Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 89 - Rước đuốc xin đừng rước đất…




Từ sau hai cuộc biểu tình chống Trung Quốc 9 và 16 tháng 12 năm 2007 tại Hà Nội, Sàigòn bị đàn áp, tinh thần chống Trung Quốc của giới cầm bút trong nước xem ra xẹp lép nhất sau vụ Tổng biên tập VietnamNet Nguyễn Anh Tuấn bị cách chức.

Trên các trang web của một số nhà văn, nhà báo như Nguyễn Khắc Phục, Phạm Xuân Nguyên, Trang Hạ, Huy Đức….đã thấy biến mất những bài báo chống Trung Quốc xâm lược Trường Sa-Hoàng Sa. Việc ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 bị đả tơi bời  ở London,Paris, San Francisco…hoàn toàn bặt tăm trên các báo chí trong nước và trên cả các web, blog của nhà văn Việt Nam. Ngay cả tin đồn TQ sẽ rước đuốc qua Trường Sa rồi bà Nguyễn thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND, Trưởng ban rước đuốc qua Sàigòn cải chính tin đó cũng chẳng gây nên một chấn động nào trong giới cầm bút.

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo trong nước đã biến thành “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” hết rồi chăng ? Hèn chi cái Hội nhà văn VN xưa nay vẫn im thin thít trước nguy cơ mất nước bởi Trung Quốc trong ngày giỗ tổ vừa rồi chắc thấy xấu hổ với tiền nhân  nên không thấy chường mặt lên đền Hùng thắp một nén nhang cho tổ tiên.

Cũng còn may, ngày 7 tháng 4 vừa rồi, anh sinh viên Lê Minh Phiếu, Trường cao học Luật tại Pháp phát hiện trên bản đồ do Uỷ ban Olympic TQ công bố trắng trợn đưa Hoàng Sa- Trường Sa vào lãnh thổ TQ nên đã có kháng thư gửi cho Bá tước Jacques Rogge,  Chủ tịch Uỷ ban Olympic quốc tế vạch rõ :

“ Trung Quốc càng ngày càng có nhiều biện pháp để chứng tỏ rằng họ có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa – một quần đảo mà họ đã xâm lược của Việt Nam kể từ năm 1974. Và ngay cả trong lần đăng cai tổ chức Olympic và Paralympic vào năm 2008 này, Trung Quốc cũng không bỏ lỡ cơ hội để chính trị hoá Olympic và Paralympic, lợi dụng việc đăng cai Olympic và Paralympic để, thông qua trang web chính thức của Olympic Bắc Kinh 2008, đánh lừa với thế giới rằng họ có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa – một quần đảo mà Trung Quốc xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974.”

Và Lê Minh Phiếu yêu cầu :

“Vì thế, bằng thư này, tôi đề nghị Ngài phải có những biện pháp can thiệp nhằm chấm dứt sự chính trị hoá nói trên, bằng việc đề nghị Ban Tổ chức Olympic Bắc



Kinh 2008 thực hiện những biện pháp cụ thể bao gồm, nhưng không giới hạn, biện pháp sau :

– Xoá các nét hình hoạ nhằm ám thị về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa trên tất cả các bản đồ đăng trên trang web chính thức của Ban Tổ tổ chức Olympic Bắc Kinh 2008.

Với thiện chí của mình, tôi tin rằng, việc thực hiện đề nghị trên của tôi là một dấu hiệu rõ ràng về thái độ phi chính trị hoá một cách thực sự của Uỷ ban Olympic Quốc tế, của Ban Tổ chức Olympic Bắc Kinh và của Chính phủ Trung Quốc. Ngược lại, chừng nào trên Bản đồ Rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 và Bản đồ Rước đuốc Paralympic còn có những dấu hiệu chính trị hoá như đã nêu trên thì chừng đó, những quy tắc của Hiến chương Olympic còn bị vi phạm và tất cả những lời kêu gọi phi chính trị hoá trong tình hình chính trị đầy sóng gió cho Olympic Bắc Kinh như hiện nay sẽ không thể nào đủ sức thuyết phục.”

Mặc dù vẫn nhận lời về Việt Nam cầm đuốc, nhưng Lê Minh Phiếu cũng đã gióng lên một tiếng nói phản kháng cho người Trung Quốc biết rằng dân tộc Việt Nam không phải đã hết những người chống đối âm mưu xâm lược. Thư lên tiếng của Lê Minh Phiếu đã tạo nên sự đồng tình, hoan nghênh  rộng khắp trên các blog, các web site. Ngày 15 tháng 2 trên web site của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ Thanh Thảo – đã có bài viết :



                “ Rước đuốc đừng rước đất của người khác”



“Trên bản đồ hành trình rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua nhiều địa chỉ trên khắp thế giới, người Việt Nam ngạc nhiên khi thấy một ô vuông thuộc về lãnh thổ quốc gia mình. Ô vuông ấy trên bản đồ rước đuốc bao trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, như muốn nhấn mạnh hay gây sự chú ý về một điều gì. Khi toàn bộ lãnh thổ Trung hoa đại lục trên bản đồ sáng lên, từ Bắc Kinh tới đảo Hải Nam, thì cả quần đảo Hoàng Sa nằm trong ô vuông ấy cũng…được bật đèn đỏ cho sáng lên.

Thì ra, người ta muốn nhấn mạnh: quần đảo Trường Sa của Việt Nam là thuộc về…đảo Hải Nam(sic!). Ý này không hề “ẩn” chút nào, mà hơi bị “lộ”.

Chỉ còn mấy ngày nữa, trên đảo Lý Sơn quê tôi sẽ diễn ra một lễ hội đặc biệt được tổ chức hàng năm vào rằm tháng ba âm lịch: đó là “lễ khao lề tế lính Hoàng Sa”. Những dân binh người Việt trên đảo Lý Sơn từ hơn 300 năm trước, cứ mỗi năm vào mùa gió nồm tháng ba biển lặng, lại chuẩn bị hành trang xuống thuyền trực chỉ Hoàng Sa quần đảo.Họ tới Hoàng Sa theo lệnh Chúa Nguyễn để khẳng định chủ quyền người Việt trên quần đảo đặc biệt này. Thời đó, họ không rước đuốc, mà rước linh hồn của Tổ quốc Việt Nam tới trấn giữ quần đảo này mà họ coi như một phần máu thịt thiêng liêng của đất Mẹ Việt Nam. Giở lại nhiều trang sách sử, mới biết thời ấy trên quần đảo Hoàng Sa chỉ có những dân binh người Việt, cụ thể hơn là người dân đảo Lý Sơn, người dân Quảng Ngãi “ hộ khẩu” trên đó. Họ đánh bắt sản vật biển đảo, họ lặn tìm những báu vật từ các tàu ngoại quốc bị đắm chìm. Họ đã sống suốt cả năm ròng trên quần đảo Hoàng Sa, và chỉ xuống thuyền về lại Lý Sơn, về lại đất liền khi có đội dân binh khác đi thuyền ra Hoàng Sa thay thế họ. Đối đầu với hiểm nguy, trụ giữa nơi mịt mùng sóng gió, những dân binh ấy của đảo Lý Sơn đã nhiều người “ một đi không trở lại”. Nhưng cứ hàng năm, những đội thuyền từ Lý Sơn lại trực chỉ Hoàng Sa.

Xin hãy hình dung 300 năm trước, phương tiện đi biển còn thô sơ thế nào, và hành trang của người dân binh Lý Sơn ra Hoàng Sa đơn giản làm sao, ta mới thấm thía hết sự hy sinh vô bờ bến của cha ông mình khi quyết khẳng định chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa. Những chiếc chiếu dùng để bó thây khi tử nạn, những sợi dây thừng sẵn sàng cột chung những phận người lại với nhau khi đương đầu biển lớn và bão dữ…Tất cả cái bi hùng ấy đều được tái hiện trong “ lễ khao lề tế lính Hoàng Sa” do những người dân đảo Lý Sơn, những họ Phạm Quang, Phạm Văn, Phạm Hữu, Võ Văn…những họ đã từng đóng góp máu xương bảo vệ và khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thực hiện tại Âm linh tự trên đảo Lý Sơn.

 Thể thao, nhất là đại hội thể thao Olympic thế giới, là nơi thể hiện tinh thần cao thượng và hữu nghị của các dân tộc trên khắp hành tinh. Trong cuộc thi tài lớn ấy giữa các vận động viên trên toàn thế giới, sẽ có người thắng kẻ thua, nhưng sự cao thượng và tinh thần Olympic thì luôn chiến thắng. Và trong cuộc đua tài ấy, dĩ nhiên không một quốc gia nào trên thế giới bị “ mất đất” - dù chỉ một hòn đảo nhỏ-và không một quốc gia nào lại lấy sự “ lấn đất giành đất” làm mục tiêu của Olympic cả! Vì thế, cái “ ô vuông kỳ quặc” khoanh vùng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hiện trên bản đồ rước đuốc thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008 có vẻ lạc lõng và không hề mang một tí chút nào của “ tinh thần Olympic” đúng như tôn chỉ và mục tiêu từ ban đầu của Thế vận hội.Rước đuốc Olympic, rất hay, nhưng xin đừng lập lờ dùng chiêu“rước đuốc” để “ rước đất” có chủ quyền của quốc gia khác-ở đây là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam-mà phải tội với cả thế giới yêu hoà bình, phải tội với chính ngày hội thể thao lớn nhất hành tinh là Olympic thế giới…”

Ngay lập tức bài viết của nhà thơ Thanh Thảo được bạn đọc hoan nghênh nhiệt liệt.

Bạn HoaPhuong viết :

“Cảm ơn nhà thơ Thanh Thảo về sự lên tiếng dũng cảm này. Cảm ơn nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã cho công bố thông tin "nhạy cảm" này. Đọc xong em chỉ muốn hét to lên :" Tổ Quốc ơi...sao đến nông nỗi này...". Kẻ ngoại bang xâm lấn đất biển của dân tộc, lại ngang ngược công bố chuyện đó trong một cuộc rước đuốc Olympic, vậy mà văn nghệ sĩ trí thức cứ im thin thít như con nít bị dán băng keo. Rồi đây lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc sẽ ghi nhớ tên tuổi những kẻ nào đã cầm đuốc tiếp tay cho bọn xâm lược với tinh thần nhắm mắt làm ngơ trước bản đồ Hoàng Sa-Trường Sa thuộc đảo Hải Nam của Trung Quốc. Sự thực trước mắt có thể bị cường quyền làm lu mờ nhưng những món nợ tinh thần này thì dân tộc sẽ không bao giờ quên . Bè lũ Trần Ích Tắc và hậu duệ của nó rồi đây nhất định sẽ phải đền tội trước lịch sử…”

Bạn yeungon viết :

“Cảm ơn Thanh Thảo và Lê Thiếu Nhơn. Xin các vị hãy kiểm chứng thông tin cho thật kỹ, nếu có chuyện nhân việc rước đuốc mà hăm doạ chúng ta, thì ai thuộc dòng máu mủ Lạc Hồng, sẽ cùng góp công bảo vệ đất đai, sông biển của tổ tiên chúng ta. Còn ai không phải máu mủ Lạc Hồng, nhưng đang sống trên dải đất này, đừng ngăn cấm chúng ta thổ lộ tình yêu Tổ quốc mình!”

