mạnh: theo tôi thấy, chính vì chưa trả lời được 3 câu hỏi cốt yếu trên mà từ những năm 1970, nền khoa học nhân văn Đại Việt bị khủng hoảng.

Có 3 nghiên cứu chính được công bố trong 15 năm qua giúp tôi xây dựng giả thuyết của mình. Đó là công trình Quan Hệ Di Truyền Của Dân Cư Trung của nhóm Giáo sư P. Chu; sách Cuộc Hành Trình Của Loài Người của J. Wells.; và công trình Rời Địa Đàng Chiếm Mặt Đất của T. Oppenheimer. Cả 3 nhóm tác giả đều khẳng định con người xuất hiện đầu tiên tại Đông Phi khoảng 160.000-180.000 năm trước.
Kết hợp nhiều nghiên cứu khác, tôi mạnh bạo đề xướng luận điểm mới toanh như sau về nguồn gốc tộc Việt: 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo ven biển Nam Á tới thềm Biển Đông của Đại Việt. (Nhấn rất mạnh: Biển Đông của Đại Việt!). Tại đó họ giao lưu hòa huyết sinh ra 4 chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, mà người Lạc Việt Indonesian làm đầu đàn về ngôn ngữ, xã hội… Rồi khoảng 50.000 năm trước, người từ Đại Việt di cư ra các đảo Đông Nam Á, sang Ấn Độ, Miến Điện... Đến khoảng 40.000 năm trước, người Việt đi lên chinh phục Trung, và 30.000 năm trước qua eo biển Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Nhấn tương đối mạnh: Giáo sư Chu và các vị khác chỉ nói về ‘người Đông Nam Á’ nói chung, tôi nói về ‘người Việt’ cụ thể.

Thế là 3 câu hỏi đầu đã được trả lời. Hy vọng ít tháng tới tôi sẽ có thể cập nhật về vấn đề đã nêu trong sách: Vì sao một thời gian dài người Mongoloid biến mất; từ đâu và lý do gì khiến người Mongoloid trở lại vào thời Kim khí để thành dân cư Đông Nam Á hiện nay?

Về nguồn gốc người Hoa Hạ. Đây là kết quả thống khoái của tôi. Xưa nay, người Trung cho rằng tổ tiên mình là người Hoa Hạ. Thế nhưng 2 câu hỏi tiên quyết người Hoa Hạ là ai, hình thành sao vẫn còn là câu hỏi.
Giả thuyết của tôi: sau cuộc xâm chiếm phía nam sông Hoàng Hà lập nhà nước hoàng đế, người Mông Cổ hòa huyết với dân bản địa Mongoloid phương Nam, sinh ra nhóm người tự gọi là Hoa Hạ. Do giao lưu được hai nền văn minh, Hoa Hạ trở thành lớp người ưu tú cai trị xã hội và dựng ra thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Trung từ Nghiêu, Thuấn… đến Thương, Chu... Do số lượng ít lại chung sống với người Việt đông đúc, người Hoa Hạ dễ dàng được Việt hóa cả về huyết thống lẫn văn hóa. Trong hơn 2.000 năm, các triều đại Hoa Hạ chỉ chiếm vùng đất nhỏ ở lưu vực Hoàng Hà và bị vây quanh bởi các bộ lạc hay quốc gia Việt: người Tây Nhung, Ba Thục, Đông Di và nhà nước Văn Lang ở nam Dương Tử. Khi nước Văn Lang tan rã, các nước Việt, Ngô, Sở xuất hiện và xung đột với các nước Thương, Chu… Cuối thời Chiến quốc, các bộ lạc Tây Nhung người Việt lập ra nhà Tần, diệt lục quốc và xây dựng vương triều Tần. Từ khi nhà Chu bị diệt, tầng lớp Hoa Hạ hết vị trí lãnh đạo và hòa nhập trong cộng đồng Việt đông đảo của vương triều Tần. Thủ lĩnh người Việt nước Sở là Lưu Bang đã diệt nhà Tần, lập vương triều Hán. Trên thực tế, từ thời Tần-Hán, đại đa số dân Trung là người Việt. Dù không có quan hệ huyết thống với hoàng đế nhưng vì muốn hưởng hào quang của người Hoa Hạ trong quá khứ, nên các vương triều Trung về sau vẫn tự nhận là Hoa Hạ.

Sau cuốn thứ 4, tôi cứ tưởng đã thỏa đáng với 4 câu hỏi lớn và có thể yên tâm quay về với các trang văn ngóng chờ suốt 45 năm. Thế nhưng, cũng vào một buổi chính ngọ, bỗng có cơn gió phương bắc bất ngờ làm tôi chóng mặt, ngất xỉu. Nằm trong giường bệnh, tôi chợt tỉnh ra khi thấy có thể dùng cội gốc lịch sử dân tộc Việt để hé ra bí ẩn của lịch sử Trung và nguồn gốc người Hoa Hạ.
Thế là cuốn Viết Lại Lịch Sử Trung được thai nghén, rồi ra đời. Tên cuốn sách nghe có vẻ ‘hách’. Tôi phải làm việc khốn khổ khốn nạn với các nhà biên tập mới giữ nguyên được. Đúng là phải viết lại. Trả cho César thì tôi không cần biết, nhưng hãy trả cho tộc Việt những gì của tộc Việt. Lạ lùng là ở chỗ dẫu có tới 24 bộ quốc sử, thế nhưng người Trung đương đại cũng cóc thèm biết tổ tiên của họ là ai, tiếng nói, chữ viết, nền văn hóa vĩ đại của họ từ đâu đến. Lần đầu tiên nói với họ những điều như vậy, với cuốn sách này. Thưa vâng, lần đầu tiên và với cuốn sách này.
Cuối cùng, tôi xếp lại hồ sơ sử Trung - sử Việt bằng cuốn thứ 6, với Lời mở:

‘Cùng Quý độc giả,
Đây đang là sách sử chưa từng thấy của tộc Việt. Không phải 4.000 năm như thường nói trong sách giáo khoa, hay 5.000 năm với các nhà khảo cứu. Mà nó được khởi đầu từ 70.000 năm trước - khoảng thời gian các nhóm người Homo Sapiens từ châu Phi lần ven biển Nam Á đặt chân vào Đại Việt. Rồi từ ‘địa đàng phương Đông’ ấy, người Việt lan tỏa ra Đông Nam Á, tràn ngang sang đất Ấn Độ, và quan trọng nhất là họ đã tiến thẳng lên khai khẩn vùng đất bao la hiện nay có tên là Trung để tạo ra ở đó nền văn hóa nông nghiệp vĩ đại.
Không chỉ tiếng nói Trung hiện nay được sinh ra từ chủ thể là tiếng Việt cổ, mà cả chữ tượng hình Trung cũng từ gốc chữ tượng hình của người Việt cổ. Các kho tàng Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Nhạc, Kinh Lễ tuốt tuồn tuột do người Việt cổ sáng tạo; cả thuyết Âm dương ngũ hành Kinh Dịch cũng made-in-Viet-co luôn. Những gì đẹp đẽ nhất của văn minh Trung đều được sinh thành bởi văn hóa Việt! Đấy là phát kiến vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại vào đầu kỷ nguyên này.
Vậy nên, cuốn sách trong tay Quý bạn không chỉ thay đổi lịch sử phương Đông mà còn dự phần làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt.
Tin rằng đó sẽ là võ khí vô địch giúp dân tộc Việt tự giải phóng khỏi cái bóng Trung không chỉ về văn hóa, lịch sử…

Hà Văn Thúy cẩn bút’

             (còn nữa)



Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 80




                                (tiếp theo)

