|
Chương 16
Một ngày đầu mùa mưa, Năm Trà đột nhiên trở về. Hắn xuống
xe ở đầu xóm Cỏ và tất tả đi vào. Nom hắn phong trần và vất vả. Bụi đất bám
đầy người, quần áo tả tơi, bạc phếch vì nắng mưa. Vai hắn đeo một cái túi
nhỏ, tay hắn ôm một bọc đầy hoa quả. Hắn gõ giầy đinh cồm cộp trên mặt đường
nứt nẻ. Hắn cười nói oang oang từ đầu ngõ:
"Còn nhớ tui không? Trà đây! Năm Trà đây mà! Trời ơi!
lâu quá đi nghe bà con.”
Mọi người đổ ra xem. Không một ai dám trả lời hắn mà chỉ
giương mắt lên nhìn. Hắn ngạc nhiên ngó mọi người, rồi như linh cảm điều gì,
hắn co giò chạy thẳng vào trong ngõ.
Hai mẹ con gặp nhau ở đầu hè. Hắn bồng bà cụ lên tay, nức
nở:
"Má ơi! Má ơi... Con về đây.”
Rồi bỗng hắn nắm lấy hai vai áo bà cụ đẩy ra nhìn. Khuôn
mặt tiều tuỵ và quần áo khốn khổ của người đàn bà làm hắn la lên hốt hoảng:
"Trời đất ơi! Sao má đến nỗi này? Vợ con đâu
má?"
Nói rồi hắn buông bà cụ ra, mở cửa bổ vào trong nhà. Khung
cảnh tan hoang, tiêu điều làm hắn chết lặng đi. Hắn đứng rất lâu ở cạnh vách,
nhìn từng cái mắc áo trống trơn, đến mặt giường, mặt tủ, đến bộ bàn ghế nằm
chỏng chơ mỗi nơi một chiếc. Một lát, hắn chạy ra ngoài, hai con mắt ngầu đỏ.
Hắn nom thấy bà cụ lùi lũi đi như không hề biết sự có mặt của hắn sau bao
nhiêu ngày xa cách. Hắn chạy bổ lại, túm lấy áo mụ:
"Má! Má! Má đi đâu vậy?"
Mụ điên lườm gã, giọng tức tối:
"Buông tao ra! Đồ chó đẻ!"
Mắt hắn trợn lên, hắn nắm lấy hai vai mụ già lắc mạnh:
"Năm đây mà má... Năm Trà đây!"
Mụ già phá lên cười:
"Năm đấy hả? Mày là Năm đấy hả?"
Hắn gật lấy gật để. Lập tức mụ giằng ra, cúi xuống đất quơ
lấy mấy hòn gạch ném túi bụi vào người gã đàn ông. Vừa ném mụ vừa la:
"Xéo đi đâu thì xéo đi. Con tao nó về nó bắn chết cha
tụi bay.”
Năm Trà bưng mặt oà lên khóc. Hắn bỏ bà cụ chạy bổ vào nhà
Phó Ngữ. Ở đấy vợ chồng Hai Hào kể cho hắn nghe tất cả chuyện của gia đình
hắn từ ngày vợ hắn bỏ nhà ra đi. Bây giờ thì hắn không còn nói gì nữa. Mặt
hắn đanh lại. Môi hắn bậm chặt, ở tròng con mắt hắn người ta thấy gợn lên
những tia sáng dữ tợn, căm hờn. Rồi hắn bỏ đi lầm lũi trong ngõ hẻm. Đầu hắn
cúi xuống, hai tay hắn đút vào túi quần, hắn nện đôi giầy đinh xuống mặt đất
như muốn giẫm nát những viên gạch lổn nhổn. Mụ điên chẳng buồn nhìn theo. Mụ
quay trở lại, xắn quần đến bẹn, ngồi gặm những quả xoài do Năm Trà ném rơi
lăn lóc trên mặt đất. Vừa ăn, mụ vừa lục cái túi của hắn. Mụ lôi ra được mấy
bộ quần áo ka-ki. Mụ đứng dậy, bận thử vào mình. Cái quần rộng lùng nhùng, mụ
kéo lên tới ngực. Cái áo dài tay che lấp cả bàn tay đen đủi của mụ. Mụ ngồi
xuống bực gạch, cẩn thận xắn lên từng nếp một. Rồi mụ đứng ra giữa lối đi,
ngắm vuốt một mình, và khoe khoang với tất cả mọi người chung quanh. Bây giờ
thì không còn ai dám nói gì đến mụ. Người ta sốt ruột về những cử chỉ lì lợm
của gã con trai.
Quả nhiên đến quá trưa hắn trở về. Mặt hắn đỏ nhừ và hơi
thở sặc sụa men rượu. Bên nách hắn còn ôm thêm hai chai nữa. Hắn đi lảo đảo.
Mặt hắn ngửa lên trời, môi hắn mím sít lại, cặp lông mày đen và rậm díu vào
nhau. Mắt hắn quắc lên dữ dội. Đến cửa nhà, hắn dừng lại, trân tráo nhìn bà
cụ, rồi bất thần hắn túm lấy hai vai bà cụ lắc lấy lắc để. Mồm hắn la lên:
"Cay nghiệt! Làm sao bà đem cho con tôi đi!"
Mụ nhìn hắn sợ hãi. Hai tay mụ gỡ bàn tay nắm cứng của
hắn. Chân mụ lết ra đằng sau, cặp mắt của mụ nhìn hắn như van lơn, mồm mụ há
hốc đầy dãi rớt. Một lát mụ vùng lên chạy. Vừa chạy mụ vừa la:
"Chó đẻ mày đánh tao, chó đẻ mày đánh tao. Thằng Năm
về nó bắn chết cha mày!"
Năm Trà co chân chạy theo. Hắn hớt hải:
"Má ơi... Con đây... Năm đây..."
Hắn túm được mụ ở đầu rãnh. Mụ chắp tay lên đầu vái hắn
lia lịa:
"Tui lậy ông... tui lậy ông..."
Năm Trà ôm lấy mẹ khóc lên rưng rức. Nước mắt của hắn ướt
đẫm cả chiếc áo có cầu vai. Rồi hắn dìu bà cụ đi, miệng không ngớt nói:
"Má ơi! Năm đây! Năm Trà đây!"
Mắt mụ điên sáng lên mừng rỡ. Mụ quay phắt sang túm lấy
ngực áo của hắn. Mụ ngắm nghía Năm Trà từ đầu đến chân, tay mụ sờ lên khuôn
mặt đẫm nước mắt của hắn. Một lát mụ run rẩy:
"Năm! Phải Năm không?"
Hắn ôm chầm lấy mụ:
"Con đây!"
Hai mẹ con cùng oà lên khóc. Hắn dẫn bà cụ đi vào trong
nhà. Lúc khép cánh cửa lại hắn không quên ném cho những người hàng xóm tò mò
một cái nhìn hằn học. Nhưng chỉ một lát sau, mụ điên đã chạy ra, chân mụ nhảy
cuống cuồng, mồm mụ la lên:
"Quân chó đẻ! Quân chó đẻ! Con tao nó về nó bắn chết
cha mày!"
Nói rồi mụ chạy tuốt ra ngõ.
"Hai đâu?"
"Ba đâu?"
"Út đâu?"
"Ối trời đất ơi là trời!"
Kéo xong cái tủ, hắn quay sang đạp đổ cái giường, hai tay
hắn múa vung lên những chiếc chân ghế. Hắn đập nát từng thứ đến gẫy tan tành.
Hàng xóm đổ xô lại. Hắn mở tung cửa ra, nhăm nhăm cầm mỗi tay một khúc gỗ.
Mọi người sợ hãi xô nhau chạy. Hắn chửi theo:
"Chết cha hết tụi bay đi! Chết cha hết tụi bay
đi!"
Vừa la hắn vừa thuận chân đá lăn lông lốc những mảnh gỗ
ngổn ngang trên mặt đất. Hai mắt hắn đỏ ngầu. Bàn tay nhem nhuốc của hắn rách
xoạc ra, rơm rớm máu. Hắn trở vào trong nhà đứng dựa lưng vào vách thở hổn
hển. Mồ hôi vã ra thấm ướt cả lưng và ngực áo. Hắn thèm có một con dao sắc
bén để đâm chém những kẻ mà hắn mang lòng thù hận. Chợt hắn đứng thẳng dậy,
chân hắn đạp nghiêng cái mặt bàn chắn lối vào bếp. Hắn nằm bò xuống trên mặt
đất, đầu chui dưới gậm chạn đầy muỗi và màng nhện. Loay hoay một lát hắn lôi
ra được một chai dầu. Mắt hắn sáng lên một cách dữ tợn.
Làn khói bốc từ khoảng trời xanh nhỏ hẹp ngoài sân rồi
cuộn lên cao. Gió thổi táp vào khiến ngọn lửa càng bùng lên dữ dội, nhô hẳn
ra ngoài những ánh lửa quằn quại thứ nhất.
Phía đằng trước vụt có tiếng hét:
"Cháy nhà! Cháy nhà!"
Tiếng kêu kinh hoàng như xé bên màng tai. Khắp xóm Cỏ chợt
nháo lên một cách phi thường. Mọi người đổ xô ra cửa. Tiếng chân chạy, tiếng
trẻ con khóc, tiếng la thất thanh truyền nhanh như một luồng điện giật:
"Năm Trà đốt nhà! Năm Trà đốt nhà!"
"Cháy! Cháy!"
Ngọn lửa mỗi lúc một bốc lên cao. Khói và tàn than ngùn
ngụt cuộn lên che mờ cả lối đi trong ngõ hẹp. Gió buổi chiều thổi táp lại,
xoáy trong đống lửa khơi lên hàng trăm ngàn những đốm đỏ sáng rực bay tứ
tung. Tre nứa khô ròn bắt lửa như những ngọn đuốc, nổ toác ra, kêu lốp bốp. Ở
khắp mọi nhà người ta bắt đầu quăng ra đường mọi thứ đồ đạc. Lối đi bất chợt
nghẽn lại, sóng người xô đẩy ngã sấp lên nhau, tiếng cãi vã chửi rủa, xen lẫn
với tiếng khóc la thảm thiết gây nên một khung cảnh hỗn độn kinh hoàng chưa
từng có.
Ở cửa nhà bác Nhan, mọi người cũng đang dồn cứng lại. Bác
Nhan gái mặt cắt không còn hột máu, một tay xốc cái Hơn bên nách, một tay
nhét vội những mớ quần áo vào tay nải. Bác Nhan trai cuống cuồng chạy lên
chạy xuống. Vật nào bác cũng muốn vơ, mà vật nào cũng chẳng có cách gì mang
đi được. Hai tay bác lay thử cái giường ọp ẹp. Mặt ván nhúc nhích một tí rồi
lại nằm ì trên mễ gỗ. Mồ hôi bác vã ra, hơi thở phì phò đùn dốc ra ở mũi. Bác
bỏ cái giường ra vần chiếc bàn thờ. Mấy cái chân nến đảo lên rồi đổ nghiêng
ngả. Cái bát hương nghiêng đi, lăn xuống mặt phản vỡ tan tành. Có tiếng bác
gái rít lên:
"Ăn hại! Đồ ăn hại! Trời đất ơi, chồng với con!"
Bác Nhan trai tức mình đứng phắt đậy, trừng mắt nhìn vợ:
"Ăn hại cái gì? Đừng có lắm chuyện! Sốt tiết lắm
nữa!"
Tiếng hai vợ chồng chợt chìm đi vì tiếng la ồn ào:
"Cháy sang nhà Tốn rồi! Cháy sang nhà Tốn rồi!"
Hai vợ chồng hốt hoảng chạy ra ngó bên ngoài. Phía trước
mặt là một biển lửa đỏ rực mù mịt tàn than. Những mái lá đang sụm xuống, đổ
nghiêng đi, rui kèo bửa ra rơi lả tả.
Ngọn lửa càng ngày càng mạnh, mỗi lần gió thổi tốc đến,
những mảnh than hồng sáng chói lại bốc lên, văng ra bốn phía bắt vào lá khô ở
mái bên cạnh, cháy lem lém. Ngoài đường cái, tiếng còi xe cấp cứu chợt rú lên
thê thảm. Sóng người trên lối đi lại một phen bị dồn ép. Bây giờ thì không
còn ai lo lắng đến đồ đạc nhà mình nữa. Tiếng con gọi mẹ, vợ gọi chồng, tiếng
người xéo giẫm lên nhau kêu gào khóc lóc gây hỗn loạn cả một góc trời.
Tới lúc này, Hai Hào mới nghe tin và chạy bổ về. Gã quăng
xe ở ngoài đường cái. Mặt gã tái mét, gã vừa len qua những đống đồ đạc ngổn
ngang trên mặt đất, vừa la hốt hoảng:
"Mình ơi! Chèng đéc ơi!"