Tuy nhiên chỉ có tiếng nói lẻ loi của một vài người thế thôi, còn cả cái cộng động 700 hội viên Hội nhà văn Việt Nam và hàng ngàn cây bút địa phương thì thấy lặng tờ. Chắc họ đang mải hưởng ứng đợt sáng tác ca ngợi “gương đạo đức của Hồ Chủ tịch” do Ban tuyên huấn trung ương mới phát động ngày 9 tháng Tư - 2008  trong toàn thể Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam.

Thật đáng buồn thay !



16-4-08




PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 30

                      (tiếp theo)                                     

- Không nên một mình vào rừng vì ở đây có cọp, trăn và rắn độc. Gã lính dặn dò nhóm người chặt cây làm hàng rào.

Phía nữ được ở yên chỗ, một bà thấy chỉ có nam giới phải đi làm nên nói:

- Tối hôm qua mấy ông ở không, giờ họ bắt làm bù mới công bằng chứ.

Tôi và Đỉnh ở trong nhóm mười hai người đi vào rừng chặt cây. Gã lính dặn ông Thăng nói chúng tôi phải xong mọi việc trước 5 giờ chiều rồi y lấy ra 3 cây mã tấu cho cả bọn dùng. Đi chung với nhau ai nấy cười đùa vui vẻ, nếu có cọp hay trăn mà gặp đám đông như vầy thì cũng phải chạy tét. Mấy thanh niên cầm mã tấu đi đầu, tay loang loáng chặt các cây nhỏ cản đường. Nói vào rừng chặt cây nhưng thực tế chúng tôi phải đi kiếm mới có loại cần dùng. Cả đám vượt qua các khoảng rừng cây to, có lúc gặp thân cây mục nằm vật ngang giữa đường phải tìm cách trèo qua đi tiếp. Gặp cả những bụi tre rừng rồi qua bãi cỏ tranh thì may sao gặp được một khu vực có cây chồi nhỏ mọc sát thân thẳng tắp. Chúng tôi dừng lại, trong nhóm có người từng có thời đốn cây rừng hầm than góp ý: " Mình chẳng ở trại này lâu, theo tôi nên tìm cây tạp đừng lựa cây lá kim gỗ cứng khi chặt sẽ đau tay lắm, phí sức ". Chúng tôi lựa những cây thẳng, to bằng cườm tay và dài khoảng 3 m vừa tầm với hàng rào. Chớp mắt đã đủ số được giao 3 cây cho mỗi người. Cả đám xong việc sớm ngồi nghỉ, vài người phàn nàn về bữa cơm trưa. Con cá chiên khá lớn và canh nhiều mà cơm lại ít xỉn, người lớn hay trẻ nhỏ gì cũng một dĩa bằng nhau. Chia hết vòng vẫn còn dư cơm mà đám lính cũng không múc thêm cho. Một ông vóc dáng to con, bực bội:

- Nói thẳng, sức tôi phải hai dĩa thì mới thấm. Mấy người có con nhỏ còn được ké thêm. Cơm dư trong thùng mang về cũng bỏ, không lẽ lính chịu ăn thừa? Vậy mà cũng không cho.

Có lẽ phần ăn của từng người chúng tôi là như vậy, đám lính chỉ thừa hành lệnh cấp trên.

Ngồi không, có người đề nghị đi sục sạo kiếm trái cây rừng để ăn cho vui miệng nhưng người khác lại sợ vì lời dặn của đám lính trước khi đi. Rừng Mã Lai có loài cọp nhỏ cỡ con chó lớn nhưng rất hung dữ. Còn trăn? Tuy không có nọc độc nhưng loài này có thể quấn chết rồi nuốt sống gọn một người lớn như chơi. Nhất là loại trăn gió, chúng có thể chuyền từ cây nầy sang cây khác để tìm mồi mà không gây một tiếng động. Ngồi không mãi một chỗ cũng chán, cả bọn quyết định cắt rừng để quay trở về. Gần tới trại, chúng tôi gặp một khoảnh đất trống trải nằm lọt thỏm giữa cây rừng bao chung quanh. Cả đám dừng lại bên cây Thánh giá gỗ có hàng chữ đen Truong Cong Dai mờ nhạt cắm ở một trong các gò đất lúp xúp. Một nghĩa địa người vượt biên từng sống ở đây. Tên là nam giới rõ ràng nhưng Dai là Đại, Đãi hay Đài? Người này chết lâu mau vì không thấy ghi ngày sinh ngày tử? Tuy vậy, nạn nhân vẫn hơn các người khác vì có cây Thánh giá ghi tên. Nằm xuống vĩnh viễn ở rẻo rừng xứ người, chắc gì thân nhân của họ bên quê nhà đã biết tin.

Gặp nghĩa địa, đám chúng tôi ai nấy cũng cảm thấy buồn buồn trong lòng. Một ông làm dấu đạo Thiên Chúa, miệng lầm thầm nguyện kinh nho nhỏ. Đêm bị tàu hải tặc đuổi, nếu không có cơn mưa đột ngột, số phần chúng tôi chắc không khác những người tị nạn bất hạnh nằm ở đây. So ra, ghe chúng tôi thật may mắn vì đến được xứ người bình an.

Cây thẳng mang về tới trại, gã lính mang ra búa và đinh cho cả bọn gia cố các chỗ hư hỏng ở hàng rào và ở hai dãy bàn ăn. Hai nhóm kia cũng đã làm xong các việc được giao, căn trại bây giờ trông sạch sẽ hơn. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại nên ông Thăng ông Phát xin phép bọn lính cho chúng tôi được đi tắm thêm lần nữa. Đám lính gật đầu, chúng tôi hăm hở lên đường. Đến gần suối, để ý thật kỹ cả bọn mới thấy có thêm một lối mòn khác nằm phía tay trái, ngược với hướng con suối nam giới tắm. Lối mòn đó là hướng đi tắm của nữ giới trong trại.

Bữa cơm chiều cũng món ăn y như khi sáng nhưng nam giới do làm việc, ai cũng đói bụng nên ăn thật ngon.

Chúng tôi đã sống trong căn trại này được ba ngày. Cứ tuần tự sáng dậy sớm lúc 7 giờ vệ sinh cá nhân, 8 giờ ăn điểm tâm, 9:30 nam giới đi ra suối tắm giặt. Khi đám nam giới về thì đến phiên nữ giới. Xong vụ tắm giặt trời đã trưa, chúng tôi phải chờ đến 1 giờ thì xe chở cơm mới đến. Bữa cơm chiều lúc 5 giờ, sau đó chẳng có việc gì làm ngoài chuyện nằm ngủ, đi tới lui trong sân hoặc tụ họp nói chuyện đời cho đến khi trời tối. Tối, cả bọn kéo vào căn nhà lều và chờ đến 10 giờ khuya khi đám lính ngưng máy điện thì ngủ.

Lính gác trại không ăn sáng như chúng tôi mà hầu như chỉ cà phê thuốc lá. Thỉnh thoảng, mới thấy họ nấu mì gói để điểm tâm. Cơm trưa hoặc cơm chiều khi xe chở đến trại, đám lính cũng nhận khẩu phần đựng trong các khay nhôm che kín nên không ai biết loại thức ăn gì ở bên trong? Ngày hôm qua, ông nhân viên bộ Nội Vụ và hai sĩ quan quân đội vào thăm chúng tôi sau bữa ăn trưa. Đi lòng vòng trong trại, vẻ mặt họ hài lòng khi thấy căn trại sạch sẽ và gọn gàng. Ba người họ thông báo cho chúng tôi biết là đã liên lạc với đại diện của UNHCR tại Kuala Lumpur xong. Ông Thăng hỏi họ bao lâu nữa thì chúng tôi rời khỏi trại và rồi sẽ đi đâu? Vào Sungei Besi hay ra đảo tị nạn Pulau Bidong? Ông Alek bảo chúng tôi cứ chờ và sẽ được thông báo sau. Khi biết ghe chúng tôi ra khỏi nước đã hơn tuần lễ, một sĩ quan quân đội lấy ra một chồng giấy cùng bút mực và bì thư cho chúng tôi, nói ai muốn gửi thư cho thân nhân thì viết ngay. Ông ta sẽ ghé lại trong vài ngày tới và chuyển các thư về Việt Nam liền. Tôi xin giấy viết liền thư cho gia đình.

Ăn ở không nhưng ai cũng cảm thấy bụng rất mau đói và mong giờ cơm tới sơm sớm. Có một bất tiện trong việc ăn uống đó là xong bữa cơm chiều lúc 5 giờ thì chúng tôi phải qua một đêm dài đến 8 giờ sáng hôm sau mới có điểm tâm mà chỉ vỏn vẹn một gói bánh qui nhỏ cùng bịch nước trà đường nóng khoảng 1/3 lít. Thời gian cách quãng giữa hai bữa ăn đó quá dài làm nhiều người cảm thấy sót ruột vì bụng trống, nhất là các cháu bé. Trẻ nít khóc vì đói, cha mẹ nhìn con mà bó tay còn người lớn đánh lừa bao tử bằng các hớp nước lã. Những người có con nhỏ như Tám Kiệt, ông Thăng... bàn nhau thử dò hỏi bọn lính gác để mua thêm thức ăn. Đám lính lúc đầu gồm 6 người nay rút xuống chỉ còn 3. Mới bàn và chưa kịp dò ý với bọn lính thì chính chúng lại tỏ ý trước. Chúng biết người vượt biên có vàng, dollar mang theo. Xã hội nào cũng có người nghiền thuốc lá điếu, cà phê và nếu thiếu các thứ này, mặt người đó sẽ tiều tuỵ, cơ thể mệt mỏi tuy... không chết. Sơ khởi, bọn lính mang thuốc lá điếu và cà phê ra bán nhưng chỉ nhận tiền Ringgit (tiền Malaysia) thôi. Thấy người trong chúng tôi sùy ra dollar, chúng vờ vĩnh không biết xài mà chỉ đòi tiền Ringgit. Do vậy, đành phải để chúng đổi dùm luôn. Cứ 100 dollar Mỹ, chúng đổi lấy 200 Ringgit. Hối suất hai loại tiền thực sự bao nhiêu thì không ai biết nhưng bọn lính phải có lời. Được cái tiền Malaysia có giá trị vì chỉ 10 Ringgit thì cũng mua được kha khá thức ăn. Ai không có dollar mà có nhẫn vàng 24 cara thì chúng cũng sẵn sàng đổi giùm luôn. Thậm chí, đồng hồ đeo tay chúng cũng nhận đổi nhưng phải còn mới và tốt.

- Đến được đây coi như thành công, còn cái đồng hồ đổi lấy tiền mua thuốc lá hút cho miệng đỡ nhạt. Không có đồng hồ cũng chả sao. Một ông tháo cái đồng hồ Seiko 5 trên tay, phân bua trước khi đưa cho gã lính.