- Lấy được hài cốt cùng thẻ bài của 2 phi công đó rồi thì bọn tui mới nhờ người thảo đơn gửi sang tòa đại sứ Hoa Kỳ bên Bangkok-Thái Lan ở số 131 đường Soi Tien Shan gì đó... Anh Chu cũng gửi đơn cho thân nhân bên Mỹ biết nhưng người đó lại phải nhờ các người Việt khác nữa thì mới liên lạc được với viên chức trong chính phủ biết về các hài cốt tụi tui đang cất giữ. Đơn thì lớp phải chịu giá cao nhân viên bưu điện mới chịu gửi thư an toàn cho, lớp thì nhờ người xuất cảnh mang đi gửi giùm... Ôi thôi mọi thứ tốn tiền lắm mà rồi cứ nghĩ khi chính phủ Hoa Kỳ biết về các bộ hài cốt thì họ sẽ cho người đến tiếp xúc với mình ngay nên cũng ráng chịu các phí tổn. Gia đình tui, gia đình anh Chu cùng gia đình các anh khác... sẽ được chính phủ Mỹ cho định cư ở nước họ hết cả thẩy trong một ngày không xa. Ai cũng nghĩ vậy nên ngay cả những người mà thân nhân anh Chu bên Mỹ nhờ liên lạc, cũng buộc tụi tui phải ghi tên của bà con họ đang còn ở Việt Nam vào bản danh sách người tìm ra 2 bộ hài cốt thì họ mới chịu giúp. Chờ rất lâu, tụi tui mới nhận được các hồi báo từ chính phủ Mỹ và khi nhờ người dịch ra tiếng Việt rồi ai nấy đều thất vọng vì không ngờ kết cuộc như vậy. Hồi báo nào cũng một nội dung chính phủ Hoa Kỳ quan niệm vấn đề tìm kiếm tù binh Mỹ mất tích cũng như hài cốt quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam là một cố gắng có tính nhân đạo. Tại Việt Nam, những ai biết tin tức về các vấn đề này nên lập tức thông báo đến các cơ quan hữu trách chính thức của chính phủ. Tóm lại, chỉ với tinh thần nhân đạo, những người nào biết tin tức về quân nhân Mỹ mất tích hoặc hài cốt Mỹ sẽ không được hưởng ân huệ đặc biệt nào, và sẽ không nhận được bất cứ phần thưởng hay sự giúp đỡ nào từ chính phủ Hoa Kỳ. Chú nghe có nản không... Chẳng được gì hết lại còn khuyên mình nên đi báo cho công an biết ngay. Ai mà dám.
- Làm sao mà báo cho công an được, bị bắt là cái chắc. Tôi tán đồng.
- Đúng! Ông Nhật gật đầu rồi nói: " Tụi tui bàn nhau là không nên vì thực tế công an Việt Cộng ngoài mặt làm ra vẻ hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm tung tích quân nhân Hoa Kỳ thất tung tại Việt Nam nhưng đồng thời, họ âm thầm trừng phạt rất nặng với bất kỳ ai dính líu vào các vụ hài cốt Mỹ. Đã có người tìm được hài cốt Mỹ, rủi để công an biết và người đó đã bị nhốt tù với lý do khơi lại vết đau của các bà mẹ liệt sĩ Việt Cộng. Rõ ràng tâm lý thù ghét chính quyền Mỹ vẫn còn trong não trạng của công an. Thấy sự việc mình tính đi vào ngõ cụt, tụi tui thất vọng chẳng biết làm gì về 2 bộ hài cốt đó ngoài việc cất kín trong nhà. Cứ vậy cho đến khi ngoài xã hội rộ lên vụ mua bán hài cốt Mỹ với giá cao làm anh em tụi tui bất hòa vì có người muốn nhân cơ hội này bán đi sẽ kiếm được tiền, bù cho chi phí đã bỏ ra khi đào. Tui và anh Chu không đồng ý nên nội bộ gây lộn với nhau. Bán đi, biết đâu có khi hai nước Hoa Kỳ-Việt Nam bang giao với nhau, họ cho người đến nhận thì làm gì còn hài cốt mà nộp? Anh Chu và tui thuyết phục các anh bạn kia rằng cả bọn mình đứng tên trong các lá đơn đó nên không thể bán hài cốt được nhưng họ khăng khăng không nghe. Cuối cùng, anh Chu đành phải đưa cho mấy người họ một bộ để họ muốn làm gì thì làm, coi như tình bạn bè đã mất và không còn dính dáng đến chuyện hài cốt nữa ".
- Rồi ông vượt biên sang đây một mình với... nó. Còn ông bạn tên Chu gì đấy, bây giờ ra sao?
- Anh Chu chơi với bạn bè rất được... Phải công nhận! Bảo tui cứ giữ lấy bộ hài cốt và khuyên nên mang nó theo khi vượt biên, đến trại tị nạn gặp phái đoàn Mỹ may ra sẽ dễ dàng hơn ở bên quê nhà. Bây giờ anh ấy cũng đang chờ đi bảo lãnh sang Mỹ.
Nói tới đây ông Nhật đưa cho tôi xem tấm hình chụp 2 cái thẻ bài của viên phi công Mỹ mà ông đã tìm được và mang theo. Chỉ vào tấm hình, ông giải thích: " Thẻ bài Mỹ cũng như thẻ bài của quân nhân miền Nam VNCH đều làm bằng loại thép Inox không rỉ và chỉ khác nhau ở chỗ của Mỹ có khắc thêm phần tôn giáo người mang nó. Chú thấy hàng chữ Baptist thì có nghĩa người phi công này theo đạo Tin Lành ". Ông Nhật cũng cho tôi xem một ve thủy tinh cỡ bằng lọ chao đậu phụ cho người ăn chay trong có chứa chút xương nhỏ, vài cái răng, những sợi tóc cùng ít bột trắng xám lụn vụn ở dưới đáy. Ông Nhật thổ lộ: " Hài cốt của phi công Mỹ đây, mang theo bên mình trên ghe, tui khấn ông ta phù hộ đến được trại tị nạn để tui có dịp trả ổng về lại cố hương. Tui tin là ổng sẽ giúp tui được đi định cư sớm ".