Gã lao vào đám đông. Cụm người nêm cứng lại. Ngực gã vướng
phải một người đàn bà hai tay còn nắm khư khư lấy miệng túi áo. Mụ ta tru
tréo:
"Coi chừng tao... quân ăn cướp..."
Cánh tay mụ chợt bị hất mạnh. Một cuộn tiền rơi ra vung
vãi, mấy cúc áo của mụ xổ tung, vạt áo xoạc ra từng mảnh. Mụ la lớn:
"Ối làng nước ơi! Nó cướp của tôi!"
Lớp người lại xô đến. Lần này thì người ta vít mụ xuống,
hàng mấy chục bàn tay thi nhau khoắng lấy những đồng bạc rơi lả tả trên mặt
đường. Tiếng kêu của mụ bị át đi. Người mụ chúi về đằng trước, bộ ngực vướng
phải những bắp thịt cuồn cuộn của Hai Hào, khiến hắn dẫy nẩy như người phải
bỏng:
"Ý chèng đéc ơi! Xê tôi ra..."
Tiếng của gã cũng bị át đi. Những người đằng trước xô gã
lại, những người đằng sau đẩy gã lên. Người đàn bà tóc xổ tung gần ngất đi
trong cánh tay của gã. Gã càng thêm cuống quít:
"Ý chèng đéc ơi! Xê tôi ra..."
Gã cố gắng dìu mụ lại gần một đống gỗ. Khuôn mặt mụ nhợt
nhạt, cặp mắt đờ hẳn đi, miệng mụ không ngớt kêu lải nhải:
"Tiền hàng của tôi! Tiền hàng của tôi! Ối giời ơi là
giời!"
Hai Hào đặt vội mụ ngồi trên một cái chõng xiêu vẹo, đoạn
gã trèo lên nhìn vào trong ngõ. Căn nhà của vợ chồng gã lửa đã bén xuống cánh
cửa và đang ngùn ngụt lan xuống hàng rào. Ở đằng xa, những vách gỗ của dẫy
nhà xóm trong đang xiêu đi và bắt đầu sụp xuống. Than hồng lả tả rụng văng
ngập cả lối đi và cống rãnh. Gã chợt nom thấy vợ mình đang ngoi ra từ mấy cái
chạn gỗ đổ lổng chổng. Một tay Đào dắt Phó Ngữ, một tay nàng cố níu theo cái
tay nải bị đám đông vít lại, trôi ngược về phía sau. Hai Hào sung sướng nhẩy
chồm lên, gã vỗ đùi đen đét:
"Ý! Mình ơi! Chèng đéc ơi..."
Gã nhẩy bổ ngay xuống đất và cố sức len vào. Trong đám
đông hỗn loạn, mơ hồ gã nom thấy đủ mặt mọi người quen thuộc. Tất cả chen
nhau giạt ra xa để tránh những cái rui nhà đổ văng xuống. Lửa nóng dữ dội làm
ai nấy đổ mồ hôi, mặt lem luốc đầy tàn than và rát như phải bỏng. Người ta
xúm lại kéo đổ những túp lá còn lại. Tre nứa quằn quại cháy, vách đất bửa ra,
chum vại thi nhau nứt toác rồi vỡ tan tành gây nên những tiếng nổ chát chúa.
Một lát sau, Hai Hào đón được bàn tay của vợ. Gã sung
sướng bế nàng lên hai cánh tay. Miệng gã không ngớt la:
"May thiệt là may. Tôi ngỡ mình chôn luôn trong đó
rồi chớ!"
Đào lả đi trên vai gã, nàng nói ấm ức:
"Bố tôi không say thì còn chạy được bao nhiêu là đồ.”
Hai Hào quay lại nhìn. Gã thấy mặt Phó Ngữ đỏ lừ vì men
rượu. Đầu lão ngất ngư, mắt lão lim dim, lão túm lấy Hai Hào kè nhè:
"Thôi hỏng! Tao quên mất cái áo sa đen trăm mấy bạc!
Hai... Hai Hào quay lại đi!"
Hai Hào tức mình đun lão một cái. Lão ngã ngồi trên đống
vữa vụn. Gã đặt Đào xuống, ôm bổng chiếc tay nải lên vai. Vừa len chân lấy
chỗ ra, gã vừa càu nhàu:
"Quay! Quay cái nỗ đít! Tôi hãi bỏ bố tôi đi.”
Căn nhà cuối cùng đang bị kéo xuống gây nên tiếng đổ gẫy
răng rắc và sau cùng sập xuống nghe đánh rầm như trời long đất lở. Mọi người
ùa ra. Một luồng gió thổi mạnh làm làn than bay vung lên, có những đốm lửa
cháy đỏ quay cuồng trong không khí. Toàn xóm Cỏ bây giờ chỉ còn là một khung
cảnh hoang tàn đang ngùn ngụt cháy. Khói cuộn lên che kín cả một vùng mây. Cả
một khoảng trời đỏ rực lên và đầy khói nóng.
Phía ngoài xa, hàng ngàn người chen nhau đứng chật ních
trên đường cái và trong các quán chợ. Đồ đạc, quần áo, nồi niêu vớt vát được,
người ta quẳng ngổn ngang khắp mọi chỗ. Từ mạn trên phố, đoàn xe cứu thương
và cứu hoả không ngớt đổ đến, tiếng còi rít lên từng hồi nghe vừa khẩn cấp
vừa thê thảm. Càng về chiều, trời càng nổi gió, ngọn lửa càng cháy mạnh. Mãi
đến lúc tối mịt, đám cháy mới hạ dần. Lửa đỏ soi bóng đám người khốn khổ lố
nhố trên mặt đường. Trong khoảng tối mờ mịt, lúc này người ta mới đi tìm
nhau. Vợ gọi chồng, con gọi mẹ, tiếng than khóc, hỗn độn không kém lúc ngọn
lửa mới bắt đầu bốc lên.
Lão Hói cũng xuất hiện ở đám người ấy. Lão vẫn say khướt
như mọi ngày. Ống chân rún rẩy trên đôi giầy ba ta rách. Cái túi lúc lắc trên
vai. Khuôn mặt lão thấp thoáng trong ánh lửa đỏ. Hai tay lão múa lên, giọng
lão kè nhè:
"Có ông trời mà... Có ông trời thiệt mà..."
Rồi lão nằm lăn ra bờ cỏ, lục túi lấy chai rượu, ngửa cổ
tu từng hơi ừng ực. Hơi men đưa lên nóng bừng bừng. Lão cất giọng ngâm ư ử:
"Ngọc xuất thiên cung thủ quả châu.
Hoàng thiên thương mến quả địa cầu.
Giáng tạo thay đời không tranh đấu.
Thế giới thanh bình khói thuế sâu.
Có trời! Có ông trời thiệt mà..."
Trước mắt lão, khung cảnh hỗn loạn và vui tươi như một
ngày mở hội. Những bóng người chạy thấp thoáng trong ánh hồng rực lên của tàn
than. Nền trời cao vút long lanh mấy vì sao. Gió buổi chiều lùa xuống mát
rượi. Bên dưới, xóm Cỏ với những nếp nhà xiêu vẹo, mọc chen nhau san sát đã
trở thành bình địa. Khói âm ỉ bốc lên từ những thạp gạo và đồ đạc cháy giở.
Các lối đi bị lấp kín. Tất cả chỉ còn là một khoảng trống, hầm hập hơi nóng,
đưa lên mùi khét lẹt.
Chương
cuối
Trời đổ mưa dữ dội. Những giọt mưa đầu mùa sầm sập rơi như
thác chảy. Xóm Cỏ chìm trong làn nước trắng xoá mù mịt. Nước xoáy miết vào
những đống tàn than và gạch vữa, bào lên từng mảng đất bở, rồi cuốn trôi băng
băng theo cùng rác rưởi. Dòng nước đen ngầu sùi bọt, ứ lên từ những chỗ
trũng, trào len lỏi qua những chiếc rui cột chỏng chơ rồi đổ ra đường cái. Gió
thổi phần phật vào những mái lều dựng tạm thời trên một khoảng đất mới dọn.
Những cái cột mỏng manh nghiêng đi, vít từng sợi dây thừng căng ra nghiến ken
két vào thớ gỗ. Nước quạt ào ào trên nóc lều, thổi tung từng cánh bạt, hắt
xiên vào quá nửa mé bên trong.
Trẻ con túa hết ra ngoài mưa. Chúng nó đuổi nhau, hò hét
trong những vũng nước bẩn. Bóng dáng trần truồng của chúng len lỏi qua những
cái rui kèo đen thui nằm nghiêng ngửa trên đống gạch vụn. Tiếng hò hét cười
đùa xen lẫn tiếng chân lội bì bõm làm tung toé bọt. Cơn mưa đổ xuống bất chợt
khiến bầu không khí mát rượi hẳn đi. Sấm chớp thi nhau nổ rền trên một khoảng
trời xám đục. Những người chờ đợi cơn mưa từ mấy tháng trời chạy túa ra khỏi
lều, ngửa mặt lên cao. Từng đợt nước hắt lên mặt, xối xả chảy từ cổ xuống
chân làm những mái tóc ướt rã rượi, rũ hết cả ra phía đằng sau. Người ta bật
lên những tiếng khoan khoái:
"Mưa... mưa!"
Cơn mưa vẫn tiếp tục đổ liên miên hầu như không dứt. Than,
củi, gỗ nổi lều bều trên mặt nước, xoay tròn, trôi băng băng ra ngoài đường.
Những nếp tường đổ, những cái thùng đen xám nằm nghiêng ngửa, những rui kèo
sần sùi muội than và những cái thềm trơ trụi hoang tàn trong khoảnh khắc được
rửa sạch.
Ngồi trong lều, bác Tốn thủ thằng Giăng vào vạt áo. Nó nằm
ngửa trong vòng tay của bác, đôi mắt thao láo phô ra một mầu xanh biếc như
hai viên ngọc đang mở to nhìn chăm chăm vào mặt bác. Cái miệng xinh xắn của
nó hé ra hai vành môi đỏ hồng nom tươi tắn như nụ hoa. Bàn tay nhỏ xíu bụ bẫm
và trắng ngần của nó hoa lên, có lúc quơ được cái vạt áo của bác thì nó níu
chặt lấy. Thằng Ích ngồi bên cạnh cố che cái nón ra phía đằng trước để tránh
những cơn gió tạt vào. Bác Tốn nghển cổ lên, hàm răng trắng bóng nhe ra như
bác đang nhăn nhở cười. Bác nói lớn vào tai thằng Ích:
"Công tử có bị ướt không mày?"
Ích hét to:
"Không ướt một ly.”
"Ngủ hay thức?"
Ích nhìn vào cặp mắt xanh lơ của đứa bé:
"Thức! Mắt thô lố ra thế này này.”
Bác Tốn cúi xuống ôm nó vào sát với mình hơn. Bàn tay của
bác quờ quạng và bác rờ được lên một bên má mũm mĩm của nó. Bác ghì nó chặt
hơn và ghé môi hôn lên má nó chùn chụt. Một lát bác nói:
"Giá còn cái đàn nhỉ!"
Ích cười:
"Còn giá với rổ gì nữa. Cháy tiêu rồi!"
"Chắc không?"
"Tê đi chứ lại!"
"Ừ nhỉ, tao để nó ở đầu giường. Lúng túng với nhà ông
này, quên bố nó mất.”
"Bác tiếc không?"
"Nói như bố chó xồm ấy. Mất đàn mà lại không tiếc.”
Ngừng một lát bác tiếp:
"Mà cũng chả tiếc đâu. Của đi thay người.”
"Nhà bác này ấm ớ thật. Tiếc rồi lại không tiếc.”
"Nhà ông tiếc không?"
"Tiếc chứ!"
"Ừ nhỉ, cũng tiếc thật. Cây đàn bao nhiêu năm đi hát
với mình.”
Ích nói:
"Chả cần! Rồi có tiền lại mua.”
"Nhưng giờ mình biết đi hát làm sao đây. Không có đàn
kiếm ăn khó chứ chẳng chơi đâu!"
Một lát Ích hỏi:
"Bác biết thổi sáo không?"
Bác Tốn phát đánh đốp vào lưng nó một cái rồi reo lên:
"Có thế mà tao không nghĩ ra. Sáo tao thổi thì phải
biết. Đếch chê được!"
Ích múa tay:
"Sáo thì ở chợ thiếu gì!"
Bác Tốn nâng hẳn thằng Giăng lên, áp cả người nó vào một
bên vai của mình, mũi của bác hít hít vào cái cổ thơm tho của nó. Rồi bác
nói:
"Thế thì tê đi rồi. Còn sợ gì nữa!"
Cả hai bác cháu cùng vui vẻ quay ra ngoài trời. Trên một
khoảng nền đất rộng, những mái lều được dựng lên san sát đang nghiêng ngả
dưới những đợt mưa. Nước vẫn xoáy tròn, miết vào đống kèo rui cháy dở, làm
rác nổi dềnh lên, táp vào những khoảng thềm hoang trơ trụi đất. Gió thổi ào
ạt trong lùm cây, lùa qua những ống nứa ngổn ngang trên đống vật liệu xây
cất, văng vẳng nghe như có tiếng sáo trỗi lên ở đâu đây...