Giờ đây muốn có thứ gì chỉ cần đưa tiền ra, đám lính phóng xe máy chạy đi mua liền. Có người nhờ mua cả bếp dầu, chảo và xoong-nồi nhỏ nhưng không phải ai cũng có dollar thủ trong người hoặc sẵn vàng, tư trang quý để trao đổi với đám lính. Người có Ringgit mua thêm thức ăn, cà phê và thuốc lá về nhâm nhi làm người không có rất thèm. Đành chịu, không lẽ mở miệng xin. Tám Kiệt thấy vậy, y lẳng lặng bỏ tiền mua thêm cà phê, thuốc lá cùng bánh kẹo cho người trong trại hưởng chung. Tâm lý con người thật kỳ, lúc đầu thấy hành động của Tám Kiệt làm thì ai cũng khen thầm rồi chỉ sau một hai ngày cà phê thuốc lá đã có tiếng xầm xì sau lưng. Nói Tám Kiệt thu được khối vàng khi tổ chức vượt biên và hối lỗi, muốn mua cái đức cho mấy đứa con sau cơn hút chết trên biển. Tám Kiệt nghe được các chuyện đó, mỉm cười thố lộ:

- Đầu người đi trong ghe chỉ 2 cây nếu khách trực tiếp nói chuyện với tui. Còn mối của ai khác sang qua mất bao nhiêu tui không quan tâm. Cả ghe 135 người đi thì đã 30 người là gia đình, bà con và trong băng tui. Số khách còn lại, tưởng nhiều thật nhưng tiền công đưa rước rồi phải cúng cho bọn công an nên cũng chẳng dư bao nhiêu. Cái chính là tui đưa gia đình đi thoát là mừng, sang được xứ người thì mình sẽ làm lại cuộc đời mấy hồi.

Thực ra trong túi nhiều người cũng còn tiền nhưng loại tiền đã thành các tấm giấy màu không chút giá trị, đó là tiền in hình lão già. Đủ loại tiền từ tờ bác đau gan, bác sợ cho đến bác say rượu (tiền Việt Cộng có hình mặt Hồ Chí Minh mầu vàng 200 $, mầu xanh xám 50.000$ và mầu đỏ 500$, 10.000). Nhiều người lấy tiền đó vất bỏ gần hố rác sau khi cho đám lính xem. Thấy vậy, tôi gom lại được một bó ước đoán trên 7 triệu đồng và cất trong túi xách dù chưa biết sẽ làm gì với số tiền này. 

Buổi tối, bóng người lui cui nấu nướng bên những ánh lửa xanh của các bếp dầu ở mé sau căn nhà lều nữ giới. Mùi món ăn, cà phê nóng bay thơm ngào ngạt trong tiếng xèo xèo chảo chiên.

Mối thân thiện giữa đám lính gác và người trong ghe tăng lên. Một gã lính trẻ tên Daniel có máu văn nghệ, y có một cây đàn guitar. Vài người trong ghe cũng biết guitar nên nhanh chóng thân thiện với gã. Trưa nào cũng vậy, sau bữa cơm thì túm tụm dưới bóng mát một nhúm con trai con gái đàn hát bên nhau. Nhạc Việt, nhạc Mã hoặc nhạc trẻ ngoại quốc văng vẳng trong cái tĩnh mịch trại lính giữa rừng.

Thư chúng tôi viết xong, viên sĩ quan quân đội ghé vào trại lấy đi rồi nên ai cũng vui khi nghĩ thân nhân bên quê nhà sớm muộn gì cũng biết tin về chuyến đi. Ở yên chỗ, tạm thời vất bỏ các lo lắng trước mắt, các cô gái trẻ se sua lại y phục, trang điểm khuôn mặt và mái tóc mỗi khi đi tắm về. Theo đề nghị của nhiều người, đám lính cho phép chúng tôi vào rừng lần nữa để chặt cây về làm thêm hai dãy bàn ăn. Rồi kế đó thì ở mé sau căn nhà lều nam giới, đất cũng được chúng tôi san phẳng và cất một lều tròn nhỏ lợp tranh có cả bàn ghế nghỉ trưa. Nhờ vậy, tới giờ ăn, ai cũng có chỗ ngồi ở bàn gọn gàng không còn cảnh bưng dĩa cơm đứng lêu bêu hoặc ngồi bệt dưới đất như trước nữa. Ngồi chung bàn ăn cơm, một hai lần tôi đã đối mặt với cô gái ở dưới khoang hầm cá lớn và biết tên cô là Đoàn Hải Yến, 20 tuổi. Chim én biển họ Đoàn, cái tên đẹp như khuôn mặt cô. Từ lúc còn ở ngoài bãi biển, cô đã nhận ra tôi là người bên cô dưới khoang hầm cá lớn và đã đến hỏi chuyện. Én biển nhưng chịu không nổi các cơn sóng. Có lần, trong bữa cơm Yến đã hỏi tôi khi đó đang ngồi chung với Đỉnh:

- Anh Vũ! Yến nghe mấy chỉ nói người nào là lính VNCH hoặc liên quan với chế độ cũ thì sẽ được họ cho vào Sungei Besi, còn không thì sẽ phải ra đảo Bidong ở. Phải không?


                                     (còn tiếp)

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 88 - Những thần đồng …mất hút

     


Báo công an TP Hồ Chí Minh một thời nổi tiếng về đăng chuyện “hình sự” cướp giết, hiếp, cũng nổi tiếng về số lượng in cao ngất ngưởng nên tiền vô như nước Cửu Long. Sau thời Huỳnh Bá Thành tới Hà Phi Long tha hồ vén tay áo xô đốt nhà táng, ngay các nhà văn lớn như  Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khải…và thường là Nguyễn Quang Sáng thỉnh thoảng ghé ký sổ…nhận tiền. Nghe đồn trưa nào Hà Phi Long cũng xơi một bát cháo yến bồi bổ sức khỏe.
Phú quý sinh lễ nghĩa,  Hà Phi Long có con gái là Hà Phương Loan  năm đó khoảng 12 tuổi. Một hôm, phát hiện trong vở học của con gái có mấy bài thơ dạng viết nháp, câu được, câu gạch xóa, đoạn 4 câu, đoạn chỉ 3 câu, vần chưa chỉnh, câu chưa tròn, ý chưa rõ nhưng Hà Phi Long sướng lắm nhặt nhạnh thơ con gái rồi gom lại giao cho một số nhạc sĩ phổ nhạc, đăng thơ Hà Phương Loan lên báo, thuê một số anh thợ thổi đưa cô bé lên cỡ thần đồng. Than ôi, ngay Giáo sư Lê Đình Kỵ hồi đó cũng phải viết một bài khen cô bé rối rít. Vài năm sau khi Hà Phi Long về hưu thần đồng Hà Phương Loan cũng mất hút.
Vài năm sau, cố nhà thơ Dương Kiều Minh cũng viết bài “lăng xê” nhà thơ thần đồng Đặng Chân Nhân lên mây xanh
               
          
  TÔI MUỐN TÌM BÍ MẬT CỦA “HÌNH DUNG”
            