Kể xong chuyện, ông Nhật ngồi thừ một chỗ, khuôn mặt đầy vẻ buồn như vừa mới thổ lộ tâm tình với linh hồn viên phi công Mỹ đang lảng vảng chung quanh. Tôi cũng yên lặng, chia xẻ niềm tâm linh của ông và trước khi chia tay, hứa sẽ thảo lá đơn sơm sớm để có cho ông gửi phòng JVA mà trong trí nghĩ phần số con người ở thời chiến thật mong manh như một cái chớp mắt.
Buổi tối ngày thứ Bẩy khi ngồi ở quán nước của bác sĩ Luân, tôi thuật lại chuyện của ông Nhật thì anh Khảm bảo: " Máy bay đó chắc cháy từ trên trời cho đến khi phải đâm đầu rớt xuống đất và anh nghĩ phi công đã chết trong cockpit nên họ mới không thể bung dù thoát hiểm. Còn hài cốt, hồi còn bên quê nhà anh từng nghe các chuyện này. Thực ra do đám chính khách Mỹ muốn lấy lòng dân chúng Hoa kỳ cả thôi và có thể đây cũng là dịp để họ thăm dò thái độ bọn đầu lãnh Cộng Sản nước mình. Từ những năm cuối thập niên 80 thì chính phủ Hoa Kỳ đã phái cựu tướng John Vessey sang Việt Nam nói để bàn chuyện thu nhặt hài cốt và truy tìm tung tích tù binh Mỹ còn sống. Thời chiến tranh Cao Ly, quân nhân Mỹ bỏ xác bên nước đó thiếu gì mà họ có để ý mấy đến đâu... Đấy là người đã chết, anh còn biết có những người vượt biên đến Mỹ báo tin đã trông thấy tù binh Mỹ còn sống khi bị tù cải tạo ở nơi nào đó trong rừng sâu Bắc Việt mà chính phủ Mỹ vẫn phớt lờ, coi đó là tin thất thiệt. Ngay ở trại Galang này, cũng có người báo cho phòng JVA biết về chuyện đã thấy tù binh Mỹ còn sống và kèm theo các bằng chứng mà chẳng ăn thua gì. Cái ông Nhật mà em kể nhờ thảo tờ đơn, anh nghĩ ông ta đã hy vọng quá cao về hài cốt mang theo... nhưng biết đâu ".
- Sao kỳ vậy. Bộ chính phủ Hoa Kỳ không thương dân họ sao? Tôi thắc mắc.
- Chính phủ nước nào cũng phải thương dân nước họ trước. Có dân thì mới có chính phủ, đó là lẽ thường tình của con người vì máu chảy, ruột mềm và tình đồng bào với nhau. Chính phủ mà không biết thương dân thì chỉ là bọn cơ hội, kiểu đục nước béo cò để vinh thân phì gia thôi. Còn nếu em hỏi sao chính phủ Hoa Kỳ không thương đến tù binh Mỹ còn sống vất vưởng đâu đó thì thực sự, có thể vì đầu óc thực dụng của bọn chính trị gia luôn nghĩ đến các mối lợi từ quan hệ thương mãi trước mắt nên đành lờ đi các chuyện báo cáo này. Nên nhớ Hoa Kỳ là một quốc gia hợp chủng và không có người nào là người Mỹ chính cống cả. Sắc dân Mỹ chính cống! Nếu ta nhận có thì thực sự chỉ là người thuộc các sắc dân da đỏ trong các bộ phim cao bồi viễn Tây-Hoa Kỳ. Còn riêng với dân tị nạn Việt Nam mình, bây giờ thì Hoa Kỳ vẫn chưa chấp nhận chuyện cưỡng bức hồi hương nhưng mai hậu có thể sẽ có ngày đấy đấy. Biết đâu! Do vậy, em, Đỉnh và Yến ráng cố gắng vượt qua được cuộc thanh lọc như anh chị bây giờ... Chẳng biết gì về nhiều về thời cuộc nhưng có lúc anh nghĩ thuyền nhân Việt, ít nhiều cũng là nạn nhân của bọn chính khách Mỹ.
Anh Khảm cho biết thay vì đi định cư Mỹ thì chị Phượng lại chọn đi Úc vì chị có giấy bảo lãnh của thân nhân bên đấy gửi sang. " Phượng gốc là nhân viên bộ Dân Vận-Chiêu Hồi trước đây nên thuộc diện đi Mỹ ", anh tư lự vài phút rồi trải lòng: " Thấy Phượng xin đi Úc thì anh buồn lắm vì em biết có lúc anh muốn ngày nào đó sẽ gặp lại Phượng ở Hoa Kỳ. Còn Phượng cũng thế, dù bảo với anh như vậy đủ rồi... Dầu sao anh và Phượng cũng một thời gian sống chung với nhau ở đây, khác gì vợ chồng nhưng mà anh còn... trách nhiệm với gia đình bên quê nhà nữa. Thà rằng đừng biết nhau thì hơn, có lúc anh đã nghĩ vậy nhưng cuộc đời cũng khó nói trước lắm phải không Vũ, em thấy sao? Cho anh một lời khuyên, một lời góp ý... Phải làm gì bây giờ? ".
Tôi ngồi yên không trả lời, thầm nghĩ anh Khảm gặp lại chị Phượng tại Hoa Kỳ để làm gì khi mà chị Hoa và 2 đứa con bên quê nhà rất cần bảo lãnh sang sống chung nữa. Nhưng đúng như anh vừa nói, cuộc đời cũng như chuyện tình cảm nam nữ khó nói trước lắm. Đổ cho tại anh ham hố, đèo bòng hay tại cái số anh và chị Phượng phải gặp nhau trong chuyến vượt biên để sống chung! Chẳng biết phải khuyên, góp ý thế nào nữa trong chuyện tình cảm của anh với chị Phượng đây! Vì, ngay cả chuyện của bản thân mình và Yến, tôi cũng chưa biết nó sẽ ra sao sau này.