.......
Sài Gòn tháng 10, 1959 - tháng 4, 1961
|
|||
Tổng số lượt xem trang
Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014
Nhà văn NHẬT TIẾN : THỀM HOANG - KỲ CUỐI
Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014
PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 41
(tiếp
theo)
Một
banner vải trắng kẻ đậm hàng chữ xanh dương: " Chào Mừng Đồng Bào Đã Vượt
Thoát Và Đến Bờ Tự Do " được căng ngay trên khoảng trống của khuôn cửa căn
nhà ván gỗ ép mái lợp tôn. Những đồng hương Việt trên bờ chỉ chỗ cho đám chúng
tôi đi vào bên trong căn nhà đó, nói để họ làm hồ sơ nhập trại. Họ là nhân viên
thiện nguyện của ban Đại Diện người Việt và đều đã đến trại Galang từ các
chuyến ghe trước chúng tôi khá lâu rồi. Chờ mọi người vào hết trong căn nhà mà
giờ đây đã trở nên quá chật so với số người của 2 chiếc ghe, một ông tuổi ngoài
trung niên, mặc áo xanh lơ có các sọc trắng nhỏ cùng khuôn mặt rạng rỡ trong
tay cầm cái loa chạy pin, cất tiếng: " A lô! A lô! Yêu cầu đồng bào im
lặng, giữ trật tự để nghe đại diện chính quyền Nam Dương và Cao Ủy Liên Hiệp
Quốc tại trại tị nạn nói chuyện ".
Ông này phải lập đi lập lại vài lần cùng những nhắc nhở của các thiện nguyện viên trong trại thì tiếng ồn ào trong đám người chúng tôi mới từ từ chấm dứt. Một người da ngâm đen mặc đồng phục mầu nâu tím, đội mũ kết trên đầu đứng ở cái bục gỗ, đảo mắt nhìn đám người chúng tôi đang đứng ngồi lố nhố cả trong nhà lẫn ngoài sân rồi sau đó, ông ta nói một hơi dài bằng tiếng địa phương. Khi ông ta dứt lời, dù không hiểu nghĩa nhưng mọi người Việt có mặt đều vỗ tay rồn rã. Kế đó, một người Âu châu da trắng-tóc nâu với thân hình vạm vỡ bước đến và đón cái loa chạy pin từ tay một nhân viên thiện nguyện. Người đàn ông Âu châu này nói bằng Anh ngữ:
- Tôi là Peter, đại diện Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại trại tị nạn Galang đây. Chúc mừng quý vị người Việt đến nơi bình an... Ông Peter nói liền một hơi dài, có lúc ông gằn mạnh từng tiếng hoặc lập lại một câu ông vừa nói và khi kết thúc, ông ta mỉm cười, giơ tay vẫy đám người chúng tôi rồi bước ra khỏi cái bục gỗ.
Hết ông Peter thì đến phần ông người Việt mặc áo xanh lơ có các sọc trắng nhỏ ban nẫy liền tiến lại cái bục gỗ rồi cũng cầm lấy cái loa chạy pin, giới thiệu: " Tôi, Bùi Thế Dung, là chủ tịch ban Đại Diện người Việt ở đây xin chào mừng đồng bào đã đến được trại tị nạn Galang thành công ". Ông ta vừa dứt lời, tiếng vỗ tay xen lẫn các tiếng hét cùng huýt sáo vang lên ồn ĩ và có người chẩy nước mắt vì quá mừng. Một ông đứng gần bên tôi, nói nhỏ: " Có mặt Cao Ủy Liên Hiệp Quốc là mừng rồi, mình không còn lo chuyện phải ngồi ở dưới ghe đi tiếp nữa ". Ông Dung cho đám người chúng tôi biết là ông da đen nói trước có tên Agus Sulistiyono, cấp bậc Thiếu tá, trưởng đảo Galang rồi sau đó, ông tiếp: " Galang hiện nay rất khó khăn vì phải tiếp nhận thêm nhiều thuyền nhân đến trong một thời gian ngắn nên trại rất thiếu thốn về nhiều mặt và do vậy, mong mọi người thông cảm cùng chấp nhận hoàn cảnh ". Và, ông nói thêm: " Cao Ủy Liên Hiệp Quốc sẽ sắp xếp theo thứ tự ghe đến trại kể từ tháng Ba năm ngoái để thanh lọc từng người một. Hễ ai được công nhận là người tị nạn thì người đó sẽ đi định cư ở một quốc gia đệ tam, còn người bị coi là di dân kinh tế thì phải hồi hương về lại ViệtNam
". Như vậy, theo lời ông Dung thì 2 ghe chúng tôi đến trại hôm nay đã sau
ngày Cao Ủy ấn định nên cũng sẽ phải bị thanh lọc. Các chữ hồi hương làm chúng
tôi hoảng hồn và thanh lọc cũng khiến chúng tôi thắc mắc, chưa hiểu rõ nghĩa.
Một ông bên chiếc ghe đến trước liền hỏi và ông Dung giải thích:
- Tất cả chúng ta không còn tự động là người tị nạn khi đặt chân đến được trại Galang như trước đây nữa và đều phải bị thanh lọc, dù không ai muốn. Người Việt ở các trại tị nạn khác bên Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân hay Hồng Kông... cũng đều bị thanh lọc như vậy. Thanh lọc là gì? Là một cuộc điều tra giữa Cao Ủy và nước chủ nhà đối với thuyền nhân, để xem coi cá nhân người đó tại sao lại phải vượt biên và chuyến vượt biên đó có thực sự cần thiết hay không? Tôi chỉ biết khái quát là vậy, còn các chi tiết khác thì cũng phải chờ xem. Bản thân tôi, dù là một cựu Đại tá trong quân lực VNCH và nguyên Thứ trưởng quốc phòng của nội các Tổng thống Dương Văn Minh nhưng tôi cũng sẽ phải bị Cao Ủy thanh lọc như tất cả mọi người Việt ở trong trại chứ cũng chẳng được dành cho một ưu tiên gì, ông Peter đã nói rõ như vậy. Tôi nói điều đó ra đây để mong đồng bào hiểu ra vấn đề tị nạn của thuyền nhân chúng ta đối với cách giải quyết của cộng đồng quốc tế hiện thời, để mà bình tĩnh và chọn lựa cho mình cách khai báo sao cho tốt nhất hay nhất khi ngồi vào bàn thanh lọc, đối diện với nhân viên Cao Ủy cùng nước chủ nhà.
Nhiều người trong chúng tôi nhìn nhau với ánh mắt ngạc nhiên lẫn lo lắng vì như vậy, chuyện vượt biên đến được trại tị nạn bây giờ đã khác với khi trước. Từ nay, thôi không còn cảnh được nấn ná vài tháng hay cùng lắm là một hai năm ở trại rồi sau đó sẽ thơ thới đáp máy bay đến định cư ở nước thứ ba như suy nghĩ khi còn ngồi dưới ghe cũng như lúc sống trong trại nơi rừng Mã Lai. Chúng tôi đã bị lâm vào hoàn cảnh " Trâu chậm, uống nước đục " thật rồi. Mọi người chúng tôi đang xì xào, bàn tán râm ran về các lời của ông Dung vừa nói thì có tiếng loa tay gọi ai đi trong ghe 233 người ra xếp hàng làm thủ tục nhập trại trước. Một nhân viên thiện nguyện đứng giữa căn phòng, nói thật lớn: " Ai thuộc quân-công-cán-cảnh của chính quyền miền Nam VNCH thì đứng ở hàng bên phải, còn không... thì sang đứng ở hàng bên trái ". Sau đó, một nhân viên khác nói tiếp: " Đồng bào nào mang được các giấy tờ cá nhân thì càng tốt, nếu không có thì nhớ được cái gì khai cái nấy nhưng phải khai đúng sự thật nghe ". Ghe 135 người chúng tôi chưa đến lượt nên tản ra, đứng chờ dưới các bóng cây mát hoặc đi lòng vòng phía bên ngoài căn nhà. Có người thì lò dò lại gần chỗ đang khai báo lý lịch cá nhân để xem, để lấy kinh nghiệm cho phiên mình. Khu vực của cầu tàu Galang này khá rộng, có những căn nhà gạch nhỏ, mái lợp tôn nhưng cửa đóng im ỉm không biết của dân địa phương hay của chính quyền coi trại. Vài người đứng gần một hàng cây um tùm, ngoắc tay chỉ về một chỗ khuất khiến tôi để ý liền bước lại xem. Ở một con rạch cạn phía bên tay phải cầu tàu, 4 xác ghe cũ đã hỏng nằm phơi mình im lìm trong làn nước dưới các bóng cây. " Ghe của dân vượt biên người Việt mình. Thấy chưa! Họ vào được tới đây nè ", một người trong bọn nói. Thấy đám chúng tôi tản ra khá xa khu vực, một gã cảnh sát Indo từ xa tiến lại và lấy tay ra dấu cho chúng tôi phải đi về. Cả đám lục tục trở lại chỗ cũ, đứng ngồi chùm nhum thành từng đám nhỏ chung quanh căn nhà. Không thấy mặt ông Thiếu tá trưởng đảo cùng ông Peter-Cao Ủy trưởng, tôi nghĩ cả hai người họ chắc đã bỏ về trước. Ở một chỗ không xa, ông Dung đang đứng trò chuyện cùng với các gã cảnh sát Indo.
Chợt một nhân viên thiện nguyện nói to từ bàn làm thủ tục tiếp nhận làm tôi chú ý.
- Anh vừa nói anh là cựu quân nhân VNCH và thuộc binh chủng Phòng Không-Không Quân. Anh cũng nói sinh năm 1950 và số quân của anh là... Phải không? Anh nhắc lại cho tôi nghe lần nữa xem.
Dãy bên phải nơi kê các bàn gỗ dài có từng cặp hai người ngồi đối diện nhau, một bên là nhân viên thiện nguyện và bên kia là người mới đến. Cứ hỏi, nghe rồi ghi tóm tắt lời khai của người nhập trại vào các tập giấy. Ở bàn vừa có tiếng hỏi của nhân viên thiện nguyện trại, một người đàn ông nói giọng Bắc lí nhí đang nhắc lại lời của mình vừa khai. Nghe dứt câu trả lời từ miệng người đàn ông thì nhân viên thiện nguyện đó đứng lên gọi lớn: " Ê! Mấy ông lại xem thử bản lý lịch của cha nầy khai nè ". Hai, ba nhân viên thiện nguyện khác liền tiến đến chiếc bàn đó và sau khi nghe kể lại tự sự, một người trong đám họ nói với ông khai báo:
- Nè! Quân lực VNCH không có binh chủng phòng không-không quân đâu nghe cha nội. Tụi Việt Cộng còn chưa có xe tăng thì nói gì đến máy bay và không bao giờ máy bay của bọn CS Bắc Việt dám xuất hiện tại miền Nam mà anh dám khai là lính của cái binh chủng nầy. Ngừng vài giây để đọc kỹ tờ khai, thiện nguyện viên nầy lẩm bẩm: " Sinh năm 1950 mà anh khai số quân... là xạo chuyện nha " rồi ông ta đưa tờ giấy đó cho các nhân viên khác đứng gần bên xem. Sau khi lướt mắt qua tờ giấy đó, một nhân viên thiện nguyện chỉ tay vào ông khai báo, nói lớn:
- Đ.M thằng nầy giả dạng quân nhân VNCH nè mấy ông. Mầy là Việt Cộng phải không? Đi vượt biên sang đây làm gì hở mầy?
Ngồi yên cúi đầu, bờ vai người đàn ông khẽ run rẩy cùng tay chân luống cuống. Một nhân viên thiện nguyện khác hỏi lại ông về lý lịch nhưng người đàn ông vẫn khăng khăng bản thân mình là cựu quân nhân trong binh chủng phòng không-không quân của chính quyền miền Nam VNCH. Nghe tiếng đôi co, vài thiện nguyện viên khác kéo đến và một người trong số hỏi thêm: " OK! Anh cho tụi tui biết loại vũ khí phòng không trong đơn vị anh coi? Súng gì? Nòng cỡ bao nhiêu ly? ".
Người đàn ông đó im lặng, vẻ mặt xuống sắc khi đảo mắt nhìn những thiện nguyện viên đang vây chung quanh. Thấy vẻ lúng túng của ông ta, một thiện nguyện viên cười gằn, nói:
- Mầy! Việt Cộng rõ ràng nha. Tụi tao khốn khổ vì bọn mầy nên phải bỏ nước vượt biên mà mầy chưa vừa lòng hay sao lại chạy theo sang đây. Định trà trộn vượt biên để phá hoại nữa hử? Đ.M chắc tao phải đập mầy một trận cho bỏ tật dối trá rồi tính sau.