                                                     DƯƠNG KIỀU MINH

 Mùa xuân này, tập thơ đầu tiên mà tôi chăm chú đọc là tập thơ của một tác giả 14 tuổi: Đặng Chân Nhân. Trước một công trình của một tác giả vị thành niên này, tôi thấy rằng không thể không tôn trọng và thận trọng đọc đi đọc lại Hình dung (NXB Hội Nhà văn) thực chất là sự trình bày thế giới của Đặng Chân Nhân, cái thế giới này được biểu hiện quãng thời gian từ 7 đến 14 tuổi.
   Trong đêm trước khi vào giấc ngủ, tôi có lần lại ký ức của mình, rằng ở 7 tuổi tôi đã nghĩ gì? Tôi không thể lần tìm được ở 7 tuổi, mình đã nghĩ gì? Dường như tất cả chỉ còn hiện lên lờ mờ dăm ba hình ảnh thời thơ ấu với vùng quê xa lắc, còn lại tất cả đã tan biến vào đâu đó. Tôi rất tâm đắc với quan điểm về bảo tồn ký ức trong lĩnh vực tinh thần, rằng quá khứ của đời sống tinh thần có thể được giữ lại, không nhất thiết bị xoá hết, có những điều bị quên hoặc bị đồng hoá tới mức dùng cách nào cũng không khôi phục được nguyên trạng. Việc bảo tồn chúng thường phụ thuộc vào một số điều kiện, đó là điều có thể xảy ra, nhưng chúng ta chưa biết gì về điều này. Trong vương quốc tinh thần, cái ban đầu song song tồn tại một cách phổ biến dưới hình thức đã thay đổi của chính nó, cái gì đã hình thành thì không thể mất đi được, mọi cái đều được giữ lại ở mức độ nhất định và trong điều kiện thích hợp, chúng lại tại hiện.
   Với Đặng Chân Nhân thì cái quan điểm bảo tồn ký ức trong lĩnh vực tinh thần có vẻ kém hiệu lực đối với cá thể người này, bởi Đặng Chân Nhân đã trải nhiệm thời thơ ấu của mình bằng ngôn ngữ dưới một hình thức tinh túy nhất ở một đẳng cấp cao nhất, đó là thơ.
   Những bài thơ của Đặng Chân Nhân nói gì? Đối với đa số những nhà thơ của ta sẽ cho câu hỏi này là ngớ ngẩn, bởi đọc bài thơ của cậu bé lúc 7 tuổi thì mất thời gian làm gì để đặt ra câu hỏi như vậy. Đối với tôi, việc này lại khác, để trả lời câu hỏi đó thật không dễ dàng chút nào.
   Đây là bài thơ Gia đình của tác giả viết khi 7 tuổi:
Em có một gia đình/
 Gia đình đó gồm có:
 Bà bố mẹ chị em
 Và bà em khác nữa
Bà là một sao Mộc
 Bố là một Trái Đất Mẹ là một sao Kim
 Chị là một sao Thuỷ
 Em là sao Diêm Vương
Nhưng vẫn còn 3 em
 Ngựa gấu và cánh cứng
 Ngựa là sao Thiên Vương
 Gấu là một sao Hoả/
 Cánh cứng-sao Hải Vương
/Đó là một gia đình.
   Bài thơ chỉ như vậy đó. Dưới cách nhìn của người lớn hiện đang được công nhận là đúng, thì gia đình là một tổ chức xã hội thu nhỏ gồm những người thân thiết ruột thịt, là các thành viên hợp thành tổ chức đó. Dưới cách nhìn của Đặng Chân Nhân, tôi thấy cái định nghĩa trên đã bắt đầu phải bổ sung, bởi gia đình còn có ngựa, gấu và cánh cứng – ba thành viên mang tính đồ chơi này là những nhân vật thực sự không thể vắng mặt trong quan niệm của Đặng Chân Nhân về gia đình – chúng bình đẳng và cùng tồn tại trong cái thế giới của cậu bé 7 tuổi đó; vai trò của ba thành viên đồ chơi này, các thành viên khác trong cái gia đình đó không thể thay thế. Đó là bí mật thứ nhất của bài thơ. Bí mật tiếp theo thì tôi quả là chưa lý giải được, không phải là quá suy diễn hoặc quan trọng hóa vấn đề mà tôi nói như vậy. Đúng là chưa thể lý giải được. Một sự so sánh thường thấy: Bà là sao Mộc, bố là Trái Đất, mẹ là sao Kim, chị là sao Thuỷ, em là sao Diêm Vương, Ngựa là sao Thiên Vương, Gấu là sao Hoả, Cánh Cứng là sao Hải Vương. Các thành viên trong gia đình trong đó có cả 3 thành viên đồ chơi đều được chọn ứng với các vì sao trong vũ trụ. Tại sao lại ví các thành viên trong gia đình với các vì tinh tú? Tại sao bà lại là sao Mộc? Bố lại là Trái Đất? Nhiều nhà thơ sẽ cho rằng, việc gì phải đặt câu hỏi như vậy? Đó chỉ là sự ngẫu nhiên, hồn nhiên của một đứa trẻ mà thôi. Tôi không phủ nhận ý kiến này, nhưng quả là tôi không dám quả quyết rằng trong vận hành của trí tưởng tượng của cậu bé 7 tuổi đã diễn ra như thế nào để hình thành những câu thơ có tính ví von, so sánh, ước lệ đó, vì chính những thành viên thân thiết nhất của mình. Tôi chưa có được câu trả lời về bí mật này. Tôi chỉ có thể nương tựa một cách mong manh vào một luận điểm, rằng khi loài người nhân cách hoá lực lượng tự nhiên thì họ lại thường tuân thủ phương thức thời thơ ấu.
   Bài thơ Trò chơi và Những linh hồn nhảy nhót đã là sáng tác của một bậc vị thành niên 14 tuổi Đặng Chân Nhân.
   Ở thời kỳ 7-13 tuổi, Đặng Chân Nhân đã thực sự trình bày thế giới đến sự kiến giải những hiện tượng qua các bài thơ: Cần phải làm gì, Cùng chơi, Sinh nhật, Cá lớn và cá bé, Cuộc sống, Trái đất bao la, Thiên nhiên là gì, Điều dễ, Hình dung, Trí tưởng tượng…
   Rất vô tình, tôi đã cùng tác giả Hình dung trải qua quãng thời gian 7 năm từ lúc 7 tuổi, nay đã là 14 tuổi. Cái quãng thời gian 7 năm này là cả một hành trình kỳ vĩ trong đời sống tinh thần của một con người. Nếu ví von không quá thì nó là sự kỳ bí không kém cuộc thám hiểm đi vòng quanh trái đất. Những nghiên cứu về giai đoạn này các nhà tâm lý học đã có những kết quả sáng tỏ.
     Những linh hồn này/ Họ nhảy/ Họ được tự do/ # / Thoát khỏi sự lo lắng về cách sống sót/ Thoát khỏi áp lực/ Thoát khỏi các luật lệ/ Thoát khỏi cuộc sống/ # /Họ nhìn thấy Chúa trên đó/ Và họ nhảy (Những linh hồn nhảy nhót).
  Từ sự trình bày thế giới một cách hồn nhiên, có trình tự (khi 7 tuổi) giờ đây nhà thơ 14 tuổi đã trình bày thế giới bằng những khái niệm và đã chạm đến một lĩnh vực còn nhiều khó khăn trong thế giới triết học – đó là siêu hình học với những hình ảnh khá tiêu biểu: Chúa, thiên đàng và những linh hồn. Sự đột khởi mạnh mẽ và nhảy vọt trong thế giới tinh thần thể hiện qua tư duy ngôn ngữ của Đặng Chân Nhân, quả có làm cho tôi hơi choáng. Cái vương quốc tinh thần của tuổi vị thành niên đã vắt kiệt tâm sức của hàng ngàn nhà khoa học tâm lý trên thế giới, là một sự thật.
   Đặng Chân Nhân là một hiện thực của sự thăng hoa nguồn năng lượng tiềm ẩn. Từ hai bài thơ trên, cho thấy tác giả đã nếm trải những trải nhiệm ban đầu của một con người xã hội. Chắc những trải nhiệm đó không ra ngoài niềm vui, nỗi buồn, hy vọng, thất vọng và đã chớm khát khao sự công bằng, công lý trong cuộc sống. Trong xã hội loài người, điều khiến người ta cảm thấy khát vọng tự do là việc người ta chống tệ bất công hiện hành, nó được chứng minh là có lợi cho việc phát triển hơn nữa của nền văn minh, nó có khả năng thống nhất với nền văn mình. Hai bài thơ ở tuổi 14 này, đoạn kết của bài thơ đầu xuất hiện hình ảnh của Chúa. Dưới ánh sáng của phân tâm học thì Chúa là hình ảnh thần thánh của tôn giáo đã được loài người nhân tính hoá xuất phát từ ấn tượng đáng sợ về sự đơn độc thời thơ ấu khiến con người nảy ra nhu cầu được bảo vệ - đây là sự bảo vệ được thông qua tình thương yêu - sự bảo vệ này do người cha thực hiện. Do nhận thức rằng sự trơ trọi này sẽ tồn tại suốt cả cuộc đời nên phải dựa vào sự tồn tại của một người cha nhưng lần này là người cha lớn mạnh hơn (Chúa là hình ảnh người cha tối thượng).
   Thế là, sự thống trị nhân từ của vị thần thượng đế sẽ giảm bớt nỗi lo đối với những hiểm nguy trong đời sống của chúng ta, sự xây dựng trật tự đạo đức để đảm bảo nhu cầu công bằng thường không được thực hiện. Sự tiếp nối của tiếp sau đối với kiếp này lại tạo ra khuôn khổ cụ thể của kiếp này để thoả mãn những nhu cầu sẽ nảy sinh.
   Bài thơ Những linh hồn nhảy nhót là biểu hiện của khát vọng tự do, một sự chối bỏ thoát ra ngoài những áp lực của xã hội hiện đại, thoát khỏi quan niệm sống - chết, hằng lần khuất trong tư tưởng của con người. Tình cờ bài thơ đã chạm đến những quan niệm căn bản của Lạt-ma Tây Tạng về cuộc sống là một sự chuyển kiếp không ngừng và cái chết chỉ là giai đoạn chuyển kiếp trong cái nhân quả, luân hồi đó

  Đầu xuân, đọc tập thơ của một tác giả đang độ tuổi vị thành niên với 17 bài thơ ngắn gọn, súc tích, được sáng tác từ năm 7 tuổi đến 14 tuổi. Những ý tưởng từ những bài thơ của Đặng Chân Nhân gợi ra nhiều vấn đề hóc hiểm về nhận thức cũng như lý luận. Đi qua tập thơ Hình dung quả là không dễ dàng mấy. Đó là dấu hiệu rất khả quan của nhà thơ tương lai. Đến đây, tôi chợt nhớ tới ước ao của một nhà tư tưởng lớn nhất thế kỳ 20. Sinh thời, ông từng bộc lộ tin tưởng rằng những ai được nuôi dưỡng, lớn lên trong tình yêu thương, được giáo dục bằng những nhận thức tự giác cao và từ nhỏ đã được hưởng những điều tốt lành của nền văn minh, họ sẽ có thái độ khác hẳn đối với nền văn minh. Họ sẽ thấy văn minh là của cải của bản thân họ. Xin được kết thúc bài viết ở đây và xin được chúc mừng tác giả Đặng Chân Nhân.

D.K.M.

Xin miễn bàn về thơ “thần đống”, chỉ biết tập “Hình Dung” năm đó không qua được Ban giám khảo giải thưởng thơ của Hội nhà văn. Và cho tới nay, dường như “thần đồng” cũng đã …mất hút đẫu rằng nhà thơ Dương Kiều Minh viết rất vô tư không chịu áp lực như các cây bút “phò” Hà Phi Long thủa nào………





Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 178 -Thần tốc, thần tốc…xe tăng chạy sang mất có mấy giờ…





      

Mấy hôm nay không thấy cô Phượng cave ra ngồi quán. Bà con tha hồ đoán già đoán non . Người nói cô bệnh gì đó, bí hiểm lắm, đang phải  điều trị bệnh viện da liễu . Người bảo cô được ông bồ già Hà Nội mời đi trăng mật tận bên…Malaysia . Riêng thằng Bảy xe ôm la lớn :
“ Sai hết…sai hết…chị Phượng không bệnh mà cũng chẳng đi “trăng mật” với ai, chị đi lễ Bà Chúa Sứ mãi trên Châu đốc - Tịnh Biên chứ đâu …”
Quả nhiên, sáng hôm sau đã thấy cô Phượng cave ngồi trong quán, miệng cười ngỏn nghẻn, tay xoay xoay cái vòng đeo tay bằng gỗ. Bà Năm củ cải đi ngang qua, kêu trời :
“ Chèn đéc ơi…cô Phượng mà cũng phải đeo cái vòng tay bằng cây này à ? Vòng vàng hột xoàn đâu…”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Thím Năm củ cải chớ coi thường vòng này nha. Tôi thỉnh mãi chùa  Phật Nằm trên miệt Tịnh Biên lận….”
Gã Ký Quèn xua tay :
“ Xưa rồi,,,xưa rồi…bây giờ gọi chùa Bánh Xèo, tứcThiền viện Đông Lai .Gọi Đông Lai là vì hàng hiên tiền điện có cặp câu đối :” Đông độ Tây thiên trụ đại pháp / Lai nhân duyên hữu thoát trẩn ai”.Vậy mới gọi chùa Đông Lai…”
Chị Gái hủ tíu càm ràm :
“ Anh nói tiếng Tàu, bổ ai mà hiểu ?”
Gã Ký Quèn cười cười :
“Chữ Hán không phải chữ Tàu. Nghiã là “Tây thiên là nơi đất Phật, người có duyên đến sẽ thoát được não phiền”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Vậy chị Phượng cacve từ nay hết phiền não..”
Cô Phượng ca ve cười  rinh rích :
“ Hết phiền não là do cái vòng này đây. Vòng này kêu bằng vòng “ quỷ kiến sầu” làm bằng gỗ thiêng mọc tít trên núi cao chứ không phải gỗ thường đâu,mày nghe ra chưa ?”
Ong Tư Gà nướng góp chuyện :
“ “Quỷ kiến sầu “ là cái mẹ gì? Tao sống đến  từng này tuổi chưa nghe thấy cái gì là “quỷ kiến sầu” ?”
Cô Phượng cave bĩu môi :
“ Chú không biết không có nghĩa là không có nó. Gỗ này mọc trên núi thiêng, lâm tặc rất khó chặt phá bởi bao quanh cây là các ổ kiến độc. Lúc sống, kiến bảo vệ cây, lúc kiến chết chất độc trong người ngấm hết vào cây nên mới gọi là... quỷ kiến sầu! Cây này đem nấu nước uống kéo dài tuổi thọ, bổ thận tráng dương . “
Gã Ký Quèn cười ha hả :
“ Cô Phượng cave sai bét rồi. “ Quỷ kiến sầu” không phải là kiến chết ngấm hết vào cây mà chính là vì đem vỏ cây này đốt lên, nó bốc mùi... thúi tới mức ma quỷ không chịu nổi, phải bỏ chạy, tức quỷ nhìn thấy cũng phải buồn. “ Quỷ kiến sầu” là như vậy. “
Cô Phượng cave hứng chí :
“ Hèn chi mấy ông thầy chùa nói rằng cái vòng này đeo vào tay thì ma quỷ phải sợ không dám gây sự …””
Ong Tư Gà nướng bật cười :
“ Tin sao được mồm miệng mấy ông thầy chùa. Mấy ông bốc phét vậy cốt dụ khị bà con bỏ tiền ra mua .”
Cô Phượng cave gắt to :
“ Cái chú Tư này… báng bổ nhà chùa, cái vòng này gíá có hai chục ngàn , nhiều nhặn gì mà mấy ông thầy chùa phải bốc phét dụ khị thiện nam tín nữ…”
Gã Ký Quèn chen ngang :
“  Cái vòng này nếu đúng ma quỷ nhìn thấy phải sợ , không dám gây chuyện với mình thì tôi xin bỏ tiền ra mua cả chục cái luôn…”
Ong Tư Gà nướng trợn mắt :
“ Mày mua một cái đủ rồi, mua làm gì cả chục cái…”
Gã Ký Quèn cười khà khà :
“ Tôi mua tặng bà con khiếu kiện đòi nhà,đòi đất.Mỗi lần kéo nhau lên tỉnh, hoặc ra Hà Nội chầu chực nhà ông lớn thì đeo cái vòng này vào cổ tay, bọn cớm chìm cớm nổi, bọn lưu manh côn đồ  nhìn thấy phải tránh cho xa không dám hành hung đánh đập bà con …”
Ông Tư Gà nướng :
“Ngày xưa dân ta có lưu manh côn đồ vậy đâu. Từ ngày có đảng mới sinh ra vậy…”
Ong đại tá hưu từ nãy ngồi ngẩn , giờ  quát lên :
“ Tụi bay không nhìn  thấy cái bản chất , cái phổ biến của dân tộc ta là lòng yêu thương con người, con người là vốn quý nhất như bác Hồ đã dậy. Cái xấu , cái ác chỉ là cá biệt, tạm thời. Rôi đây phong trào học tập theo gương đạo đức của bác Hồ được nhân rộng ra toàn Đảng toàn dân nhất định cái đẹp sẽ lấn át và tiến tới tiêu diệt cái xấu. Lúc đó xã hội ta sẽ hết tham ô, tham nhũng “
Thằng Bảy xe ôm vỗ tay :
“ Phải rồi, phải rồi, Chẳng thế mà tuyến cao tốc Nội Bài đi Lào Kay mới thông  xe có mấy ngày đã lún mẹ nó rồi…”
Bà Tổ trưởng cãi :
“ Tối nay tivi nói rồi…cái đó do nền đất yếu gây sụt lún…”
Cô Phượng cave :
“ “ Nền đất yếu sao không khảo sát từ trước dể giải quyết…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ Phong bao, phong bì ăn chia mẹ nó hết rồi…phải mau mau hoàn thành nối với Trung Quốc mai sau các đồng chí chạy xe tăng sang Hà Nội thần tốc..thần tốc…chỉ mất mấy tiếng đồng hồ…”
Cả quán cười ồ . Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng Bảy xe ôm nói láo nha…các đồng chí Trung Quốc chạy  xe tăng sang làm gì ?”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Để giải phóng Thủ đô, chúng tao cùng quyết tiến bước ….”
Cả quán cười ầm ầm. Ông đại tá hưu và bà Tổ trưởng đỏ mặt tía tai…”