Biết trước chuyến định cư ở đệ tam quốc gia thường sẽ đến đột ngột nên cũng giống khá nhiều người trong trại sau khi được Cao Ủy ban cho vé tị nạn, anh chị Khảm-Phượng bàn nhau sẽ đi sang Tanjung Pinang để mua sắm ít quần áo, giầy dép, túi xách... Yến nhân dịp này cũng rủ tôi và Đỉnh cùng đi chung một chuyến với họ cho vui vì vé tàu cao tốc giá chỉ có 15.000 Rupias không cao lắm. Đỉnh thì lắc đầu, nói với tôi là anh có Yến cùng đi quá vui rồi còn em chỉ một mình sang đó làm chi cho tốn tiền. Tanjung Pinang là hòn đảo mà chúng tôi đã ghé vào rồi gặp chiếc ghe chở 225 người khi trước. Tôi ngần ngại vì bản thân không sẵn tiền dù thực lòng cũng muốn đi sang đó một chuyến cho biết. Nói cho Yến nghe thì nàng bảo là đã đi với chị Phượng đến phòng An ninh P3V mua vé xong xuôi cả rồi.

                                       (còn nữa)

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 13


                     
                      mười hai.



Dấu hiệu đầu tiên của xã hội con người chúng tôi bắt gặp dẫu rằng chỉ là một bãi phân trâu khôn cũng đủ làm cho thằng hộ pháp mừng quớ lên, làm tôi bồi hồi, còn thằng học giả buông một câu triết lý: “Không có cái gì dính dáng đến con người mà lại không làm tôi chú ý” rồi cứ đứng đực ra trầm ngâm mãi khiến tôi phải quát lên:
“Phát đi chứ, mày định nghiên cứu cứt trâu khô đấy hả?”
“Sao không? Nếu nó có thể nói lên một điều gì đó v về con người. Mày xem đây có phải nó gồm nhiều loại xơ của nhiều loại cỏ và cây khác nhau không? Điều đó chứng tỏ trâu được chăn thả tự do chứ chưa có chuồng trại tập thể.”
“Vậy đã sao?”
“Không sao, nó chỉ chứng tỏ trình độ tổ chức sản xuất ở đây chưa cao.”
“Thôi bố...”.
Tôi lại đành phải quát lên cho nó buông cái mớ chữ nghĩa của nó ra để cầm lấy con dao cùng với tôi phát cái đám tre gai bùng nhùng này đi. Trong cái nghề của bọn tôi “mồm miệng” không thể đỡ “tay chân” được, cứ phải xấn tới phát thật lực nếu không muốn đứng ỳ ra giữa rừng cây.
Bởi vậy ông toán trưởng đã rất khôn ngoan khi xếp thằng học giả luôn luôn đi đầu để phía sau tôi và thằng hộ pháp thúc vào lưng nếu không nó sẽ tụt lại phía sau lảm nhảm làm sốt ruột đến eả ông toán trưởng vốn kiên nhẫn nhất. Thằng hộ pháp ngược hẳn lại, một khi đã cầm con dao vào tay đố có cạy răng lấy nửa lời, nó cứ phát hùng hục cho tới khi ông toán trưởng thổi còi mới dọn sơ một vạt bằng, quăng dao nằm ngửa ra thở. Có lần như thế, tôi chỉ lên trời hỏi nó:
“Tao đố mày đám mây đang trôi qua kia giống hình cái gì?”
“Hình cái con cặc... Mệt bỏ bố, nằm mà nghỉ còn hỏi rắc rối.”
Dĩ nhiên tôi không giận nó, tôi cứ nhìn theo đám mây có lúc giống như một con ngựa đang hí rung cả bờm nhưn g cái miệng lại mím thật chặt, có lúc lại thấy như có cả đoàn người đang dắt díu nhau lên trời. Tuy nhiên, cũng có lần tôi đang sướng run lên sắp tìm được một hình ảnh lý thú, tiếng còi ông toán trưởng lại toét lên, xua cả đám mây Iẫn sự tưởng tượng về nó bay di mất. Đương nhiên trong việc này không ai có lỗi cả. Ông toán trưởng có nhiệm vụ thổi còi, còn tôi chỉ ngắm trời vào ngoài giờ sản xuất. người có lỗi chỉ là thằng học giả, vừa phát cây nó vừa lẩm bẩm:
“o khó là cái cửa sổ... o khó là cái cửa sổ...”
Tôi biết thừa nó đang học tiếng Nga, nó bảo một ngày phải học mười từ trong lúc đi làm, tôi mặc kệ nó, chỉ có ông toán trưởng đôi lúc cằn nhằn: “Cậu phải làm việc với cả hai bàn tay và khối óc chứ. Như vậy sao gọi là toàn tâm toàn ý phục vụ sản xuất được”.
Những lúc đó, nó tím mặt lại, nín lặng, chẳng biết nó nghĩ gì Thằng hộ pháp xui nó: “Mày cứ nhẩm trong bụng thôi, ha hồ muốn học gì học, thánh cũng chả biết. Rồi nó tắc lưỡi: “Mày học làm gì, càng học càng thành dở người như mày thì học làm gì, cứ ngu như tao lại khỏe”. Tôi phải công nhận rằng lâu lâu thằng hộ pháp cũng nói được một câu chí lý. Tôi cũng rất ghét học hành, sách vở lắm khi chỉ làm méo nó đầu óc, cái gương thằng học giả càng làm tôi ghê sợ chữ nghĩa. Những kiến thức người ta nhồi nhét cho tôi suốt trong những năm buồn tẻ và dài dằng dặc ở trại mồ côi, tôi đã trả lại hết cho thày ngay từ khi ra trường. Cũng bởi vậy ông toán trưởng có thể phát động đủ các phong trào, trừ ra mỗi việc bắt bọn tôi đóng vở học văn hóa để thằng học giả dạy.
“Bắt cóc bỏ ớ a còn dễ hơn bắt chúng mày ngồi làm toán”, nó than vậy rồi xin với ông toán trưởng dẹp bỏ cái trò học hành ấyr đi. Thằng hộ pháp thì nói toạc móng heo: “ học thế này chẳng qua lấy thành tích cho mày và ông toán trưởng thôi, bọn tao được cái gì? “ Từ đó không ai nhắc tới chuyện đó nữa. Xế chiều, khi mặt trời đang chới với khuất sau những đỉnh núi xam xám, thằng hộ pháp đi trước bỗng nhảy cẫng lên:
“Tới dường mòn rồi, tới đường mòn rồi chúng mày ơi...”
Tôi vội vàng bỏ cả bụi mây gai đang phát dở, luồn người lên trước. Quả thực cắt ngang tuyến chúng tôi đang đi là một con đường nhỏ xếp đá, cây hai bên phát quang, ven đường xếp những khúc gỗ bào nhẵn chắc làm ghế ngồi nghỉ cho người bộ hành. Tất cả những thứ đó hẳn đều do bàn tay con người làm ra và điều đó bỗng làm tôi mừng rỡ như người xa quê đột ngột được trở về nhìn lại ngôi nhà thân thuộc. Tôi quăng dao nằm ngửa ra, dang tay dang chân trên con đường lổn nhổn đá, ngửa mặt lên nhìn bầu trời xám ngắt, một con chim lẻ loi bay ngang và cảm thấy rất rõ những nhọc mệt đang tan nhanh trong mạch máu. Thằng hộ pháp sục sạo trên đường, lát sau nó xách về một cái rỏ tre cũ nát:
“Đúng con đường này dẫn tới bản Mù U rồi các bố ạ. Cái rọ này dùng để đựng măng tre chặt trên rừng gánh về nhà đây mà. Không biết sao lại vứt đây?”
Thật buồn cười, cái máu “điều tra” của thằng học giả không khéo đã nhiễm sang cả thằng hộ pháp, nó tần ngần đứng giữa đường, quay ngược quay xuôi:
“Đằng này về đâu? Đằng kia về đâu?:
“Một đằng lên núi, một đằng xuống biển”.
“Không, tao muốn hỏi nó đi về cái xã, cái huyện nào kia?”
“Xã Lông Bông, huyện Lang Bang, nước U tỳ...”
“Quê quán mày đó phải không thằng mồ côi kia?”
Tôi biết nó sắp nổỉ cáu vì làm nó cụt hứng muốn dẫn câu chuyện về cái xã có cô vợ ông xã đội của nó. May thay, ông toán trưởng đã đi tới:
“Theo đúng bản đồ, ta chỉ còn cách bản Mù U ba cây số nữa thôi”.
Thằng hộ pháp nhảy lên:
“Đề nghị thủ trưởng cho em tới đó trước”.
“Không được, cấm không ai được đi lẻ. Phải quay về chỗ trú quân, hội ý chuẩn bị trước khi vào bản”.
Buổi tối, ông họp bọn tôi, sau khi thuyết rất dài về yêu cầu “Đi dân nhớ, ở dân thương”, ông nêu ra tám điều kỷ luật, thí dụ như không được lấy của ai từ cái kim sợi chỉ, không được trêu chọc phụ nữ, không được đi giày vào nhà theo đúng tập quán địa phương... Quả thực những điều ông đề ra thừa đủ cho cả một đạo quân tiến vào giải phóng một thành phố lớn. Thằng hộ pháp từ chiều đã kiếm đâu ra hai mảm bát vỡ và với cái dụng cụ thô sơ đó, nó đã cạo được gần sạch bộ râu mọc nham nhở khắp trên mặt. Nó cứ ngồi xoa mãi cái cằm nhẵn, giờ mới giơ tay:
“ Tôi xin hỏi nhỡ có cô nào tặng mình cái gì đó thì có được nhận không?”
Thằng học giả nói chõ:
“Tặng thì nhận chớ sao không?”
Ông toán trưởng lắc đầu quầy quậy:
“Không được, không được, thế có loạn, nhỡ ra nó tặng luôn cái thân nó anh cũng đòi nhận sao. Nhất thiết mọi thứ đều phải thông qua tôi”.
Thằng hộ pháp ngồi ngẩn ra, rồi cười hềnh hệch:
“Vậy nếu có đứa thế thật, tôi cũng phải mang cái thân nó đưa thủ trưởng thông qua trước... ?
“Tầm bậy, hết sức tầng bậy...”
Ông toán trưởng đỏ mặt tía tai, lấp liếm cái thẹn bằng một bài giảng dài dòng về quan hệ trai gái. Ông nói rất hùng hồn đanh thép cứ như từ trước nay ông chỉ biết duy nhất có mỗi bà vợ ở quê xa. Thằng cấp dưỡng ngồi cười khảy, mặt cứ khinh khỉnh làm tôi hiểu rằng nó đang nhớ tới chuyến đi công tác năm ngoái với ông toán trưởng. Hồi đó tao phải đi “điếu đóm” cho ông ấy mãi xẩm tối mới tới một xóm lại chỉ có mỗi một cái nhà sàn, trong nhà lại có mỗi một con mẹ đàn bà. Cơm nước xong, bà chủ trải chiếu ra ngay gần bếp cho thầy trò nằm, còn bà ta thì nằm phía trong, cách có mỗi cái màn bằng vải thô. Mới chập tối ông đã giục: “Cậu đi ngủ trước, đảm bảo sức khỏe, tớ còn phải hỏi chuyện bà chủ nhà nắm tình hình. “. Ừ thì ngủ trước có sao, càng khỏe xác. Thế là tao lăn ra ngủ một mạch chẳng còn biết trời đất. Mãi tới nửa đêm, bếp lửa đã tắt, lạnh quá tao mới thức giấc. Xung quanh đèn đóm tắt hết, trời tối như mực, tao bỗng hết hồn vì có cái con gì sang sáng to đằng con gián cứ bò dần bò dần vào phía gian trong. Mẹ ơi, phải con ma không? Tao nhớ mẹ tao vẫn thường bảo không có ma, đi qua nghĩa địa mà thấy ma trơi thật ra là lân tinh trong mả bốc lên nên sáng vậy thôi. Thế là tao đoán ngay ra cái con gián đang bò chính là cái mặt đồng hồ dạ quang của ông toán trưởng. Lát sau tao thấy nó biến mất, rồi lại nghe có tiếng hổn hển bên trong màn, tao mới vỡ nhẽ. Sáng hôm sau ông ấy hỏi tao:
“Đêm qua ngủ ngon không?”
“Dạ ngon lắm, ngủ như chết chẳng biết gì. .
“ấy thế mà có lúc cậu nói mê ghê quá.”
“Dạ cháu nằm mơ đấy ạ, cháu nằm mơ thấy con ma trơi nó cứ bò bò trên sàn nhà.”