Dứt câu, thiện nguyện viên đó nhào đến người đàn ông rồi dơ cao nắm tay nhưng... các người khác gần đó đã cản liền. Một người nói có mặt đám police Indo ở đây thấy xô xát thì mất công chúng phải can thiệp sẽ thêm rối. Đám chúng tôi thấy sự vụ xẩy ra liền chen vào để hóng chuyện. Ông Dung đang tản bộ ở ngoài sân thì được nhân viên trật tự báo, nên vội đi đến nơi xem. Thấy ông Dung, một nhân viên thiện nguyện trình bày:
- Thưa Đại tá! Có tên bộ đội dám giả dạng lính VNCH mình vừa bị tụi em phát giác. Thằng Việt Cộng đó đây nè.
Ông Dung đến bên chiếc bàn gỗ, các nhân viên thiện nguyện tản ra đứng sớ rớ chung quanh chờ xem. Một nhân viên thiện nguyện đưa tờ khai cho ông Dung xem. Ông ta cầm lấy, đọc qua và đưa mắt nhìn người khai lý lịch đang ngồi im lìm, bất động. Từ tốn, ông Dung nói cho người khai lý lịch đó và cả những người chúng tôi đang chờ làm thủ tục nhập trại nghe: " Đã bỏ nước trốn nạn CS đến đây thì tất cả chúng ta đều là anh em con một mẹ ViệtNam .
Nếu anh đã từng là bộ đội hay công an CS thì cứ khai ra, có gì phải sợ mà gian
trá. Thiếu gì đảng viên CS, du sinh, lao động hợp tác rồi cả công an CS nữa...
vượt biên vượt biển xin tị nạn và ngay trong trại nầy hiện giờ cũng đang có một
số họ. Biết anh có thái độ dối trá thì người ta càng thêm ghét thêm khinh
".
Tôi chen vào đám đông để xem mặt người mạo nhận. Thì ra ông ta là người có ánh mắt vui vui khi đã nhìn tôi trong tối hôm qua ở nhóm ngồi uống trà Blao ướp hoa lài đây mà. Một người trong ghe 233 đứng gần đó, tiết lộ thêm:
- Ông nầy lúc còn trên xe buýt nói sống ở trong nông trường Lâm Hà thì tôi đã nghi nghi là dân Bắc Kỳ 2 nút... Vậy mà đúng chứ. Cứ nghe giọng nói của ông ta kìa.
Nông trường Lâm Hà. Nó nằm ở đâu? Có người hỏi thì ông đó cho biết Lâm Hà là khu định cư mới do chính quyền CS lập dành cho cư dân Hà Nội từ ngoài miền Bắc kéo vào Nam sau ngày 30-4-1975 ở trên vùng cao nguyên Lâm Đồng gần Di Linh. Lâm Hà là cái tên ghép chung giữa Lâm Đồng và Hà Nội.
Không biết tại sao khi chỉ nghe khai năm sinh và số quân của ông miền Bắc người nông trường Lâm Hà mà nhân viên thiện nguyện lại biết ông ta đã khai man lý lịch. Phải có một cái gì đó như một quy tắc liên đới giữa năm sinh và số quân của người lính miền Nam VNCH để người biết sự việc thì sẽ dễ dàng nhận ra sai phạm, điều mà ông người nông trường Lâm Hà tưởng cứ nói bừa ra các con số là sẽ xong việc.
Phải mất một thời gian khá lâu thì mới xong thủ tục nhập trại cho chiếc ghe 233 người rồi mới đến lượt ghe chúng tôi. Tuy bản khai lý lịch cá nhân mỗi người không dài và dù có khá đông thiện nguyện viên giúp sức nhưng cũng phải mất gần 2 tiếng đồng hồ nữa mới xong hết cả ghe. Tôi quay ra nhập bọn với những người đứng ở ngoài sân khi trời đã về chiều. Nắng tắt khá lâu rồi, mặt nước trước cửa ngõ vào cầu tàu Galang bây giờ đã đổi sang mầu tim tím. Chợt một tiếng ùm thật lớn từ dưới mặt nước vọt lên tạo thành một vòng sóng rộng có hình tròn đồng tâm nối tiếp nhau chạy lăn tăn vào bờ làm cả đám chúng tôi giật mình. " Cá đớp bóng đó. Con nầy lớn lắm nha! Mỗi khi có dịp ra ngoài đây thì thỉnh thoảng tôi lại gặp như vậy. Chỗ này có cá lớn thì ở bên dưới phải sâu lắm và thể nào cũng có các hang động ngầm gì đây ", một thiện nguyện viên nói. Chúng tôi nhìn mặt nước vẫn trong cơn sao động, mong sẽ thấy hình dáng của con cá lớn đó khi làm thêm cái đớp bóng nữa. Nhưng không, con cá đã lặn mất.
Các nhân viên thiện nguyện tay ôm chồng giấy tờ lý lịch đoàn người của hai ghe đứng tập trung với chúng tôi để chờ xe cùng vào trại chung.Tay cầm cái loa chạy pin, ông
Dung nói ít lời cuối cùng cho cả đoàn người mới đến.
- Như tôi đã nói ban nãy, chỗ ở trong trại hiện giờ rất chật chội vì quá đông người tị nạn. Cao Ủy đã phải cất thêm các dẫy nhà lợp lá cho đồng bào mới đến. Người quá đông ngoài dự liệu của họ, do đó sẽ có những khó khăn trong sinh hoạt và cả trong việc chờ đợi để đến phiên thanh lọc, mong đồng bào thông cảm. Bây giờ mời đồng bào chuẩn bị lên xe để vào trại.
Ông này phải lập đi lập lại vài lần cùng những nhắc nhở của các thiện nguyện viên trong trại thì tiếng ồn ào trong đám người chúng tôi mới từ từ chấm dứt. Một người da ngâm đen mặc đồng phục mầu nâu tím, đội mũ kết trên đầu đứng ở cái bục gỗ, đảo mắt nhìn đám người chúng tôi đang đứng ngồi lố nhố cả trong nhà lẫn ngoài sân rồi sau đó, ông ta nói một hơi dài bằng tiếng địa phương. Khi ông ta dứt lời, dù không hiểu nghĩa nhưng mọi người Việt có mặt đều vỗ tay rồn rã. Kế đó, một người Âu châu da trắng-tóc nâu với thân hình vạm vỡ bước đến và đón cái loa chạy pin từ tay một nhân viên thiện nguyện. Người đàn ông Âu châu này nói bằng Anh ngữ:
- Tôi là Peter, đại diện Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại trại tị nạn Galang đây. Chúc mừng quý vị người Việt đến nơi bình an... Ông Peter nói liền một hơi dài, có lúc ông gằn mạnh từng tiếng hoặc lập lại một câu ông vừa nói và khi kết thúc, ông ta mỉm cười, giơ tay vẫy đám người chúng tôi rồi bước ra khỏi cái bục gỗ.
Hết ông Peter thì đến phần ông người Việt mặc áo xanh lơ có các sọc trắng nhỏ ban nẫy liền tiến lại cái bục gỗ rồi cũng cầm lấy cái loa chạy pin, giới thiệu: " Tôi, Bùi Thế Dung, là chủ tịch ban Đại Diện người Việt ở đây xin chào mừng đồng bào đã đến được trại tị nạn Galang thành công ". Ông ta vừa dứt lời, tiếng vỗ tay xen lẫn các tiếng hét cùng huýt sáo vang lên ồn ĩ và có người chẩy nước mắt vì quá mừng. Một ông đứng gần bên tôi, nói nhỏ: " Có mặt Cao Ủy Liên Hiệp Quốc là mừng rồi, mình không còn lo chuyện phải ngồi ở dưới ghe đi tiếp nữa ". Ông Dung cho đám người chúng tôi biết là ông da đen nói trước có tên Agus Sulistiyono, cấp bậc Thiếu tá, trưởng đảo Galang rồi sau đó, ông tiếp: " Galang hiện nay rất khó khăn vì phải tiếp nhận thêm nhiều thuyền nhân đến trong một thời gian ngắn nên trại rất thiếu thốn về nhiều mặt và do vậy, mong mọi người thông cảm cùng chấp nhận hoàn cảnh ". Và, ông nói thêm: " Cao Ủy Liên Hiệp Quốc sẽ sắp xếp theo thứ tự ghe đến trại kể từ tháng Ba năm ngoái để thanh lọc từng người một. Hễ ai được công nhận là người tị nạn thì người đó sẽ đi định cư ở một quốc gia đệ tam, còn người bị coi là di dân kinh tế thì phải hồi hương về lại Việt
- Tất cả chúng ta không còn tự động là người tị nạn khi đặt chân đến được trại Galang như trước đây nữa và đều phải bị thanh lọc, dù không ai muốn. Người Việt ở các trại tị nạn khác bên Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân hay Hồng Kông... cũng đều bị thanh lọc như vậy. Thanh lọc là gì? Là một cuộc điều tra giữa Cao Ủy và nước chủ nhà đối với thuyền nhân, để xem coi cá nhân người đó tại sao lại phải vượt biên và chuyến vượt biên đó có thực sự cần thiết hay không? Tôi chỉ biết khái quát là vậy, còn các chi tiết khác thì cũng phải chờ xem. Bản thân tôi, dù là một cựu Đại tá trong quân lực VNCH và nguyên Thứ trưởng quốc phòng của nội các Tổng thống Dương Văn Minh nhưng tôi cũng sẽ phải bị Cao Ủy thanh lọc như tất cả mọi người Việt ở trong trại chứ cũng chẳng được dành cho một ưu tiên gì, ông Peter đã nói rõ như vậy. Tôi nói điều đó ra đây để mong đồng bào hiểu ra vấn đề tị nạn của thuyền nhân chúng ta đối với cách giải quyết của cộng đồng quốc tế hiện thời, để mà bình tĩnh và chọn lựa cho mình cách khai báo sao cho tốt nhất hay nhất khi ngồi vào bàn thanh lọc, đối diện với nhân viên Cao Ủy cùng nước chủ nhà.
Nhiều người trong chúng tôi nhìn nhau với ánh mắt ngạc nhiên lẫn lo lắng vì như vậy, chuyện vượt biên đến được trại tị nạn bây giờ đã khác với khi trước. Từ nay, thôi không còn cảnh được nấn ná vài tháng hay cùng lắm là một hai năm ở trại rồi sau đó sẽ thơ thới đáp máy bay đến định cư ở nước thứ ba như suy nghĩ khi còn ngồi dưới ghe cũng như lúc sống trong trại nơi rừng Mã Lai. Chúng tôi đã bị lâm vào hoàn cảnh " Trâu chậm, uống nước đục " thật rồi. Mọi người chúng tôi đang xì xào, bàn tán râm ran về các lời của ông Dung vừa nói thì có tiếng loa tay gọi ai đi trong ghe 233 người ra xếp hàng làm thủ tục nhập trại trước. Một nhân viên thiện nguyện đứng giữa căn phòng, nói thật lớn: " Ai thuộc quân-công-cán-cảnh của chính quyền miền Nam VNCH thì đứng ở hàng bên phải, còn không... thì sang đứng ở hàng bên trái ". Sau đó, một nhân viên khác nói tiếp: " Đồng bào nào mang được các giấy tờ cá nhân thì càng tốt, nếu không có thì nhớ được cái gì khai cái nấy nhưng phải khai đúng sự thật nghe ". Ghe 135 người chúng tôi chưa đến lượt nên tản ra, đứng chờ dưới các bóng cây mát hoặc đi lòng vòng phía bên ngoài căn nhà. Có người thì lò dò lại gần chỗ đang khai báo lý lịch cá nhân để xem, để lấy kinh nghiệm cho phiên mình. Khu vực của cầu tàu Galang này khá rộng, có những căn nhà gạch nhỏ, mái lợp tôn nhưng cửa đóng im ỉm không biết của dân địa phương hay của chính quyền coi trại. Vài người đứng gần một hàng cây um tùm, ngoắc tay chỉ về một chỗ khuất khiến tôi để ý liền bước lại xem. Ở một con rạch cạn phía bên tay phải cầu tàu, 4 xác ghe cũ đã hỏng nằm phơi mình im lìm trong làn nước dưới các bóng cây. " Ghe của dân vượt biên người Việt mình. Thấy chưa! Họ vào được tới đây nè ", một người trong bọn nói. Thấy đám chúng tôi tản ra khá xa khu vực, một gã cảnh sát Indo từ xa tiến lại và lấy tay ra dấu cho chúng tôi phải đi về. Cả đám lục tục trở lại chỗ cũ, đứng ngồi chùm nhum thành từng đám nhỏ chung quanh căn nhà. Không thấy mặt ông Thiếu tá trưởng đảo cùng ông Peter-Cao Ủy trưởng, tôi nghĩ cả hai người họ chắc đã bỏ về trước. Ở một chỗ không xa, ông Dung đang đứng trò chuyện cùng với các gã cảnh sát Indo.
Chợt một nhân viên thiện nguyện nói to từ bàn làm thủ tục tiếp nhận làm tôi chú ý.