25-9-2014

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

CHUYỆN XƯA-NAY MỚI NÓI - KỲ 86 - Chống Trung Quốc Diễn Biến Hòa Bình




                                                                                 Bùi Minh Quốc


Kính nhờ báo Văn Nghệ, báo Nhân dân, báo Người Đại biểu Nhân dân cùng tất cả các đài, báo trong ngoài nước và trên mạng internet công bố giùm.
Đúng ra, đối với đất nước ta, chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc đã có cả “diễn biến vũ trang” lúc rộ lên, lúc âm thầm nhỏ lẻ, và trong cái im ắng của những năm tháng bình yên thì kẻ thù nguy hiểm truyền kiếp phương bắc vẫn không ngừng  chuẩn bị cho “diễn biến vũ trang”, nhưng dưới đây xin chỉ tập trung nói về diễn biến hòa bình.
Lâu nay khi nói đến “chống diễn biến hòa bình” chúng ta thường chỉ chú ý nhìn về phía tây, phía các nước đế quốc thù địch cũ.Thế là chệch hướng rất tai hại, là mất cảnh giác rất nghiêm trọng, một sự mất cảnh giác chiến lược.
Hãy cùng nhau đọc lại một đoạn hồi ký của bậc lão thành cách mạng Hoàng Tùng, nguyên bí thư trung ương Đảng, trưởng ban tuyên giáo trung ương: “Mùa thu năm 1950, Trung Quốc phái hai đoàn cố vấn sang Việt Nam. Một đoàn chính trị do La Quý Ba làm Tổng cố vấn. La Quý Ba trước là bí thư của Mao, bí thư Sơn Tây. Ông này là người nghiêm chỉnh, phục Mao Trạch Đông như một ông thánh. Ông là người tin cẩn của Mao. Còn Tổng cố vấn về quân sự là Vi Quốc Thanh. Đoàn cố vấn quân sự đông hơn, vì nó có đủ cả các bộ máy của quân sự. Ta không hiểu thâm ý của Trung Quốc là muốn sửa ta. Họ sang để giới thiệu kinh nghiệm Trung Quốc, lý luận Mao Trạch Đông, lý luận quân sự, tổ chức quân đội. Việc đầu tiên là họ sửa đổi đã. Họ sửa cả Đảng trong quân đội cho nên mới lập ra chức chính ủy. Trước, ta chỉ có chính trị viên. Cũng là chính trị cả nhưng có khác nhau về chức năng. Chính ủy là người bao trùm lên Tư lệnh, chứ không phải Tư lệnh là người quyết định. Lập ra Chính ủy là để xác định vị trí của Đảng, mà việc đầu tiên là nhằm vào ông Giáp. Vì ông Giáp xuất thân từ trí thức, năm 1950 mới có 10 tuổi Đảng, mặc dù ông tham gia cách mạng từ những năm 1930, nhưng ông hoạt động  bị bắt rồi lại đi học mãi đến năm 1940 mới được Bác kết nạp vào Đảng, theo Trung Quốc ông là một trí thức xuất thân không phải công nông, mà để ông nắm quân sự thì không ổn. Đặt ra những Chính ủy để phụ trách Đảng trong quân đội. Có người đưa cho đoàn cố vấn một danh sách cán bộ trong quân đội xuất thân gia đình không phải là công nông định để gạt ra khỏi quân đội. Ai đưa danh sách này cho đoàn cố vấn? Tôi ngờ rằng đó là một người trong quân đội (…). Ông Giáp mới đưa danh sách đó cho Bác, Bác bảo đốt ngay đi, thay bằng ấy người thì quân đội không còn cán bộ…”.
Đoạn vừa trích dẫn trên là rút từ một bản photo truyền tay nhiều năm nay trong các lão thành cách mạng, các cựu chiến binh và các nhà nghiên cứu, tôi nêu ra để bạn đọc tham khảo khi đối chiếu với thực tế lịch sử trước và sau năm 1950. Phần tôi thì tôi tin những điều ông Hoàng Tùng kể là có thật; cũng như nhà văn Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất”, bậc lão thành Hoàng Tùng tự buộc mình phải nói với mọi người những sự thật quan thiết đến vận mệnh dân tộc để đáp ứng nhu cầu tâm linh của một người cao tuổi đã sắp về cõi.
Qua vụ việc ông Hoàng Tùng kể, ta thấy cái đòn “diễn biến hòa bình” của Trung Quốc trước hết nhằm vào quân đội ta (hãy nhớ đến luận điểm “súng đẻ ra chính quyền, súng chỉ huy Đảng” của Mao Trạch Đông), nhằm vào từ người đứng đầu là đại tướng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho đến hàng loạt sĩ quan trung cao cấp, và đòn này được sự hưởng ứng (hay tiếp tay ?) ngay từ trong nội bộ ta. May mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lẳng lặng dẹp khéo ngón đòn ấy, không thì chúng ta không thể có được Điện Biên Phủ.
Nhưng đến cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức với cả một hệ thống cố vấn Trung Quốc từ trung ương tới địa phương kèm sát các đoàn ủy của ta thì mưu đồ nham hiểm bất thành nêu trên đã thành công ở qui mô chưa từng thấy, dưới một hình thái bi thảm chưa từng thấy: Đảng ta tự đưa mình vào cảnh dùng tay nọ chặt tay kia. Hàng nghìn cán bộ đảng viên, hầu hết là những người tận tụy nhất, trung kiên nhất, hy sinh nhất, những người con ưu tú nhất của Đảng, của dân tộc bị giết, bị hành hạ, tù đầy, số sống sót thì bị vô hiệu hóa. Hàng vạn người dân lương thiện, trong đó nhiều người là ân nhân của cách mạng và kháng chiến cũng chịu cảnh tương tự. Tổn thất này vượt ngàn lần so với những tổn thất do thực dân đế quốc gây ra, cùng những hệ lụy tai hại dai dẳng về mọi mặt, nhất là về chính trị và văn hóa.
Nói cho chính xác thì qua vụ cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, Đảng ta đã rơi vào cảnh tự chặt đứt dưới chân mình những cội rễ dân tộc mà từ đó Đảng được sinh ra. Đường lối giai cấp trong công tác cán bộ chính thức xác lập, đưa hàng vạn nông dân thất học vốn hiền lành chất phác nhưng được bồi dưỡng để nói điêu, tố điêu rất giỏi, thoắt cái đã trở thành cán bộ cốt cán. Khối đại đoàn kết toàn dân chỉ còn là hình thức, Mặt Trận trở thành nơi trình diễn sự đoàn kết bề ngoài, bên trong là “đoàn kết” kiểu chơi cha thiên hạ.
Giáo sư Phan Ngọc trong bài “Những suy nghĩ ban đầu về vấn đề học thuyết Hồ Chí Minh” cho biết một chi tiết quan trọng trong lịch sử Đảng bấy lâu bị bưng bít: “… khi anh Đào Duy Dếnh tức Đào Phan bí thư thành ủy Hà Nội bị bắt vào tù, anh tuyên truyền đường lối Việt Minh cho anh em cộng sản trong nhà tù Sơn La thì mọi người đều tán thành, nhưng có một người nói: “Có một Nguyễn Ái Quốc chứ mười Nguyễn Ái Quốc mà đi theo con đường ấy cũng thất bại”. Người đó là Lê Đức Thọ” (trang 9 tạp chí “Biển và Bờ” tháng 5.2008). “Con đường ấy” mà Lê Đức Thọ bài bác chính là con đường do Nguyễn Ái Quốc vạch ra, là đường lối Việt Minh – đường lối đoàn kết toàn dân đánh Pháp đuổi Nhật được quyết  định tại hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 tháng 5 năm 1941.
Nhà cách mạng lão thành Nguyễn Hữu Đang lúc sinh thời, từng kể với nhà thơ Phùng Quán và người viết bài này (tại chòi ngắm sóng của anh Phùng Quán): Hồi ở Việt Bắc, có thời gian sức khỏe yếu, ông được cho đi nghỉ dưỡng. Phụ trách cơ sở nghỉ dưỡng là một cán bộ cao cấp nhưng có tính hay nói tục (sau này lên tới cấp tướng, ở trong trung ương nhiều khóa nhưng vẫn hay văng tục). Một buổi tối ngồi quây quần trò chuyện, khi đề tài chuyển đến vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tất cả những người yêu nước không phân biệt giai cấp, thì cái vị hay văng tục kia bật ra một câu khiến ông nhớ đời: nói thế chứ đoàn kết thế đéo nào được ! (xin phép bạn đọc tôi ghi nguyên si cái từ văng tục của vị kia đúng như cụ Nguyễn Hữu Đang đã kể)
Thế lực bành trướng trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc dễ dàng nhận ra: từ khá sớm, trong đầu óc không ít cán bộ nòng cốt cao cấp của Đảng ta luôn có một mảnh đất mầu mỡ để gieo và thúc cho bốc nhanh những mầm mống giai cấp chủ nghĩa dù tạm thời bị xẹp xuống sau thất bại của Xô viết Nghệ Tĩnh nhưng sẽ sẵn sàng mọc dậy khi có cơ hội. Đấy chính là bàn đạp êm ái và đắc dụng nhất cho những bước chân bành trướng mà tất cả các thế lực bành trướng cổ truyền phương bắc chưa hề có được.
Sau cải cách ruộng đất, ủy viên bộ chính trị Lê Đức Thọ làm trưởng ban Tổ chức trung ương, nắm quyền về cấu trúc, xây dựng tổ chức và sắp đặt nhân sự trong toàn Đảng. Nắm tổ chức, nắm nhân sự là nắm thực quyền hầu như toàn quyền rồi còn gì! Xin hãy nhớ, Lê Đức Thọ nắm tổ chức (có thời gian còn nắm luôn cả tư tưởng) mấy chục năm liên tục cho tới 1986.
Hãy cùng nhau đọc lại những trang hồi ký của nhà cách mạng lão thành Nguyễn Văn Trấn ghi lời kể của ủy viên trung ương Đảng Bùi Công Trừng về hành xử của Lê Đức Thọ trong hội nghị trung ương lần thứ 9, năm 1963; nhân vật đầy quyền uy này ngang nhiên chặn lời cả cụ Hồ - “Bác phải để cho anh em người ta nói chứ !” - và lúc giải lao, Lê Đức Thọ cầm thuốc lá đi mời người này người nọ vừa làm ra vẻ “gần gũi” vừa để “chiếu tướng”. Sau hội nghị, lập trường chính trị của Đảng ta ngả hẳn sang lập trường của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hữu nghị với Liên Xô chỉ là bề ngoài để có vũ khí đánh Mỹ, bên trong là theo Trung Quốc chống Liên Xô kịch liệt. Xảy ra cái gọi là “Vụ án xét lại chống Đảng” do Lê Đức Thọ làm trưởng ban chuyên án, được phong (hoặc tự phong) là “tư lệnh đánh xét lại”, mà sau này nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh trong hồi ký của mình nhận xét rằng đó chỉ là thủ đoạn nham hiểm dựng ra vụ án nhằm thanh toán các đồng chí thật sự tài đức để thoán đoạt quyền bính. Hàng trăm cán bộ sĩ quan trung cao cấp trong và ngoài quân đội cùng gia đình họ bị tù đày, hành hạ triền miên, có người đã chết trong tù, về sau các nạn nhân kể rằng mọi cuộc thẩm vấn đều cố gán ép để họ khai một điều gì đó dính líu đến đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng không ai khai cả vì chẳng có gì để khai (Xin lưu ý: đại tướng Võ Nguyên Giáp một lần nữa lại là đích nhắm của các âm mưu đen tối, và cũng xin lưu ý: vụ việc xảy ra khi ta sắp phải đối đầu trực tiếp với Mỹ, còn Trung Quốc âm thầm chuẩn bị bắt tay với Mỹ và nắm Pôn-pốt thủ lĩnh Khơ-me Đỏ).
- Có bao giờ âm mưu và thủ đoạn diễn biến hòa bình của phương Tây và của các thế lực bành trướng cổ truyền Trung Quốc đạt kết quả to tát như thế chưa ?
- Chưa.