Ông ta tím mặt lảng phắt sang chuyện khác cứ như đêm qua không hề có chuyện gì xảy ra. Thằng cấp dưỡng đã kể tôi nghe chuyện này với giọng giận dữ và cay đắng như thể chính nó là đức ông chồng bị cắm sừng của bà chủ nhà vậy.
Tan họp, thằng hộ pháp nhăn nhó:
“Thắt buộc như thế, thà tao mắc võng nằm ngoài rừng còn hơn.”
Thằng học giả khoái chí:
“Tao rất tán thành 8 điều quy định của ông toán trưởng, muốn cấm gì thì cấm, không cấm cái chuyện gửi thư là được rồi. Mà nói thật không thắt buộc vậy, mày động đực lên, có mà loạn cả bản.”
Thằng hộ pháp bĩu môi:
“Cái nọai trí thức dở hơi như mày mới ham ngủ với nhau trên giấy. Tao hỏi mày thư từ thì béo bổ cái nỗi gì.”
Tôi phải can hai đứa không lại thành cãi nhau. Thằng cấp dưỡng dừng dậy, đập tay lên vai thằng hộ pháp:
“Mày ngu lắm, việc gì phải thắc mắc, cứ ăn vụng rồi chùi sạch mép thì đã sao. Đời này thiếu gì thằng chỉ giỏi nói miệng thôi, bụng thì thối như cứt ấy.”
Thằng hộ pháp ngẩn mặt, mắt sáng lên ra vẻ đắc ý lắm. Nó leo lên võng nằm một chặp rồi còn giở mình kêu to:
“ối giời ơi, tao nhớ con vợ thằng xã đội quá..”
Không đứa nào để ý tới nó, trong đêm trước ngày gặp lại “xã hội con người”, hình như mỗi đứa đều chìm đắm trong những riêng tư, thằng học giả hẳn nghĩ tới cô nàng búp bê, thằng cấp dưỡng nhớ mẹ, ông toán trưởng không hiểu có nhớ bà vợ quê xa hay là bà Trưởng phòng dạo trước không? Thế còn tôi, cố nhắm mắt nhớ về cái gì đó mà chẳng được. Những căn phòng ố vàng kê hàng loạt dãy giường giữa bốn bức tường cao vợi trại cô nhi, căn nhà lợp lá gồi bốn bề gió thổi trong trường thành niên vừa học vừa làm? Không, những hình ảnh hãi đó đã vùi sâu trong ký ưc. Và nghĩ cho cùng, cũng chẳng có ai để mà nhớ. Bà phước già nua và nghiêm nghị, ông thầy phụ trách lớp vừa học vừa làm... những con người đó làm nhiệm vụ của họ và tôi làm nhiệm vụ của tôi, ngoài ra chẳng có gì mà bồi hồi, luyến nhớ. Vậy nhưng cũng giống mấy thằng kia: tôi cũng thao thức chẳng ngủ được, cứ nằm ngửa trên võng mở mắt nhìn bầu trời chi chít sao qua kẽ lá rừng. Câu chuyện về cái lỗ đen trong vũ trụ của thằng học giả đêm nào lại nhắc tôi tới cái vực sâu trong con người mà tôi đã cảm nhận được một cách rất cụ thể hôm nó trượt ngã ở vách đá. Tôi cố nhớ lại cảm giác đó bằng cách tưởng tượng mình đang cheo leo trên vách đá nhìn xuống dòng sông sâu hút bên dưới. Tuy nhiên, ngoài hình ảnh cụ thể đó, tôi không nhìn thấy vực sâu nào hết ở trong tôi mà lần trước tôi đã thấy. Nó đã biến mất dường như chưa hề có nó. Tại sao như thế nhỉ? Tôi vùng dậy khỏi võng và bước tới hỏi thằng học giả đang lúi húi viết. Nó ngước lên nhìn tôi như thể tôi đang lên cơn thần kinh.
“ Mày chỉ cảm thấy cái hố thẳm ấy chừng nào mày hết sức thành thực với chính mày”.
“Cái đó tao có thừa”.
Thằng học giả gật đầu:
“Vậy cũng chưa đủ, phải thêm một diều kiện nữa: mày phải sống giả dối với mọi người “.
“Mày lại lên cơn dở hơi rồi”.
Thằng học giả bật cười:
“Cái óc bã đậu của mày hiểu sao được nhưng nghịch lý. Thôi cứ sống cỏ cây như thằng hộ pháp kia cho khỏe xác, khỏi thắc mắc làm gì những chuyện siêu hình của con người.”
Tôi không giận nó mà còn ngồi xích lại gần:
“Mày viết thư cho con búp bê phải không? Tao cứ thắc mắc sống thế này có chuyện quái gì, sao mà mày viết cho nó lắm thế? Mày bịa chuyện ra phải không?”
Nó nói mộtt cách rất nghiêm trang:
“Đối với thượng đế của chính tao thì không bao giờ tao nói dối...”
Nó cúi xuống tờ giấy đang viết với cái vẻ dù có cạy răng nó cũng chẳng thèm nói câu nào. Tôi quay lại võng ôm nỗi thắc mắc thằng học giả vừa quẳng vào tôi nặng chịeh trong lòng, khiến mắt cứ giương lên. Nói láo, nó nói láo. Không ai có thể giả dối với mọi người mà lại thành thực với chính mình đươc, “nghịch lý” là cái thứ nó bịa ra thôi, muốn thấy lại vực sâu ấy trong con người mình, tôi chỉ có cách lại treo người trên vách đá nhìn xuống rồi nhắm mắt lại như lần truớc. Tôi yên tâm. không nghĩ ngợi nửa và rồi khi sắp chợp đi, bên tai tôi thoảng tới một thứ âm thanh nào đó rất mơ hồ. Tôi chợt tỉnh và nhận ra trong luồng gió đang ào tới văng văng có tiếng chó sủa. Tôi nhỏm dạy hỏi thằng học giả vẫn đang còn lúi húi viết:
“Mày nghe thấy gì không?”
“Có tiếng chó sủa từ nãy, bản ở gần đây lắm rồi. Trưa mai tao gửi thư được thôi”.
“Tao nghe tiếng chó lạ lắm. Cứ như là nó đang tru lên ấy. Nghe sởn cả gai ốc”.
Thằng học giả cười nhếch mép:.
“Ma hú đấy, trên miền núi này hay có ma cà rồng lắm. Mày sợ không?”
Tôi không sợ, nhưng một ám ảnh bất an nào đó cứ đeo lấy tôi khi tôi chúi đầu vào sâu trong chăn. bên tai vẫn văng vẳng có tiếng chó tru lên ai oán...