- Anh vừa nói anh là cựu quân nhân VNCH và thuộc binh chủng Phòng Không-Không Quân. Anh cũng nói sinh năm 1950 và số quân của anh là... Phải không? Anh nhắc lại cho tôi nghe lần nữa xem.
Dãy bên phải nơi kê các bàn gỗ dài có từng cặp hai người ngồi đối diện nhau, một bên là nhân viên thiện nguyện và bên kia là người mới đến. Cứ hỏi, nghe rồi ghi tóm tắt lời khai của người nhập trại vào các tập giấy. Ở bàn vừa có tiếng hỏi của nhân viên thiện nguyện trại, một người đàn ông nói giọng Bắc lí nhí đang nhắc lại lời của mình vừa khai. Nghe dứt câu trả lời từ miệng người đàn ông thì nhân viên thiện nguyện đó đứng lên gọi lớn: " Ê! Mấy ông lại xem thử bản lý lịch của cha nầy khai nè ". Hai, ba nhân viên thiện nguyện khác liền tiến đến chiếc bàn đó và sau khi nghe kể lại tự sự, một người trong đám họ nói với ông khai báo:
- Nè! Quân lực VNCH không có binh chủng phòng không-không quân đâu nghe cha nội. Tụi Việt Cộng còn chưa có xe tăng thì nói gì đến máy bay và không bao giờ máy bay của bọn CS Bắc Việt dám xuất hiện tại miền Nam mà anh dám khai là lính của cái binh chủng nầy. Ngừng vài giây để đọc kỹ tờ khai, thiện nguyện viên nầy lẩm bẩm: " Sinh năm 1950 mà anh khai số quân... là xạo chuyện nha " rồi ông ta đưa tờ giấy đó cho các nhân viên khác đứng gần bên xem. Sau khi lướt mắt qua tờ giấy đó, một nhân viên thiện nguyện chỉ tay vào ông khai báo, nói lớn:
- Đ.M thằng nầy giả dạng quân nhân VNCH nè mấy ông. Mầy là Việt Cộng phải không? Đi vượt biên sang đây làm gì hở mầy?
Ngồi yên cúi đầu, bờ vai người đàn ông khẽ run rẩy cùng tay chân luống cuống. Một nhân viên thiện nguyện khác hỏi lại ông về lý lịch nhưng người đàn ông vẫn khăng khăng bản thân mình là cựu quân nhân trong binh chủng phòng không-không quân của chính quyền miền Nam VNCH. Nghe tiếng đôi co, vài thiện nguyện viên khác kéo đến và một người trong số hỏi thêm: " OK! Anh cho tụi tui biết loại vũ khí phòng không trong đơn vị anh coi? Súng gì? Nòng cỡ bao nhiêu ly? ".
Người đàn ông đó im lặng, vẻ mặt xuống sắc khi đảo mắt nhìn những thiện nguyện viên đang vây chung quanh. Thấy vẻ lúng túng của ông ta, một thiện nguyện viên cười gằn, nói:
- Mầy! Việt Cộng rõ ràng nha. Tụi tao khốn khổ vì bọn mầy nên phải bỏ nước vượt biên mà mầy chưa vừa lòng hay sao lại chạy theo sang đây. Định trà trộn vượt biên để phá hoại nữa hử? Đ.M chắc tao phải đập mầy một trận cho bỏ tật dối trá rồi tính sau.
Dứt câu, thiện nguyện viên đó nhào đến người đàn ông rồi dơ cao nắm tay nhưng... các người khác gần đó đã cản liền. Một người nói có mặt đám police Indo ở đây thấy xô xát thì mất công chúng phải can thiệp sẽ thêm rối. Đám chúng tôi thấy sự vụ xẩy ra liền chen vào để hóng chuyện. Ông Dung đang tản bộ ở ngoài sân thì được nhân viên trật tự báo, nên vội đi đến nơi xem. Thấy ông Dung, một nhân viên thiện nguyện trình bày:
- Thưa Đại tá! Có tên bộ đội dám giả dạng lính VNCH mình vừa bị tụi em phát giác. Thằng Việt Cộng đó đây nè.
Ông Dung đến bên chiếc bàn gỗ, các nhân viên thiện nguyện tản ra đứng sớ rớ chung quanh chờ xem. Một nhân viên thiện nguyện đưa tờ khai cho ông Dung xem. Ông ta cầm lấy, đọc qua và đưa mắt nhìn người khai lý lịch đang ngồi im lìm, bất động. Từ tốn, ông Dung nói cho người khai lý lịch đó và cả những người chúng tôi đang chờ làm thủ tục nhập trại nghe: " Đã bỏ nước trốn nạn CS đến đây thì tất cả chúng ta đều là anh em con một mẹ Việt
Tôi chen vào đám đông để xem mặt người mạo nhận. Thì ra ông ta là người có ánh mắt vui vui khi đã nhìn tôi trong tối hôm qua ở nhóm ngồi uống trà Blao ướp hoa lài đây mà. Một người trong ghe 233 đứng gần đó, tiết lộ thêm:
- Ông nầy lúc còn trên xe buýt nói sống ở trong nông trường Lâm Hà thì tôi đã nghi nghi là dân Bắc Kỳ 2 nút... Vậy mà đúng chứ. Cứ nghe giọng nói của ông ta kìa.
Nông trường Lâm Hà. Nó nằm ở đâu? Có người hỏi thì ông đó cho biết Lâm Hà là khu định cư mới do chính quyền CS lập dành cho cư dân Hà Nội từ ngoài miền Bắc kéo vào Nam sau ngày 30-4-1975 ở trên vùng cao nguyên Lâm Đồng gần Di Linh. Lâm Hà là cái tên ghép chung giữa Lâm Đồng và Hà Nội.
Không biết tại sao khi chỉ nghe khai năm sinh và số quân của ông miền Bắc người nông trường Lâm Hà mà nhân viên thiện nguyện lại biết ông ta đã khai man lý lịch. Phải có một cái gì đó như một quy tắc liên đới giữa năm sinh và số quân của người lính miền Nam VNCH để người biết sự việc thì sẽ dễ dàng nhận ra sai phạm, điều mà ông người nông trường Lâm Hà tưởng cứ nói bừa ra các con số là sẽ xong việc.
Phải mất một thời gian khá lâu thì mới xong thủ tục nhập trại cho chiếc ghe 233 người rồi mới đến lượt ghe chúng tôi. Tuy bản khai lý lịch cá nhân mỗi người không dài và dù có khá đông thiện nguyện viên giúp sức nhưng cũng phải mất gần 2 tiếng đồng hồ nữa mới xong hết cả ghe. Tôi quay ra nhập bọn với những người đứng ở ngoài sân khi trời đã về chiều. Nắng tắt khá lâu rồi, mặt nước trước cửa ngõ vào cầu tàu Galang bây giờ đã đổi sang mầu tim tím. Chợt một tiếng ùm thật lớn từ dưới mặt nước vọt lên tạo thành một vòng sóng rộng có hình tròn đồng tâm nối tiếp nhau chạy lăn tăn vào bờ làm cả đám chúng tôi giật mình. " Cá đớp bóng đó. Con nầy lớn lắm nha! Mỗi khi có dịp ra ngoài đây thì thỉnh thoảng tôi lại gặp như vậy. Chỗ này có cá lớn thì ở bên dưới phải sâu lắm và thể nào cũng có các hang động ngầm gì đây ", một thiện nguyện viên nói. Chúng tôi nhìn mặt nước vẫn trong cơn sao động, mong sẽ thấy hình dáng của con cá lớn đó khi làm thêm cái đớp bóng nữa. Nhưng không, con cá đã lặn mất.
Các nhân viên thiện nguyện tay ôm chồng giấy tờ lý lịch đoàn người của hai ghe đứng tập trung với chúng tôi để chờ xe cùng vào trại chung.
- Như tôi đã nói ban nãy, chỗ ở trong trại hiện giờ rất chật chội vì quá đông người tị nạn. Cao Ủy đã phải cất thêm các dẫy nhà lợp lá cho đồng bào mới đến. Người quá đông ngoài dự liệu của họ, do đó sẽ có những khó khăn trong sinh hoạt và cả trong việc chờ đợi để đến phiên thanh lọc, mong đồng bào thông cảm. Bây giờ mời đồng bào chuẩn bị lên xe để vào trại.
(còn nữa)
Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014
HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 186 - Còn bao nhiêu đồng chí khác thì sao ???
Mấy hôm liền không thấy thằng Bảy xe ôm thò mặt ra quán. Chẳng
ai chú ý nếu chị Gái hủ tíu không lên tiếng :
“ Quái…thằng Bảy xe ôm mấy hôm nay đi đâu mất tiêu ?”
Gã Ký Quèn mau miệng “
“ Chắc chở khách đi tỉnh
?”
Cô Phượng cave lắc đầu :
“ Không phải đâu, đi tỉnh thì cũng hôm trước hôm sau về…chắc nó
thua cá độ trận VN-Mã Lai bị bắt mất xe hẳn thôi…”
Hóa ra cô Phượng cave đoán trúng bóc, sáng hôm sau, đã thấy nó
ngồi một đống trong quán. Ông đại tá hưu tỏ vẻ quan tâm :
“ Mấy hôm nay mày bịnh sao không thấy ra quán ?”
Thằng Bảy xe ôm càu nhàu :
“ Bịnh đâu bịnh ? Mắc công chuyện chớ bộ !”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Mày có mỗi cái việc chở khách thôi chớ còn công chuyện gì ?”
Thằng Bảy xe ôm cau mặt :
“ Xe cầm mất rồi , không đi chuộc về láy đâu xe mà chở ?”
Cô Phượng cave cười ré :
“ Tao đoán ngay tróc … mày thua cá độ trận VN- Mã Lai phải cầm
xe , đúng không ?”
Thằng Bảy xe ôm văng tục:
“ĐM…mấy thằng hậu vệ bán độ mới thua đau vậy ?”
Ông đại tá hưu chen ngang :
“ Thua là tại thằng huấn luyện viên Nhật Bổn sai lầm chiến
thuật chớ…ổng nhận trách nhiệm rồi mà…”
Cô Phượng cave nhảy nhổm như thần tượng bị xúc phạm, la chói
lói :
“ Anh Miura không có sai…thua là do tụi nó bán độ…công an vào
cuộc rồi mà…”
Rồi cô kể vanh vách nào anh Miura giỏi lắm đã du học 6 năm ở
Đức, nào anh không hút thuốc không bia rượu, rất thân thiện và cũng rát nghiêm
khắc với cầu thủ…
Gã Ký Quèn ngắt lời :
“Biết rồi…biết anh Miura của cô giỏi rồi, chẳng thế mà VFF
không bắt kiểm điểm trận thua vừa rồi lại giao ngay cho anh đội U23 và tuyển
quốc gía…”
Thằng Bảy xe ôm càu nhàu :
“ Mẹ kiếp…cứ bán độ như vừa rồi đến 10 anh Miura cũng chẳng cứu được bóng đá Việt Nam ..”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Mày vẫn còn cay cú hả Bảy ? Tao tưởng mày phải vui lên chớ ?”
Thằng Bảy xe ôm phù mỏ :
“ Có cái gì mà vui ?”
Gã Ký Quèn chen ngang :
“ Thì mới có chỉ thị không cho cảnh sát núp lùm nữa kìa…phải đứng đoàng hoàng giữa thiên thanh bạch nhật kìa…”
Thằng Bảy xe ôm thở hắt ra :
“ Nhằm nhò con mẹ gì…nó đứng đàng hoàng nhưng mà cách đèn đỏ
vài trăm mét đón lõng thằng vượt đè đỏn…cấm núp thì cũng thế mà thôi…Mà có núp
thì cũng chẳng ai làm gì được, tụi nó bênh nhau mà…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Mày nói đúng đó…như cái thằng nguyên Tổng thanh tra Trần Văn
Truyền tham nhũng bao nhiêu là tiền xây cất bao nhiêu biệt thự mà tối nay to
nghe tivi nói Ủy ban kỷ lụật cuả đảng chỉ cảnh cáo thôi…nó hưu rồi cảnh cáo nhằm nhò mẹ gì, lẽ a phải khởi tố ra Tòa
chớ…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Khởi tố ra tòa đâu có được…còn bao nhiêu đồng chí khác thì
sao ?”
Cả quán cười ầm àm…trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng.
16-12-2014…
:
Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014
YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 160
(tiếp
theo)
Bà Sáu Thượng đang nổi giận đùng đùng cũng phải xìu xuống :
“ À…à…tao nhầm…tại mày diễn tả
lời con đó giống y như thật nên tao cứ tưởng mày là nó…thôi thôi…xin
lỗi…xin lỗi…”
Thằng thư ký ca cẩm :
“ Cô Sáu cứ nhầm lẫn thế này thì chết con. Thôi lần sau con
không dám thật thà kể lể cho cô Sáu nghe như thế này nữa
kẻo rồi lại anh đòn …”
Bà Sáu Thượng cau mày :
“ Mày nói vậy có ý sẽ giấu giếm tao nhiều chuyện phải không ?”