Bởi vì phương Tây và các thế lực bành trướng cổ truyền Trung Quốc không có được mối quan hệ giữa hai “Đảng anh em” cầm quyền trên hai đất nước xung đột lâu đời về lợi ích quốc gia. Tính chất đặc biệt nguy hiểm trong âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc đối với nước ta chính là ở đấy: bành trướng thông qua mối quan hệ giữa hai Đảng cầm quyền. Và tính chất đặc biệt nguy hiểm này chưa bao giờ được đề cập, được làm rõ trong công tác lý luận và tư tưởng, thậm chí còn cố tình lờ đi. Chính nhờ mối quan hệ giữa hai Đảng mà bọn Trần Ích Tắc, bọn Lê Chiêu Thống hiện đại thẻ-đỏ-tim-đen mới ẩn náu lâu đến thế, sâu đến thế trong bộ máy cầm quyền, và bọn này đã từ trong bóng tối ung dung thực hiện mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” một cách “chính thống”. Chưa hề có một cuộc kiểm điểm đến nơi đến chốn về công tác tổ chức công tác cán bộ và công tác tư tưởng, những khâu có tính quyết định, là nguyên nhân của nguyên nhân mọi thành công và mọi sai lầm, nhất là những sai lầm dẫn đến tội ác (xảy ra ngay trong Đảng và ngoài xã hội) trước và sau khi có đổi mới (1986). Công tác bảo vệ chính trị nội bộ (trước kia gọi là bảo vệ Đảng) cũng chưa hề cho toàn Đảng toàn dân thấy tình hình thế lực bành trướng cài cấy người của chúng vào nội bộ ta như thế nào và ta đã đối phó ra sao, chỉ thấy những sai lầm chính trị mang tính hồ đồ rất có hại cho khối đại đoàn kết toàn dân và có lợi cho kẻ địch bành trướng như đẩy người Hoa về nước trong đó có rất nhiều bà con đã đóng góp của cải xương máu cho cách mạng Việt Nam, loại ra ngoài tổ chức hoặc vô hiệu hóa rất nhiều đảng viên người Hoa hoặc gốc Hoa từng chiến đấu vào sinh ra tử, dâng hiến cuộc đời cho Tổ Quốc Việt Nam và cách mạng Việt Nam như một con dân đất Việt. Sau sự hồ đồ đó lại là một trạng thái như thể không còn tên địch nào của thế lực bành trướng cài cắm trong nội bộ ta nữa.
Hãy cùng nhau mở lại báo Tuổi Trẻ ngày 27.4.2008 để đọc trên trang nhất một đoạn trong bài “Trị “chạy” chức” của nguyên phó ban tổ chức trung ương phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ Nguyễn Đình Hương:
“Vụ chạy chức ở Cà Mau không phải cá biệt, có thể nói cái sự “chạy” thì nơi nào cũng có, cấp nào cũng có, trung ương cũng có, tỉnh có, huyện có, các bộ ngành đều có…” ( ) “và chạy ở mức 100 triệu đồng chưa là cái gì, tôi biết có những trường hợp “chạy” lớn hơn nhiều” ( ) “Chừng nào công tác cán bộ vẫn do một người hoặc một nhóm người quyết định mà người dân “chẳng biết đâu mà lần”, nạn “chạy chức, chạy quyền” sẽ vẫn còn đất sống”.
Có phải tình trạng “công tác cán bộ vẫn do một người hoặc một nhóm người quyết định” chính là tình trạng cố hữu từ thời trưởng ban Lê Đức Thọ chưa bao giờ được kiểm điểm làm rõ nên kéo dài suốt cho đến nay ? Với một tình hình như thế, lấy gì đảm bảo kẻ địch bành trướng không cài cấy ngày càng sâu và ngày càng cao lực lượng của chúng trong nội bộ ta ? Những vụ việc nghiêm trọng về gian lận đảng tịch và nhiều vấn đề nghiêm trọng khác của các đảng viên cao cấp Lê Đức Anh, Nguyễn Khoa Điềm, rồi vụ T4, vụ Tổng cục 2 hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài v.v… bị các lão thành cách mạng tố cáo và đòi hỏi phải giải quyết rốt ráo bao năm nay vẫn chưa xử lý rành mạch có liên quan gì đến những yếu kém, sự chệch hướng hoặc cố ý chệch hướng và buông lỏng trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ ?
Gần đây, tại cuộc hội thảo triển khai nghị quyết 23 của Bộ chính trị về văn hóa văn nghệ, ủy viên bộ chính trị, thường trực ban bí thư trung ương Trương Tấn Sang cảnh báo: “Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm tạo ra sự “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa trong xã hội ta”.
Cần đi sâu phân tích và làm rõ thêm ý kiến quan trọng nêu trên.
Trước hết phải vạch ra cho cụ thể, dứt khoát: trong “các thế lực thù địch” hiện nay, thì thế lực nào là nguy hiểm nhất ?
Câu trả lời đã rõ như ban ngày: đó là thế lực bành trướng hiện đại trong giới cầm quyền Trung Quốc, chứ không phải những thế lực từ phương tây hay từ cộng đồng người Việt hải ngoại.
Chúng đã và đang tạo ra sự “tự diễn biến” trong nội bộ dân tộc ta, mà trước hết là nội bộ Đảng ta như thế nào, và có phải chỉ diễn ra trong lãnh vực tư tưởng-văn hóa thôi không ?
Xin nêu một dẫn chứng nho nhỏ mà tôi là một nhân chứng trực tiếp. Năm ngoái (2007), nhà thơ Phan Đắc Lữ (một người tham gia kháng chiến từ lúc 16 tuổi, thuộc dòng họ Phan ở Bảo An, Gò Nổi, Quảng Nam, bà con gần gũi với các nhân vật yêu nước, cách mạng, và cán bộ cao cấp Phan Khôi, Phan Thanh, Phan Bôi, Phan Diễn…) đưa tôi đọc bản thảo tập thơ “Bốn mùa tôi” của ông. Ông kể rằng ông gửi bản thảo để xin giấy phép của nhà xuất bản Hội Nhà văn, nhưng bị họ cắt sửa tệ hại quá nên chẳng muốn in nữa. Trong những chỗ bị cắt, có 4 câu thơ này:
Tổ Quốc ta nơi nào cũng đẹp
Từ ải Nam Quan đến Cà Mau
Sông là máu đừng đem mua bán
Núi là xương đừng lấy đổi trao

(“Ký sự ngược sông Thu”)