                                        (còn nữa)



    PHỤ LỤC :

 LES GOUFFRES DE L’ÂME

Entretien de Mireille Gansel avec Phan Huy Duong
*

La Quinzaine Littéraire, n° 840

« Je fixai la lune suspendue dans le ciel, sorte de barre de fer chauffée à blanc et tordue. Moi qui avais horreur des histoires compliquées, j’allais être servi. »

MG : Ce livre a été publié en 1988. Mais les faits qu’il relate, peut-on les dater ? A plus d’un égard, il me fait penser au Procès de Kafka. Le Procès est à la fois intemporel et historiquement, culturellement, politiquement daté.
PHD : Pour le lecteur occidental, ce livre évoque irrésistiblement Kafka. Pourtant son œuvre est quasiment inconnue de la plupart des Vietnamiens et n’a eu aucune influence dans la littérature contemporaine du Vietnam à ce jour. Néanmoins, comme pour le Procès, ce livre est à la fois historiquement, politiquement daté tout en étant par certains côtés intemporel.
1988 est l’année de relative libéralisation de la publication des S_uvres littéraires dans la logique de la politique de Renouveau (Dôi Moi, 1986) destinée à sortir le pays de l’effondrement économique. C’est alors qu’une nouvelle génération d’écrivains vietnamiens (Nguyên Huy Thiêp, Duong Thu Huong, Pham Thi Hoai, Bao Ninh, etc.) a trouvé son public à travers des S_uvres où elle ose affronter des problèmes auparavant tabous.
MG : Est-ce que la double métaphore, ‘la jungle’ et ‘le retour’, qui sous-tend ce roman est elle-même politiquement datée ?
Très certainement. Le roman relate la vie d’un groupe d’hommes qui explorent la jungle afin de tracer une route : « au départ de la mission, il nous avait dit que cette route revêtait une importance stratégique, qu’elle servirait à ravitailler des villes qu’on développerait dans le futur ». Le thème évoqué ici est une métaphore de la recherche d’une voie de développement économique pour le pays dans les années où l’ex-système socialiste s’effondrait et où le Vietnam souffrait de disette. Il reprend dans les conditions de l’après-guerre un thème rendu célèbre dans la littérature du pays par le poète Chê Lan Viên : L’Homme qui chercha la voie pour libérer la Patrie (c’est-à-dire Hô Chi Minh).
Retour à la jungle. La jungle était le point de départ de la libération du pays. Ici, elle devient le point de départ d’une nouvelle aventure : la construction du pays.
MG : En quoi cette métaphore si vietnamienne évoque-t-elle littérairement Kafka ?
PHD : Formellement, le récit évoque le Procès. Cinq hommes errent dans une jungle sans fin qui représente en fait le monde où ils sont ‘condamnés’ à vivre pour réaliser une mission dont ils ne devinent ni le sens, ni la fin. Ils ne sont reliés à l’extérieur que par un vieil émetteur-récepteur qui leur donne des ordres qui semblent venir d’un autre monde, des ordres ubuesques, sans explications ni justifications.
MG : Mais chez Kafka, le ‘héros’ est seul.
PHD : Ici réside la différence culturelle. Le sujet pensant de Descartes si cher aux Occidentaux constitue une nouveauté dans la culture traditionnelle du Vietnam. Il n’a commencé à apparaỵtre dans la littérature vietnamienne qu’au début du 20e siècle à travers l’accueil de la littérature française. Dans ce roman, le ‘héros’ est en fait une petite communauté humaine liée par un destin commun. Malgré tout ce qui les oppose entre eux, il reste, au moins sur le plan affectif, une solidarité très caractéristique des communautés villageoises.


                                  (à suivre)

HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN

           Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
                      La Quinzaine Littéraire, n° 840

"Tôi ngước nhìn trời đêm lơ lửng ông trăng như một cục sắt uốn cong bị nung đỏ. Tôi không ưa nghe những chuyện “rắc rối cuộc đời “ nơi phố phường .."

MG: Cuốn sách này xuất bản năm 1988. Nhưng liệu có xác định được thời gian các sự kiện trong đó không ? Hơn thế nữa, nó làm tôi liên tưởng tới "Vụ án" của Kafka. "Vụ án" vừa vượt thời gian và vừa có tính lịch sử,văn hóa, chính trị .
PHĐ : Với người đọc phương Tây, cuốn sách này gợi tới Kafka một cách không cưỡng nổi  Tuy nhiên, phần lớn độc giả Việt Nam hầu như không biết tới tác phẩm này và tới nay nó cũng chẳng có mảy may ảnh hưởng tới văn chương hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên, giống như với "Vụ án", cuốn sách này vừa mang tính lịch sử vừa mang tính chính trị, và về mặt nào đó nó vượt thời gian
Năm 1988 là năm tương đối cởi mở trong xuất bản các tác phẩm văn học với  trào lưu "đổi mới" (1986) nhằm cứu đất nước ra khỏi nền kinh tế suy sụp. Vì thế đã xuất hiện một thế hệ mới các nhà văn (Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Tị Hoài, Bảo Ninh.. vv) đã dám động tới những vấn đề trước đây cấm kỵ…
MG: Phải chăng biểu tượng kép 'rừng' và 'sự trở về' làm cuốn sách có nền tảng chính trị ?
PHĐ :" Chắc chắn vậy . Cuốn tiểu thuyết mô tả cuộc sống của một nhóm người khảo sát rừng nhằm vạch một tuyến đường : " Lúc bắt đầu thăm dò tuyến đường, các ông bảo nó rất quan trọng, nó là con đường huyết mạch để phát triển miền núi tương lai", Đề tài gợi ra ẩn dụ của việc tìm kiếm con đường phát triển kinh tế cho một đất nước nơi hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây sụp đổ và nơi Việt Nam bị nạn đói. Ông viết trong các điều kiện  hậu chiến của một lý thuyết nổi tiếng trong văn học trong nước do nhà thơ Chế Lan Viên gợi ra :"  Người đi tìm đường giải phóng Tổ Quốc ( tức Hồ Chí Minh )
        "Đi về nơi hoang dã ". Nơi hoang dã là điểm xuất phát cho cuộc giải phóng đất nước. Ở đây nó đã trở thành điểm xuất phát cho cuộc phiêu lưu mới : kiến thiết đất nước 
MG: Vì sao cái ẩn dụ rất Việt Nam này lại gợi ra văn chương Kafka ?
PHD: Rõ ràng câu chuyện gợi lên "Vụ án". Năm người đàn ông đi lang thang trong khu  rừng bất tận mà thực ra là biểu tượng cho thế giới mà họ bị "kết án  phải sống" dể thực hiện một sứ mạng mà họ không hiểu được ý nghĩa cũng như kết cục. Họ chỉ được kết nối với thế giới bên ngoài bằng chiếc máy vô tuyến điện dường như từ một thế giới khác ra lệnh cho họ những yêu cầu cục, không giải thích cũng không biện minh.
MG :" Nhưng trong "Vụ án" chỉ có một nhân vật !
PHĐ : Ở đây có sự khác biệt văn hóa. Các chủ đề tư tưởng của Descartes rất gần gũi với  người phương Tây nhưng lại rất mới trong văn hóa truyền thống của Việt Nam. Nó bắt đầu xuất hiện trong văn học Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 thông qua việc tiếp nhận văn học Pháp. Trong cuốn tiểu thuyết này, các 'nhân vật' thực sự là một cộng đồng nhỏ của con người được liên kết chung một  số phận. Mặc dù mọi thứ chọi nhau nhưng vẫn còn, ít nhất là về mặt cảm xúc, tinh thần đoàn kết rất đặc trưng của cộng đồng làng xã.

                      (còn tiếp)

Tiểu thuyết do Phan Huy Đường và Đặng Trần Phương dịch từ tiếng Việt
Nhà  xuất bản Philippe Picquier