Gã thư ký vội vàng :
“ Dạ không không, con nói đùa chơi vậy thôi, con đã theo cô Sáu
thì dù bất kỳ hoàn cảnh nào con cũng là người của cô Sáu,
là người của phe ta chớ ?”
Bà sáu Thượng gật đầu :
“ Được lắm…Nói lời phải giữ lấy lời. Mày nghĩ được
như vậy là ấm cho cái thân mày lắm…”
Nói rồi bà Sáu quay sang ông chồng :
“ Giờ tôi mới hỏi đến ông … ông giấu nó ở đâu ?”
Ong Sáu Thượng tái mặt. Giờ mà khai thực ra khi chia tay ông
dặn con bé Thật tìm tới bà cấp dưỡng nhà ăn tỉnh uỷ thì nó chết chắc. Bà sẽ
phái ngay tay chân lên đó lôi cổ nó về và kỳ này nhất định bà sẽ bắt nó đối
chất với ông. Bà cấp dưỡng tỉnh uỷ là một bà già người dân
tộc Mán hiền lành, phúc hậu. Mấy năm trước ông đã gửi gắm con bé Thật cho bà sợ
xung quanh hại nó. Khi nó còn là một con bé nữ sinh rụt rè, bẽn lẽn thì xung
quanh ai cũng thương nó, sẵn sàng giúp đỡ khi gặp khó khăn. Nhưng khi nó đã trở
thành bồ nhí của một đồng chí cán bộ cao cấp ở trung ương, ăn trắng mặc trơn,
ra vào được trọng vọng thì lòng đố kỵ vốn là căn bệnh trầm
kha của con người sẽ nổi lên. Người ta lườm nguýt, đồn thổi, tung tin dựng
chuyện bôi xấu nó và không loại trừ những kẻ quá ghen tức giở cả võ tay chân ra
với nó.
Bởi vậy cứ sau mỗi lần chia tay cô nhân tình be bé để về trung ương ông lại gặp bà Mán cấp dưỡng, biếu bà một món
tiền khá lớn và nhờ cậy bà để mắt tới con bé Thật, vừa bảo ban vừa đề phòng kẻ
xấu rắp tâm hại nó. Nếu bà Sáu biết được chuyện này, chắc chắn bà sẽ “xử” cả bà
Mán cấp dưỡng chứ không riêng gì con bé Thật.
Ong Sáu Thượng đang mải nghĩ lan man, tiếng quát của vợ làm ông
giật mình :
“ Sao ? Ong có chịu nói ra ông bố trí cho con bé ấy đi trốn ở
đâu không ?”
Ong Sáu Thượng luống cuống :
“ Tôi làm sao biết được. Mấy năm nay tôi có liên hệ gì với nó
đâu ?”
Bà Sáu Thượng cong cớn :
“ Không liên hệ gì ? Không liên hệ gì sao hò hẹn gặp nhau ở
khách sạn ?”
Ong Sáu Thượng lại phải thề sống thề chết ông gặp con bé Thật
là hoàn toàn tình cờ, tuyệt đối không có hò hẹn trước, bởi thế lúc nó bỏ đi nó
cũng có cho ông biết nó ở đâu đâu ? Bà Sáu Thượng vẫn không tin :
“ Ong thề cá trê chui ông. Tôi còn lạ gì cái kiểu thề thốt của
mấy ông nữa. Còn có lời thề nào to tát hơn lời các ông thề dưới cờ Đảng khi kết
nạp nữa. Vậy mà bây giờ tôi thấy mấy ông để nó theo gió bay lên trời hết…”
Ong Sáu Thượng cau mày :
“ Sao đang chuyện nọ lại rọ sang chuyện kia thế ? Chuyện của cá
nhân bà lại đâm thọc sang tổ chức là sao ?”
Bà Sáu Thượng vênh mặt :
“ Tôi nói thế thì đã sao nào ? Ong tưởng cái tổ chức của ông
thần thánh, thiêng liêng lắm sao mà tôi không dám nói tới. Oi trời ôi… tôi
tưởng cái tổ chức của ông ngày nay nó ra sao thì ông hiểu rõ nó hơn tôi chớ ?”
Ong Sáu Thượng bực mình :
“ Tổ chức nào của tôi…cả của bà nữa chớ..vậy bà quên bà cũng đang còn là đảng viên hả ?”
Bà Sáu Thượng cười nhạt :
“ Quên sao được ? Chính vì cả tôi và ông đều là đảng viên nên ngày
nay mới ăn trên ngồi trốc, mới ngồi lên đầu thiên hạ thế này chớ ? Chỉ có điều
cái tổ chức của ông và tôi ngày nay đã biến chất tới mức không ai là không chửi
nó, bởi vậy ông đừng mang nó ra hù doạ tôi nữa…”
Gã thư ký tữ nãy im thin thít, giờ cũng nói leo :
“ Con thấy cô Sáu nói quá đúng đấy ạ. Ngày xưa cô chú vào Đảng
còn thấy vinh dự chớ ngày nay anh nào đang phấn đấu vào Đảng để leo ghế, lên
lương lên chức thì phải giấu như mèo dấu cứt…nhỡ mà lộ ra xung quanh nó cười
cho thối mũi…”
Ong Sáu Thượng cáu :
“ Mày nói tầm bậy. Tao nghe báo cáo các lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng ở các cơ sở lúc nào cũng
đông nườm nượp kia mà…”
Thằng thư ký bật cười :
“ Tụi nó lừa chú đó…Ngày nay thằng nào muốn tiến thân bằng con
đường chính trị mới phấn đấu vào Đảng, lại sợ bị xung quanh chê cười nên cứ lén
lén lút lút như thời xưa hoạt động bí mật dưới chế độ phong kiến đế quốc.”
Bà Sáu Thượng xua xua tay :
“ Thôi thôi không nói chuyện tào lao nữa. Tôi hỏi ông lần cuối
ông giấu con bé ấy ở đâu ? Khai mau ra…”
Ong Sáu Thượng lại phùng má trợn mắt lên chối đây đẩy.
Trong lúc hai vợ chồng ông Sáu Thượng cãi nhau như vậy thì
thằng Hàm đang say sưa giấc điệp. Chẳng
biết có phải ma quỷ gàn quải, số phận giun giủi sao mà thằng thư ký dìu gã vào
đúng cái phòng gã đã bóp cổ chết cô con gái ông thành uỷ và lại nằm đúng ngay
cái giường nơi cô bị gã đè ra cho tới chết. Thằng Hàm đâu có biết điều đó, gã
đánh một giấc thật ngon lành cho đến tận khuya gã chợt cảm thấy có cái gì đó
lạnh toát nắm vào bàn chân gã làm gã rụt ngay lại. Thế rồi gã đang thiu thiu
ngủ tiếp bất chợt bàn chân bên kia lại có cái gì đó lạnh toát nắm lấy. Gã rụt
cả hai chân, choàng dậy . Lạ thật gã đang ở trong một căn phòng có ánh đèn mờ
mờ gợi cho gã một cảm giác quen thuộc dường như căn phòng
này gã đã từng ở. Thế rồi gã nhìn xuống cái giường gã đang nằm và bỗng giật
thót người, Ngay cả cái giường này nữa, lạ thật, cái giường dường như với hắn
cũng không xa lạ gì .
Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống làm gã lại nằm xuống
giường, quắp người lại như một con sâu
trong kén. Gã nhắm mắt , cố tìm lại giấc ngủ. Phải rồi, ngủ thôi, ngủ cho quên
mọi thứ đang làm gã mơ mơ màng màng dở tỉnh dở thức như thế này. Thế rồi đúng
vào lúc gã thiu thiu ngủ bàn chân gã lại bị cái gì đó lạnh toát nắm lấy làm gã
kinh hoàng rụt ngay lại. Lần này thì gã cảm thấy cái gì đó lạnh toát đó chính
là một bàn tay.Quái lạ, tay ai nhỉ ? Hình như bàn tay này đối với gã cũng quen
quen. Gã căng cả đầu ra cố nhớ coi là ai mà chịu không tài nào nhớ ra. Gã cứ cố
nhớ mãi. Nhớ mãi đến lúc dường như đang ngủ thiếp đi thì chân gã lại bị bàn tay
lạnh buốt nắm lấy và giật giật liền mấy cái. Gã nhổm phắt dậy và kinh hoàng
nhận ra trước mắt gã là một cô gái xoã tóc, mắt sáng rực. Gã lắp bắp :
“ Cô …cô là ai …sao vào đây phá giấc ngủ
của tôi…”
Cô gái cười khanh khách, tiếng cười làm gã lạnh buốt xương
sống.
“ Mày không nhận ra tao là ai à ?”
Thế rồi cô gái chợt khóc rưng rức :
“ Anh Hàm ơi…anh không nhớ em à…em là Vân, nhân viên hướng dẫn du lịch con gái
ông thành uỷ viên đây mà…”
Gã kinh hoàng , lắp bắp :
“ Vân…Vân à ? Hướng dẫn viên du lịch , con gái ông thành uỷ
viên à ? Nhưng mà…cô chết rồi kia mà…”
Cô gái khóc nức nở :
“ Đúng rồi…em chết rồi…em chết từ mấy tháng nay rồi…mà anh có
biết vì sao em chết không ?”
Thằng Hàm giật thót người :
“ Tôi không biết …tôi không biết… cô đã chết rồi sao vẫn còn ở
đây ?”
Cô gái bỗng rít lên giận dữ :
“ Mày không biết ? Mày
không biết thật không ? Chính mày đã bóp cổ tao…chính mày đã giết tao…mà mày
còn nói mày không biết hả ?”
Thằng Hàm muốn cất tiếng kêu gọi mẹ nó mà cổ tắc nghẽn, muốn
vùng ra khỏi giường chạy khỏi phòng mà chân tay nặng trịch, cứ như dính chặt
lấy giường. Gã đành nằm trơ tên giường, giương đôi mắt trừng trừng nhìn cô gái
mà gã đã giết. Cô gái tiến đến sát người gã.Hơi lạnh từ người cô truyền sang
làm gã run bần bật. Lúc này gã đã nhìn rõ khuôn mặt cô gái. Cái cổ bị bóp gẫy,
ngoẹo sang một bên, đôi mắt sâu hoắm tuy nhắm tịt lại nhưng hình như vẫn phát ra
những tia sáng lạnh lẽo. Hai bàn tay cô chỉ còn trơ lại những lóng xương khô.
Cô gái từ từ tiến đến giơ hai bàn tay xương xẩu vươn về phía gã như muốn bóp cổ
gã.
“ Giết người phải đền mạng…Hôm nay tao đến để giết mày đòi món
nợ mày đã gây ra cho tao…”
Gã kinh hoàng kêu lớn :
“ Cứu …cứu tôi với…”
Gã giẫy đành đạch, miệng la hét làm ông bà Sáu Thượng đang ở
nhà trên phải vội chạy tới tông cửa xông vào.
(còn tiếp)
.
Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014
BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 137
(tiếp theo)
“ Lão già” cười hề hề :
“ Chị khỏi lo đi. 70 năm nay đảng cộng sản Việt Nam đã cấy được
vào trong đầu mỗi người dân Việt Nam một con chip gọi là “ nỗi sợ” khiién trong
mỗi người đều có một cha công an sẵn sang kiểm duyệt loại bỏ những gì trái với
chủ trương đường lối của Đảng. Bởi thế tôi có nhét vào đầu tía cô cả một rừng
những tư tưởng phản động đi chăng nữa thì ông vẫn đẩy ra khỏi đầu hết huống hồ
lo gì ông nói nó ra đàng mồm.”
Chị Kelly Thi phụ hoạ :
“ “Lão già” nói đúng đó . Tôi đã gặp mấy bà mấy ông từ trong
nước sang, người nào người nấy vẫn còn nói năng theo giọng điệu của Đảng chính
phủ ghê lắm. Tôi có một ông anh họ trình độ đại học sang thăm họ hàng ở Mỹ. Tôi
mời ông đến thế đãi rất thịnh soạn. Trong bữa cơm mọi người nói chuyện rôm rả,
nhiều điều ông nói nghe tức anh ách, chẳng hạn nhắc tới Trung Quốc ông cứ một điều “anh Hai”, hai
điều “anh Hai”. Tôi tức quá hỏi ông :” tại sao thằng Trung Quốc đang lăm le chiếm
biển Đông” của Việt Nam
mà ông cứ gọi nó là anh Hai “. Ong ta trả lời tỉnh bơ :’ Ngày xưa Liên xô là
anh Hai, bây giờ Liên xô đổ rồi thì Trung Quốc là anh Hai chứ sao ? Vả lại ngày
xưa trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Trung Quốc giúp ta rất nhiều nên dù thế
nào ta cũng không được quên cái ơn đó.”. Tôi cáu quả vặn lại :” Có chắc thằng
Trung Quốc nó giúp đỡ Việt Nam
một cách vô tư không hay đằng sau đó là một âm mưu đểu ? Vả lại dù có giúp đỡ
mấy chăng nữa mà năm 1979 nó xua quân sang xâm lược nước ta thì còn đâu ân
nghĩa nữa. Phải gọi nó là kẻ thù xâm lược chứ sao lại gọi là anh Hai ?”