Quái thật ! Dưới chế độ ta, lại có kẻ nào dám cả gan hạ bút cắt bỏ những câu thơ yêu nước như thế ? Nhìn kỹ vào các chữ ký trên bản thảo thì thấy, trực tiếp cầm kéo cắt là biên tập viên Ngô Văn Phú, ký duyệt là giám đốc Nguyễn Phan Hách, người kế nhiệm Ngô Văn Phú (đã nghỉ hưu nhưng được mời làm tiếp trong chân biên tập). Ngô Văn Phú và Nguyễn Phan Hách thì tôi biết, đó là hai đảng viên chức sắc trong Hội Nhà Văn và giới xuất bản, khó có thể nghĩ hai nhà văn ấy không yêu nước, nhưng thật tình tôi không hiểu nổi tại sao hai ông lại đang tâm dập tắt một tiếng lòng yêu nước của đồng nghiệp ? Rõ ràng, đây là bằng chứng không thể chối cãi về tình trạng “tự diễn biến”. Từ người yêu nước, hai ông đã “tự diễn biến” thành công cụ cho thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài, nếu không sớm tỉnh ngộ thì từng ngày một, qua từng việc một, sẽ dần dà tự hủy tư cách yêu nước của người đảng viên.
Trường hợp tôi vừa kể không phải là cá biệt. Nó diễn ra đầy rẫy hàng ngày trong hoạt động báo chí và xuất bản , bắt nguồn từ một tình trạng “tự diễn biến” ở cấp cao hơn trên qui mô lớn hơn. Cách đây hơn một năm, trong thư ngỏ gửi Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cùng toàn thể đồng nghiệp trong Hội, tôi đã nêu vấn đề: “Chủ nghĩa bành trướng trong giới cầm quyền Trung Quốc không bao giờ tự lùi bước, tự mất đi, nó là mối họa trường kỳ đối với dân tộc Việt Nam ta cùng các dân tộc Đông Nam Á, và ngay cả với chính nhân dân Trung Quốc. Mấy chục năm qua, trong sinh hoạt văn hoá của nhân dân ta thiếu vắng hẳn các công trình nghiên cứu và tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài này, thậm chí các cuộc chiến tranh chống bọn diệt chủng Khơ me đỏ ở Cam-pu-chia, bọn bành trướng Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, ở biển Đông, với xương máu của hàng vạn bộ đội và nhân dân ta, cũng vô cớ (một cách cố ý) bị biến thành đề tài cấm kỵ khiến sự thật lịch sử dần bị vùi lấp. Tại sao lại có một chủ trương thiếu văn hoá, đi ngược lại lợi ích dân tộc như vậy ? Vấn đề hết sức nghiêm trọng này cần sớm được làm rõ, mà Hội Nhà văn Việt Nam là nơi cần phải có tiếng nói sớm nhất”. Thư ngỏ của tôi và của nhà văn Nguyễn Khắc Phục (ông có thư ngỏ gửi các nhà văn Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, thư ngỏ gửi thanh niên Việt Nam về nhiệm vụ chống bành trướng) bị báo Văn Nghệ cất kỹ vào ngăn kéo. Hơn một năm qua, ban chấp hành Hội Nhà văn vẫn im lặng. Không thể nghĩ là các nhà văn hội viên không yêu nước nhưng sự im lặng của ban chấp hành Hội khiến nhân dân buộc phải nghĩ rằng cái hội này đã thành công cụ của thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài. Mà không chỉ riêng Hội Nhà văn “tự diễn biến” đáng xấu hổ như thế. Hầu hết các hội đoàn đều im lặng. Mặt trận Tổ Quốc cũng im lặng; bài phát biểu về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của giáo sư Tương Lai, ủy viên đoàn chủ tịch trung ương Mặt trận tại diễn đàn Mặt trận không báo nào đăng. Thanh niên, sinh viên, nhà báo, văn nghệ sĩ đi biểu tình trật tự ôn hòa trên đường phố và trước đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Trung Quốc để trực tiếp khẳng định với đối phương Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam thì bị đàn áp thô bạo – bị quật xuống đường, bị bóp cổ, bị còng tay, rồi công an lôi về phường sách nhiễu, không từ cả đến các cựu chiến binh cao tuổi chỉ đứng bên  hè hoan nghênh ủng hộ, mọi người phải phẫn nộ hỏi những người lính ăn lương từ tiền thuế của dân để làm nhiệm vụ bảo vệ dân: “Các anh có còn là người Việt Nam nữa hay không?”. Có nhà báo bị đưa ra tòa với một màn xử ngụy trang vụng về gượng gạo bằng khép tội trốn thuế. Phải chăng những người ngồi ghế xét xử đã “tự diễn biến” thành công cụ cho thế lực vong bản bên trong và bành trướng bên ngoài ?
Theo nhận xét của riêng tôi, tình hình “tự diễn biến” đã trở nên rất nguy hiểm: trong nội bộ dân tộc, nội bộ đảng cầm quyền đã xuất hiện một thế lực ăn bám, ăn cắp, ăn cướp và mại bản về kinh tế, vong bản về chính trị và tư tưởng. Thế lực này núp trong bóng tối đằng sau cái bình phong Đảng lãnh  đạo đang từng ngày từng giờ đẩy đảng viên vào cảnh dần dần tự hủy tư cách yêu nước của mình, đồng thời phá hoại nghiêm trọng tư cách yêu nước, tư cách vì dân của Đảng. Cách đây 20 năm, trước khi qua đời, nhà văn Nguyễn Minh Châu (giải thưởng Hồ Chí Minh) viết: “Làm thằng nhà văn Việt Nam vào lúc này mà tìm cách lẩn tránh vấn đề dân chủ là thiếu tư cách”. Tôi xin theo cái ý kiến rất xác đáng đó để nói to lên với mọi người rằng: làm người đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam vào lúc này mà tìm cách lẩn tránh vấn đề dân chủ và vấn đề chống bành trướng là thiếu tư cách.
TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT
Đó là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đó là cốt lõi của tư cách đảng viên.
Đó là tiêu chí hàng đầu trong phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ gánh vác việc dân việc nước.
Đó là nguyên lý tồn tại của Đảng cầm quyền hiện nay và bất kỳ một đảng cầm quyền nào trong một chế độ đa đảng sau này.

Năm ngoái (2007), sau khi trúng cử đại biểu quốc hội, được báo chí hỏi ông thấy thế nào khi vẫn còn một số ít những người bỏ phiếu không bầu cho ông, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã phát biểu (đại ý): tôi thấy cần phải tự xem lại mình. Một ý kiến rất đáng hoan nghênh, và tôi mong sớm có những việc làm đi đôi với lời nói đó; những người gánh vác việc dân việc nước cần phải thường xuyên “tự xem lại mình” từng ngày một, qua từng việc một.
Xin hãy mở lại báo Tuổi Trẻ ngày 13.01.2008 đọc trên trang nhất bài tường thuật với những hàng tít lớn sau đây:
“TẠI HỘI NGHỊ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG,
THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG:
CÔNG KHAI HẾT, CẢ CHI TIÊU NGÂN SÁCH VÀ TÀI SẢN
…