Chị Kelly Thi kể tới đó tức giận không nói được nữa. Sau “lão
già” phải lên tiếng :“ Vậy ông ta trả lời ra làm sao ?”
Chị Kelly Thi cáu kỉnh :
“ Nói y như báo Nhân Dân vậy. Nào là chuyện đánh nhau năm 1979
hai Đảng đã giải quyết xong , bây giờ là 16 chữ vàng và 4 chữ tốt.Mẹ kiếp nghe
ông nói tôi thấy tiếc rươu thịt, tiếc thời gian đã mời ông tới tận nhà thết
đãi. Biết thế tôi chẳng cần anh họ với em họ gì nữa. Mời thằng cha nó tới, họ
hàng chẳng thấy đâu, chỉ mua cái bực vào
mình…”
“ lão già” cười cười :
“ Tôi hỏi thật cô Ut nhé, có lúc nào cô thấy tiếc là đã mời tía
cô sang thăm Mỹ không ?”
Cô ÚI trố mắt :
“ Sao bác hỏi gì mà kỳ vậy ?”
“ Lão già” nháy mắt :
“ Thì cũng có thể giống như chị Kelly Thi kìa. Chị ấy vừa nói
lấy làm tiếc đã mời ông anh họ tới ăn cơm ở nhà. Họ hàng chưa thấy đầu chỉ thêm
bực mình kìa…”
“ Không không. Tía em hiền lành lắm.Ong không có ham nói chuyện
chính trị, cũng không ham tranh luận, ai muốn cãi nhau với tía em cũng khó, ông
toàn “cài số lùi”, nhường hết phần thắng cho người thích tranh luận.’
Chị Kelly Thi thắc mắc :
“ Vậy tía em thuộc loại mũ ni che tai à ?”
“ Chị về Việt nam ròi khắc biết, chẳng cứ gì tía em, người
trong nước ai cũng đội một cái mũ che tai vô hình hết, giống như đi trên phố ai
ai cũng phải đội mũ bảo hộ che kín cả hai tai lẫn mắt. Cái mũ phòng hộ này chỉ phải đội khi đi xe máy trên phố thôi, về
nhà cất xe là cất mũ ngay, nhưng còn cái mũ ni che tai thì phải đội sáng tới
tối, đội quanh năm ngày tháng. Bởi vậy ở Việt Nam bao nhiêu là chuyện bức xúc,
nào đuổi nhà cướp đất, nào cảnh sát đánh chết dân, nào là Trung Quốc khai thác
bauxit Tây Nguyên, chiếm đảo và lấn chiếm biên giới…tuốt tuột người dân đa số
biết hết nhưng chẳng ai dám lên tiếng phản đối , ngay cả trong những cuộc họp
cấp thấp nhất là tổ dân phố cũng không ai dám hé miệng phát biểu lấy một câu. “
“Lão già” cười cười :
“ Cứ cái đà này rồi chẳng mấy chốc dân chửi nó hoặc thở ra
giọng bất mãn là ăn đòn thù liền. Nặng thì nó bắt đi tù, nhẹ thì nó thuê du
đãng gây sự đánh nhau, vứt đồ dơ vào nhà. “
“ Ong bác nói gì ghê rợn quá. Cộng sản Việt Nam có man rợ
mấy chăng nữa thì cũng phải cần có dân chứ ? Diệt hết cả dân thì ở với ai, lãnh đạo ai ?”
Chị Kelly Thi chen ngang :
“ Diệt hết dân cộng sản không dám chỉ diệt cái ý chí phản kháng
của người dân thôi. Nó muốn biến dân thành đàn cứu, ai ai cũng gọi dạ bảo vâng,
bảm nằm là nằm, bảo ngồi là ngồi, bảo chui gậm giường là chui gậm giường ?”
Ba người vừa ăn cơm vưà sôi nổi bàn tán chuyện thân phận ngưeời
dân dưới chế độ cộng sản mà quên béng vụ bác Ba Phi mất tích. Mãi tới khi ăn
xong, ăn tráng miệng, uống nước trà, chị Kelly Thi mới lên tiếng :
“ Quái cái ông già này…đi đâu thì đi cũng phải gọi điện báo về
nhà cho người nhà đỡ sốt ruột chứ ? Ai lại đi chợ mua rau, gia vị nấu giả cầy
gì mà đi hút con lươn, không thấy sủi tăm lên nữa…”
“ Lão già” lo lắng :
“ Tình hình này nếu sáng mai không tin tức gì chắc phải báo cảnh sát 911 thôi…”
Chị Kelly Thi gật đầu :
“ Tôi cũng nghĩ vậy đó.Sáng mai bác ây không gọi điên báo về
thì chắc cô Ut phải gọi cho 911 thôi….”
“ Tôi chỉ sợ báo cho 911 nó ào tới rồi lúc đó bác Ba Phi xuất
hiện thì rắc rồi…”
Chị Kelly Thi cười cười :
“ Có gì mà rắc rối, ở Mỹ này có khi ăn không tiêu, bị chướng
bụng người ta cũng gọi 911…”
“ Làm gì có chuyện đó. Theo tôi biết có điều luật nếu lạm dụng
gọi 911 có thể bị phạt tới cả ngàn đôla và tù 6 tháng đó…”
“ Lão già” chen ngang :
“ Vậy mà vẫn khối người gọi 911 về những lý do ấm ớ rồi cũng có
sao ? Có bà ngăn ông chồng xem phim khiêu dâm không được cũng gọi 911, lại có
cả một thằng nhóc không giải được bài
toán cũng gọi 911…”
“ Vậy rồi có sao không ? “
“Chẳng sao cả, cảnh sát thuyết phục ông chồng nên chiều theo ý
bà vợ, còn thàng nhóc thì được giải hộ bài toán khó…”
Chị Kelly Thi bật cười :
“ Ơ bên Mỹ này đôi khi cảnh sát có những ứng xử ngồ ngộ vậy đó.
Nghe nói có cô gái bức xúc vì boyfriend khong chịu sưởi ấm đôi chân cho cô ta
nên cũng gọi 911, chàng trai thấy bạn gái đòi hỏi quá đáng nên cũng gọi 911.
Sau cũng cảnh sát phải tới và dan hoà đôi bên…”
“ Lão già” cười hô hố :
“ Thật đúng là Mỹ. Hoá nên ở bên này bà nào cứ hay doạ chồng là
gọi 911 thì trước sau cũng mất chồng…Đàn ông Việt Nam là chúa ghét vợ mang quan toà
với cảnh sát ra doạ mình…”
“ Đàn ông nào chẳng thế. Lão Tommy nhà em còn hơn thế nữa kia.
Giờ cứ mang 911 ra doạ nó là nó bỏ đi liền
cho mà khóc…”
(còn tiếp)
Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014
CHUYỆN XƯA NAY MỚI NÓI - KỲ 145 - Lại chuyện nhà văn viết báo tết....
Ở đâu mà chả thế,”văn
chương hạ giới rẻ như bèo”,các nhà văn Việt Nam kỳ cạch 3 tháng viết một truyện
ngắn,lại 3 tháng ngóng cổ chờ đuợc in để
rồi nhuận bút lĩnh về đưa vợ với cái giá quy đổi may ra được một...bát phở
tàu bay ở Cali.
Các tiểu thuyết gia lại càng thê thảm hơn,3 năm kỳ cạch,lọt vào
mắt xanh một ông đầu nậu chịu bỏ tiền ra in,nhà văn được nhận 20 cuốn sách để
biếu và một số tiền tượng trưng đủ chi
một bữa khao sách tại nhà hàng bình dân.
Vậy nhưng cứ mỗi dịp tết đến giá cả chữ nghĩa lại tăng vọt.Cái
đó không phải cảm hứng mùa xuân làm các nhà văn viết hay hơn lên,mà chính vì
báo tết thu được nhiều tiền quảng cáo gấp bội so với báo thừơng nên sau khi các
quý vị tổng biên tập,phó tổng biên
tập,trưởng ban đã chia nhau đút túi một số tiền lớn rồi,vẫn còn dư ra gọi là
san sẻ ,lì xì cho người lao động tiêu tết,bởi thế mỗi độ xuân về là các nhà văn
nhớn nhác hỏi nhau :”đã viết báo tết chưa ? viết đuợc mấy bài?”.
Vậy nhưng trong gần 700 ông Hội viên Hội nhà văn Việt Nam,có
phải ông nào cũng được viết báo Tết đâu.Từ mấy tháng truớc,Toà soạn đã soạn ra
một danh sách các nhà văn,các cộng tác viên được mời viết báo tết. Tất nhiên,để
lọt vào danh sách này,tiêu chuẩn đầu tiên đối với các nhà văn là phải có phiếu...”bé
ngoan” ,tức là phải được “Đảng mến,dân yêu,địch căm thù “ cái đã.
Chẳng thế mà mấy năm gần đây,do quay cờ phản tỉnh về với chính
nghĩa quốc doanh,cứ mỗi dịp tết đến,nhà thơ Trần Mạnh Hảo thả sức tung hoành trên các báo Tết,năm nào
cũng cứ đều đều mang về cho vợ tới...40 triệu đồng lận.Vậy nhưng phiếu “bé ngoan” thì tới 99% các ông nhà văn đều
có,bộ cứ “ngoan” là được viết báo tết hả ? Nếu vậy có hoạ ra “tự điển Tết”
Vậy góp mặt trên báo Tết
trước hết phải cây đa cây đề như nhà văn
Anh Đức,tác giả tiểu thuyết “Hòn Đất” mà sau năm 1975,bà con được tới tận nơi
xảy ra câu chuyện đã có câu rằng “Hòn Đất mà biết nói năng,thì thằng Anh Đức
cái răng không còn...”.
May thay,ở tuổi 66,nhà văn Anh Đức vẫn chưa rụng cái răng nào,kỳ này ông viết một
bài “Trên thềm thiên niên kỷ mới”,điểm
xuyết từ thời ông Lênin đi làm cách mạng ở Nga,Hítle thiêu người ở Đức đến anh
“Gagàrỉn bay vào vũ tru”,từ thời bác Hồ đi tìm đường cứu nước,tầng ozôn
bị thủng cho tới kỹ thuật gien,điện thoại di động Mobyphone lọt trong lòng bàn
tay..
.Qua bài viết của ông Anh Đức,nguời ta nhận thấy đầu óc mấy ông
nhà văn thời nay thật chẳng khác gì cái lẩu thập cẩm, thứ gì mấy ông cũng nhét
vào đầu như thế ,cách gì chẳng đẻ ra một thứ văn chương tạp pí lù.
Nếu như các báo tết Sàgòn giải phóng,Tuổi Trẻ,Thanh niên...mỗi
báo chỉ cho vài ba ông nhà văn chen vô thì lại thay,nơi tập trung đông các nhà
văn chưởng lão,cây đa cây đề nhất lại là báo ...Công An TP Hồ Chí Minh,thật
chẳng khác gì Sở cẩm thành phố Paris ra báo Tết toàn in các bài của mấy ông bà
Jean Paul Sartre,Albert Camus,Simone de Beauvoir,Samuel Beckket vân vân...
Trình diện ở báo công an TP Hồ Chí Minh,truớc hết có nhà thơ
lớn Tố Hữu,vốn có bài thơ khóc ông Xíttalin đã đi vào lịch sử,vốn có tên là
Lành một thời đã nổ ra vụ án văn học “Cây
táo ông Lành” làm nguời viết bài là anh Hoàng Cát xích bích sang bang,bạn
bè xa lánh,đến ông anh nuôi là nhà thơ Xuân Diệu cũng phải lắc đầu chối đây đẩy
:”Không không,tui có quen đâu thằng nớ...”.Tết
này,dường như nhà thơ Tố Hữu có bí thơ dẫu từ lâu đã không còn làm “bí thơ”
Đảng,nên đã bung ra một đoản văn trong đó ông khiêm tốn tự nhận ông là “một con sáo được Đảng nuôi nấng,chăm sóc nên làm sao phải hót
cho thật hay...”.
Hi hi...ông quên mất một điều hệ trọng là dẫu Đảng có nuôi ông
thì cũng là nuôi bằng tiền của...dân,vậy mà trong bài viết không thấy ông đá
động tới thằng cùng đinh ấy lấy một chữ.
Nguợc hẳn với nhà thơ Tố Hữu,nhà văn Nguyễn Đình Thi trong bài
viết của mình lại chẳng có chữ nào nhắc tới Đảng ,mà lại nhấn mạnh “Qua những điều tôi được trải qua,tôi thấy “nguời “ nhất,”dân tộc” nhất
là nhân dân lao động...”.Ái chà chà..”nhất,nhất” phải thuộc về Đảng chứ,dân
sao được,chẳng biết đồng chí Phạm Thế Duyệt có để mắt tới báo Tết không,chứ nhà
văn gạo cội viết lách thế này thì nguy quá.
Ấy thế mà đã có thời ,ông Nguyễn Đình Thi đã từng lên diễn dàn
Hội nhà văn hô to :”nhà văn chúng ta là
nhũng hạt bụi lấp lánh ánh sáng của Đảng” làm anh em ngồi dưới bấm bụng
cười ,lo rằng chẳng may cái hạt bụi đó nó rơi vào mắt Đảng thì nguy to.
Còn nhà thơ Huy Cận thì lại loan báo với thiên hạ rằng :”Tôi
vẫn tiếp tục làm thơ...”,có lẽ lâu nay thấy thơ của đồng chí vắng bóng trên
thi đàn mà lại chỉ thấy xầm xì cái chuyện đồng chí đi phó hội ở Paris về,lái xe
của cơ quan sang tận Nội Bài đón đồng chí.
Chàng lái xe này tên là Sính,đinh ninh thủ truởng đi tây về thế
nào cũng có quà cho lính.Bởi thế,Sính mới mừng rơn,khi đi tới chân cầu Thăng
Long,nhà thơ cất tiếng hỏi :
”A thế nào...ở nhà cậu đã
có bật lửa chưa ?”.
Sính ta vội đáp dõng dạc :
” Báo cáo thủ truởng em chưa có ạ...”.
Than ôi,nhà thơ thở dài đánh sượt :
”Tiếc cho mày quá,giá mày có bật lửa,tao sẽ cho mày mấy viên đá
lửa,nhưng chưa có thì đành thôi chứ biết làm sao...”
Cũng góp mặt trong số
báo Tết công an này,còn có nhà văn Sơn Nam vốn ngày xưa đã từng ngồi chung với
các nhà văn Nhật Tiến,Nguyễn Mạnh Côn...trong Uỷ ban chấm giải văn chương của
Phủ Tổng thống.
Từ sau ngày giải phóng,nhà văn theo trở thành nổi tiếng,bổng
lộc nhiều,cây kiểng của thành phố trong
lĩnh vực sưu tầm các di tích lịch sử,các câu đối ở các đình chùa,miếu mạo minh
hoạ thêm cho thành phố ta có 300 năm tuổi và sang thiên niên kỷ mới sẽ thành
“Sàigòn cô tiên năm 2000”.
Nhà văn Sơn Nam lừng lẫy thế mà bỗng dưng trong mục tìm người
lạc phát trên tivi Saigòn ,bà vợ nhà văn lại bố cáo đức ông chồng đi lạc và nếu
ai thấy nhà văn ở đâu xin gọi điện cho bà hoặc báo cho đồn công an gần nhất.
Mọi nguời mới hoảng lên đi tìm,hoá ra do mấy thằng viết trẻ rủ
rê cụ đi bia ôm,làm cụ chơi trống bỏi,rước ngay một em gái về,thuê nhà dựng tổ
ấm ở phố Nguyễn văn Nghi Quận Gòvấp,báo hại bên an ninh lại tuởng là cụ
bị...địch nó bắt.
Hoá ra các nhà văn Việt nam có hư đến đâu chăng nữa cũng chỉ hư
tới cái mục đi...bia ôm là hết nhẽ.Tuyệt đối không có loạng quạng như mấy thằng
cha Tổng biên tập,Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ mang cả bác Hồ ra thi điểm với
mấy thằng nhãi ranh. Riêng trong cái vụ này,bà con Saigòn chẳng chịu thương xót
đồng chí Lê văn Nuôi ,đồng chí Huỳnh Sơn Phước...thì chớ,lại còn riễu rằng:”Thật
đáng đời ba thằng nhà báo nói láo ăn tiền…”
NT
Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014
Nhà văn NHẬT TIẾN - THỀM HOANG - KỲ 21
Chương 15
Ích vật ngửa ba con bài lên mặt đất, bàn tay đen đủi của nó
quơ lấy nắm tiền:
"Chín "cơ" của nhà con đây.”
Thằng bé ngồi trước mặt thò nhanh tay ra chặn lại. Mặt nó
vênh lên, miệng nó hoác ra, tay nó vật ngửa ba con bài mà từ nãy nó vẫn thu thu
trong bụng:
"Đây chỉ có mười "dô" thôi. Vơ cả làng!"
Vừa nói nó vừa quơ lấy mấy đồng bạc. Ích hậm hực xem xét bài
của nó rồi văng tục một câu:
"Mẹ kiếp! Đen đếch chê được!"
Nói rồi nó khuỳnh hai tay ra, huých bọn trẻ con đang xúm xít
ở đằng sau:
"Xê ra... đen bỏ bố đi mà cứ ám.”
Bọn trẻ lùi ra rồi lại lấn lên. Hàng chục cái đầu xúm xít
quanh một khoảng đất trống. Những cánh tay lem luốc thò ra, thụt vào, khua chỗ
nọ, gạt chỗ kia, liến thoắng, om sòm. Một đứa lại thu lấy những con bài nhỏ
xíu, rồi trang thoăn thoắt trên tay. Ích moi ra ở cạp quần tờ giấy một chục. Nó
đổi lấy tiền lẻ rồi lại đặt vào cửa của mình. Đám bạc họp từ sáng, mỗi lúc một
đông, trẻ con đứng vòng trong vòng ngoài. Mặt mũi đứa nào cũng hau háu, mắt trố
ra, miệng liến láu, nói tục, chửi thề om sòm cả một đầu ngách.
Ích thua dữ. Từ sáng nó đã nướng mất hơn hai chục rồi. Càng
thua nó càng ham gỡ đến quên cả giờ về. Mọi lần quen lệ, nó vẫn sang nhà Huệ
vào lúc gần trưa. Lúc ấy là lúc bình sữa do cụ Chín pha từ sáng sớm, thằng
Giăng đã bú hết. Nghe tiếng khóc vẳng qua vách gỗ là Ích tụt xuống giường chạy
sang. Khi thì thay tã hộ Huệ, khi thì đun cho nàng một ấm nước sôi, hay khui ra
một hộp sữa mới. Công việc chẳng nặng nhọc là bao nhiêu, nhưng Huệ cũng trả
công cho nó bằng mấy tờ giấy bạc. Trước nghe lời bác Tốn dặn nó còn không lấy.
Về sau túng tiền, cu cậu nhận bừa để mang đi đánh bạc.
Hôm nay mải mê với đám bài cào, Ích quên mất giờ về. Thằng
Giăng nằm trong thùng sữa khóc lên ngằn ngặt. Có lúc bẵng đi từng hơi, rồi nó
lại gào lên đến nhức đầu buốt ruột. Mặt nó đỏ gay, cái mồm há rộng ra, cặp môi
xám lại, hai tay nó khua loạn xạ, dụi lên mắt, lên đầu. Huệ đang chợp đi, chợt
nghe tiếng khóc vội vàng gượng dậy. Nàng gạt cái mền sang một bên, rồi quơ
xuống gậm tìm đôi guốc mộc. Hai tay Huệ bám lấy thành giường. Chân nàng run lẩy
bẩy. Mắt Huệ mở to. Nàng nom thấy những vật đen xám, chạy như đan cửi phía đằng
trước. Khuôn cửa đầy ánh nắng mà Huệ thấy như đang tối lại. Những nan gỗ cong
lên, nhòe bóng với nhau. Tiếng khóc của đứa bé như có cạnh sắc đâm vào đầu nàng
buốt thon thót. Bất giác Huệ nhắm mắt lại. Chung quanh nàng tối sầm đi. Huệ
thấy màng tai mình rung lên, âm vang như hồi ngân của một cái chuông lớn. Vừa
đứng lên được, Huệ lại phải ngồi xuống mép giường. Mồ hôi nàng vã ra sâm sấp
lưng áo. Một lát định thần trở lại, nàng tiến đến chiếc thùng gỗ, lôi cái đùm
lót ra ngoài. Thằng Giăng vẫn khóc ngằn ngặt ở bên trong. Nàng ôm nó vào lòng
nựng nịu. Đứa bé hực lên một tí rồi nín bặt. Huệ ôm nó đi lại phía mặt bàn. Một
tay Huệ đỡ lấy nó, một tay nàng dốc mãi cái hộp sữa vào bình. Huệ kê mồm vào
mép sắt, hai má phồng lên, thổi phù phù. Dòng sữa vàng đục trào ra lỗ thủng,
chảy lăn tăn một chút rồi teo lại. Cái mệt mỏi lúc nãy lại bắt đầu làm hai chân
Huệ run bắn. Nàng đặt thằng Giăng lên mặt chõng rồi đứng tựa vào thành cửa thở
hồng hộc. Một lát nàng lại bàn lấy hộp sữa mới mang xuống bếp. Nàng nhớ đến con
dao phay mà bà cụ Chín vẫn gác trên nóc chạn. Huệ ngửa mặt lên nhìn. Mắt nàng
bắt đầu hoa. Hai bàn tay khẳng khiu run lên. Môi nàng mím lại. Nàng phải nắm
chặt lấy cái núm gỗ ở thành chạn mới khỏi khuỵu xuống. Rồi Huệ nom thấy cái
thúng gác ở trên mái bếp, hình như nó đang loe to ra, nặng nề như muốn đổ xuống
đầu. Lớp mồ hóng trên nóc bếp bây giờ cũng rung rinh rồi xoay tròn, nghiêng ngả
như đang chịu đựng một cơn bão lốc. Trước mắt nàng, vách lá bắt đầu chuyển
động, xô đẩy. Rồi bốn bề bỗng dưng đổi sang sắc tím. Trên cao liên tiếp như có
những khối lớn nặng nề rơi xuống đầu Huệ. Nàng hét lên, buông hộp sữa ra khỏi
bàn tay và ngã vật xuống. Mơ hồ, Huệ nghe thấy tiếng thằng Giăng khóc rất xa ở
bên tai, trong đầu Huệ chứa cả một thế giới quay cuồng. Huyết trào ra, đỏ thắm
làm ướt cả mặt nền tráng xi măng...
°
Bây giờ thì bác Tốn không giấu lòng yêu Huệ của mình đối với
mọi người nữa. Bác ôm thằng Giăng ngồi khóc ở trên đầu giường Huệ. Huệ mặc áo
đỏ, quần trắng, nằm ngay ngắn trên chiếc chiếu hoa. Hai tay nàng duỗi thằng.
Khuôn mặt bình thản như một người say sưa trong giấc ngủ. Nước da Huệ xám
ngoét, cặp mắt sâu trũng xuống, mái tóc cứng khô, xác xơ rũ xuống đầy trán và
má. Bác nghĩ đến hình ảnh của Huệ ngày nào mặc áo đỏ, đánh môi hồng đi trong
ngõ tối. Mùi phấn thơm thoang thoảng trong gió mát buổi chiều. Tiếng hát của
bác bây giờ đầy dư âm cay đắng như cái chết của nàng:
"Cô Huệ ơi...
Nếu cô lấy tôi thì..."
Bây giờ thì Huệ không còn nữa để nói với bác những lời chanh
chua kiêu kì. Huệ đã đi về một thế giới khác, êm ả và nhàn hạ hơn cuộc đời khốn
khổ của nàng. Bác nghẹn ngào nắm lấy bàn tay lạnh cứng của Huệ. Bàn tay mà ngày
xưa bác vẫn thường ước ao ấp ủ trong những đêm thao thức. Ngày trước bác còn mơ
tới những buổi chiều êm ả có gió mát lùa trong lùm cây, có sự yên tĩnh bao
quanh trên đầu thềm, hai người ngồi thủ thỉ nói chuyện tương lai. Huệ là nguồn
sống soi sáng cho sự mù loà của bác. Nhưng tất cả chỉ là chuyện mơ ước viển
vông. Huệ đã xa bác trong cuộc sống hằng ngày và bây giờ sẽ còn xa bác mãi mãi.
Nàng nằm đây mà không nói, con nàng đây mà nàng không cười. Nó ngọ ngoạy như
một con mèo con trong vòng tay của bác Tốn. Bây giờ thế là hết. Nàng đã đi
không một lời để lại. Khuôn mặt úp sấp xuống mặt sàn, bàn tay vịn vội lưng
chừng cánh chạn, đôi guốc văng ra xa, hộp sữa bò nằm nghiêng ở dưới cuối vại
nước. Nàng chết đau đớn như cuộc đời đau đớn của nàng. Không một lời an ủi,
không một cử chỉ vuốt ve, không cả tình thương của đám người sống xô bồ hỗn
loạn trong xóm Cỏ này. Bất giác bác bật lên tiếng khóc. Những giọt nước mắt
chảy chan hoà trên mặt Huệ. Trong đời Huệ, nàng chưa được ai đến với nàng mà
khóc nhiều như thế...
(hết chương 15)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