Theo thủ tướng, có bốn nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là thể chế còn sơ hở, thủ tục hành chính rắc rối phiền hà, tinh thần phê bình và tự phê bình còn yếu, đặc biệt là trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu chưa được thể hiện”.
Gần một năm qua, tình hình tự phê bình và việc xem xét trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu đã thể hiện như thế nào ?
Mặt trận chống tham nhũng – theo tôi, cần phải chính thức gọi theo cách của Hồ chủ tịch là đánh giặc nội xâm – diễn biến rất xấu, những nhà báo, những sĩ quan công an được công luận thừa nhận là những chiến sĩ có công trên mặt trận này đáng lẽ được biểu dương thì lại bị áp đặt những bản án phản công lý mà các báo không được phép phân tích bình luận, vậy mà không thấy đâu một lời tự phê bình của Tổng bí thư và Thường trực ban bí thư.
Gần một năm qua, không có một nhúc nhích gì về việc công khai tài sản. Một cán bộ cao cấp phát biểu ở Quốc Hội rằng chưa công khai được vì Hiến pháp qui định phải tôn trọng quyền bí mật tài sản của công dân (!). Ái chà chà, tôn trọng Hiến pháp mà lại để luật báo chí, luật xuất bản vi phạm Hiến pháp bao năm ròng như thế? Còn việc kê khai tài sản thì Hiến pháp có cấm việc tự nguyện kê khai và công bố công khai đâu? Hiến pháp và nhân dân không những không cấm mà còn hoan nghênh tất cả các ủy viên bộ chính trị, ủy viên trung ương ngay ngày mai tự nguyện công khai tài sản của mình trên các báo đài.
Xin mời các ủy viên bộ chính trị và ủy viên trung ương Đảng, các đại biểu Quốc Hội cùng tất cả mọi người đọc câu thành ngữ dân gian mới đang lưu truyền mà tôi nghe được:
"Đảng chỉ tay, Quốc hội giơ tay, Mặt trận vỗ tay, Chính phủ ra tay, Doanh nghiệp nhà nước ngửa tay, Công ty hữu hạn ngoặc tay, Công an còng tay, Tội phạm bắt tay, Báo chí chùn tay, Trí thức phẩy tay, Đồng đội cụt tay, Quan chức đầy tay, Dân trắng tay".
(Xin ghi chú ngay: tôi hiểu chữ Đảng trong câu thành ngữ trên không phải là toàn Đảng mà chỉ là một thiểu số quyền lực trong Đảng được đưa lên theo cách “công tác cán bộ vẫn do một người hoặc một nhóm người quyết định” như nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn phơi bày).
Đó là hậu quả kết đọng đau đớn của tình trạng tự diễn biến bên trong và diễn biến từ bên ngoài.
Tình hình là như thế, theo sự quan sát và nhận thức của tôi. Tôi rất mong có một cuộc thảo luận bình đẳng, công khai và thẳng thắn để nhận được sự chỉ bảo xem nhận định của tôi có chỗ nào quá mức, chỗ nào chưa đúng mức so với thực tế.
Từ những nhận định về tình hình như đã trình bày, xin nêu mấy ý kiến về nhiệm vụ (đây chỉ là mấy ý kiến sơ bộ phác ra, tôi sẽ tiếp tục suy nghĩ và trình bày thêm sau, mong sớm có một cuộc thảo luận rộng rãi trong toàn Đảng toàn dân, chắc chắn sẽ xuất hiện vô vàn sáng kiến đóng góp cho công việc chung):
1/- Trong nhiệm vụ chống diễn biến hòa bình, phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc, phải chống triệt để, thường xuyên và lâu dài trên tất cả mọi mặt nhưng trước hết phải tập trung chống thủ đoạn chiến lược diễn biến hòa bình thông qua mối quan hệ giữa hai Đảng cầm quyền.
2/- Vận động toàn Đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo Đảng phải tiến hành ngay việc xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ giữa Đảng ta và đảng Cộng sản Trung Quốc (theo tôi, thực tế lịch sử đã cho thấy đó là mối quan hệ giúp một hại mười, sự giúp đỡ là của nhân dân Trung Quốc, chúng ta đời đời ghi ơn, nhưng thế lực bành trướng luôn lợi dụng sự giúp đỡ đó để thực hiện mưu đồ bành trướng). Trong khi chờ đợi cơ quan lãnh đạo bắt tay vào việc thì toàn Đảng toàn dân phát huy tinh thần làm chủ, tích cực chủ động tiến hành xem xét lại mối quan hệ đó, đặc biệt là các bậc lão thành, các nhân chứng lịch sử cần nghiêm túc chấp hành chủ trương “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng khởi xướng từ đại hội 6, nói cho toàn Đảng toàn dân biết những sự thật bấy lâu bị bưng bít như lão thành cách mạng Hoàng Tùng đã nói (nhưng cũng chỉ mới nói được một phần nhỏ).
3/- Vận động toàn Đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo Đảng tiến hành rà soát lại công tác tổ chức công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ từ sau cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đến nay, tập trung làm rõ những sai lầm chiến lược đã dẫn đến chỗ Đảng rơi vào tình trạng tự làm sa sút, làm mất dần và có nguy cơ mất hẳn tư cách một Đảng yêu nước, vì dân.
Trên cơ sở đó mà tiến hành chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác tổ chức, công tác cán bộ theo đúng tiêu chí TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT. Trước mắt vận động thực hiện nguyên tắc mà các nguyên tổng bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu đã nêu: không nhất thiết phải là đảng viên mới được làm bộ trưởng, theo đó có thể tiến hành thực hiện lựa chọn người gánh vác việc dân việc nước chỉ căn cứ vào đức tài bất kể những người đó c�� là đảng viên hay không, làm được như vậy chắc chắn rằng những phần tử cơ hội chui vào Đảng để làm quan sẽ sớm tự động bỏ Đảng, việc chỉnh đốn Đảng sẽ sớm đạt hiệu quả cao.
4/- Vận động toàn Đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo Đảng tiến hành xác định lại tính chất của Đảng, chuyển từ Đảng của giai cấp thành Đảng của dân tộc – Đảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và đạo đức từ mọi giai cấp và tầng lớp của dân tộc, chỉ có như thế Đảng mới xứng đáng với vị trí cầm ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc. Trước mắt cần:
- Tổ chức học tập trong toàn Đảng “tự xem lại mình” về thái độ yêu nước thụ động rất xa lạ với truyền thống dân tộc làm sa sút nghiêm trọng tư cách yêu nước của Đảng, đồng thời làm rõ trách nhiệm cá nhân về chủ trương đàn áp những người biểu thị lòng yêu nước trên đường phố vừa qua, trả tự do ngay cho những người đang bị giam cầm.
- Vận động toàn Đảng toàn dân đề nghị không nên treo cờ Đảng ngang với cờ Tổ Quốc vì trái với khẩu hiệu TÔ QUỐC TRÊN HẾT mà Hồ chủ tịch đã nêu ra từ Cách mạng Tháng Tám 1945.
- Vận động toàn Đảng toàn dân đề nghị giữ đúng lời thề của lực lượng vũ trang nhân dân mà Hồ chủ tịch đã nêu “Trung với nước, hiếu với dân”, không nên tùy tiện thêm mệnh đề “Trung với Đảng” vì như thế binh sĩ sẽ mất tinh thần chiến đấu khi nhìn vào tình trạng Đảng đang sa sút tư cách yêu nước, tình trạng chạy chức chạy quyền diễn ra phổ biến trong Đảng, công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng vũ trang sẽ bế tắc, và chung cục sẽ rơi vào bẫy của chủ nghĩa Mao, những thế lực thẻ-đỏ-tim-đen nhân danh Đảng nắm quân đội sẽ thực hiện mưu đồ chính quyền trên đầu súng, súng chỉ huy Đảng. Trong khi chờ đợi sự thay đổi ở cấp vĩ mô thì toàn Đảng toàn dân tích cực chủ động vận động giáo dục thanh niên Việt Nam nắm vững quyên công dân, mỗi thanh niên làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ trật tự trị an cho đời sống nhân dân hoàn toàn có quyền chỉ hô “Trung với nước, hiếu với dân”, và người nào thực lòng không thuận với sự thêm thắt mấy tiếng “trung với Đảng”, người ấy hoàn toàn có quyền nói thẳng với cấp trên rằng nếu ép buộc phải hô cả mấy tiếng ấy thì đó chỉ là hô gượng gạo ngoài miệng mà thôi.
5/- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, làm cho toàn Đảng toàn dân, các thế hệ hôm nay và mai sau, ý thức sâu sắc về mối họa bành trướng, về nhiệm vụ chống chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc. Cụ thể là:
- Sớm biên sọan để đưa vào sách giáo khoa các cấp bài học về địa lý, lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa - những phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước Việt Nam mà tổ tiên để lại cho con cháu có nhiệm vụ gìn gữ hiện đang bị Trung Quốc xâm chiếm.
- Các báo đài sớm công bố các hiệp định về ranh giới trên đất liền và trên biển (có kèm bản đồ cụ thể) giữa nước ta và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời mở mục thường xuyên về đề tài chống bành trướng, giữ nước, vận động toàn Đảng toàn dân tham gia viết bài, trước mắt đề nghị Quốc Hội, Chính phủ cần có các tuyên bố ngang cấp với các tuyên bố của Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa Trường Sa.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về vấn đề chống bành trướng, về chiến lược chiến thuật ứng xử trong quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc, giải quyết tốt quan hệ giữa thái độ cương nhu trên bàn đàm phán với việc biểu thị lòng yêu nước của toàn Đảng toàn dân, chú ý phê phán lập luận ngụy biện nhân danh sự mềm dẻo trong đối ngoại để che dấu thái độ bạc nhược chư hầu làm suy yếu sức mạnh nghìn đời của dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại mà vị trí mới của Việt Nam trên trường quốc tế là nhân tố rất quan trọng. Trước mắt cần cho công bố ngay những công trình đã có và tái bản những gì đã được xuất bản trước đây về đề tài này. Biên soạn những cuốn sách mỏng về Hoàng Sa Trường Sa phát hành đến tận thôn cùng xóm vắng và dịch ra tiếng Trung Quốc để nhân dân Trung Quốc biết rõ thực chất tình hình.
- Đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác về đề tài cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến đấu giúp nước bạn Cam-pu-chia chống bọn diệt chủng Pôn-pốt tay sai của thế lực bành trướng, cuộc chiến đấu chống bọn bành trướng Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974, xâm lấn các tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979, một số đảo ở Trường Sa năm 1988. Cần chú ý có những bài thơ, bài hát về Hoàng Sa Trường Sa cho thiếu nhi từ tuổi mẫu giáo trở lên.
- Biểu dương những cá nhân và tổ chức có thái độ tích cực chủ động trong việc biểu thị tinh thần giữ nước, chống bành trướng, đặc biệt chú ý biểu dương Đoàn luật sư TP HCM đã chủ động ra tuyên bố chính thức khẳng định chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với sự biểu quyết nhất trí của hàng ngàn thành viên, phát động các hội đoàn trong cả nước học tập tinh thần và phương pháp công tác của Đoàn luật sư TP HCM.
Chung qui lại, công việc chống “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc phải do toàn Đảng toàn dân thực hiện theo đúng nguyên tắc tư tưởng Hồ Chí Minh TỔ QUỐC TRÊN HẾT, QUYỀN DÂN TRÊN HẾT, nghĩa là tất cả những người Việt Nam yêu nước phải kiên quyết nắm lấy quyền làm chủ của mình, đảng viên làm chủ Đảng, công dân làm chủ các hội đoàn mà mình tham gia, trước hết phải kiên quyết và sáng suốt làm chủ diễn đàn, làm chủ từng lời phát biểu, làm chủ từng lá phiếu để giành lại quyền làm chủ công tác cán bộ từ tay “một người hoặc một nhóm người” về tay toàn Đảng toàn dân; làm chủ là lẽ sống, là nếp sống, là niềm vui sống hàng ngày của mỗi con người, của mọi người.


Đà Lạt 30.12.2008

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 150


                                                (tiếp theo)





                                         (tiếp theo)

Tất cả như cuốn phim  quay lại trong ký ức ông Sáu Thượng. Oi chao ôi , sao có những chuyện tưởng đã vĩnh viễn quên lãng, vậy mà bỗng dưng như dòng nước lũ cuồn cuộn từ đâu đó đổ về. Ong như nhìn thấy lại cả nụ cười , ánh mắt, giọng nói đầy nhõng nhẽo của bé Thật mấy năm trước. Sau cái buổi kinh hoàng, “đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” lôi sềnh sệch cô bé ra khỏi phóng mặc cô thất thanh gọi tên ông, ông cố xoá đi mọi hình ảnh gợi đến “những ngày vui ngắn chẳng tày gang” giữa ông và cô . Nói gì thì nói, cô đã mang cho ông những giây phút tuyệt vời, không những chỉ khoái lạc trên một thân thể trẻ trung, mà còn sự thư giãn tuyệt vời sau những căng thẳng đầu óc trong những buổi họp đặc sệt chính trị,
Đôi khi ông nhói lòng nghĩ tới hòn máu của ông trong bụng cô. Ong không hy vọng gì nó sống sót để trở thành hình hài một con người. Không, không đời nào mụ vợ ông chấp nhận chuyện đó, chắc chắn mụ đã xoá bỏ nó đi để tránh rắc rối về sau. Ngay tới bản thân cô bé, ông cũng còn lo không hiểu vợ ông cho cho phép cô ta sống sót hay  đã ngấm ngầm thủ tiêu .
Ong cứ nằm nghĩ ngợi ngủ thiếp lúc nào không biết. Đúng vào lúc ông bắt đầu ngáy khò khò có tiếng gõ cửa làm ông giật mình choàng tỉnh . Ong liếc nhìn đồng hồ treo tường. Đã 7 giờ tối . Tivi bắt đầu thời sự trong ngày. Ong nhớ ngay đến công việc. Chắc thằng thư ký đã về tới và đưa ông đi gặp Bí thư bàn việc chặn bài báo.
Ong vội nhảy xuống đất. Bật đèn và lò dò ra mở cửa . Bất ngờ ông lùi trở lại. Trước mắt ông không phải là gã thư ký mà là cô nhân viên tiếp tân nhìn ông cười cười với ánh mắt rất lạ :
“ Anh…anh có thấy trong người nhức mỏi không ?’
Ong Sáu Thượng ngớ người :
“ Có thì sao hả cô ?”
Cô tiếp tân nháy mắt :
“ Vậy để em gọi người tẩm quất cho anh.”
Ong Sáu Thượng  giãy nảy :
“ Í thôi thôi…tôi là cán bộ Nhà nước đi công tác…ai lại làm cái trò đồi truỵ đó…”
Cô tiếp tân lắc quày quạy :
“ í không không….cái này gọi là vật lý trị liệu mà….lành mạnh lắm…”
Ong Sáu Thượng đẩy cô ra :
“ Lại tắm hơi, mát xa chứ gì…thôi thôi…tôi còn lạ gì ba trò đó…”
Cô tiếp tân vẫn kiên trì :
“ Không không …không tắm hơi mát xa gì …đây là nhân viên tẩm quất làm ngay tại phòng ….Đây là dịch vụ nằm trong giấy phép kinh doanh của khách sạn mà…”
Ong Sáu Thượng từ chiều vẫn thấy đau hết cả mình mẩy, giờ có nhân viên tẩm quát đấm lưng cho thì cũng tốt, ông chặc lưỡi :
“ Thôi được rồi…bảo họ lên đây…”
Cô tiếp tân mừng rỡ :
“ Vậy thì anh mua vé đi…”
“ Chuyện nhỏ….”
Ong Sáu Thượng rút ra tờ năm trăm ngàn nhận về tờ tích kê bé xíu. Trước khi quay lưng đi, cô ta dặn với :
“ Anh cứ nằm đợi nhé…chậm lắm 15 phút nữa có nhân viên tẩm quất … nhớ tiền “bo” cho cô ta nhé…”
Ong Sáu Thượng  cau mặt :
“ Đã tiền mua vé rồi còn tiền bo ? Bao nhiêu ?”
“ Thì tuỳ hảo tâm…nom cán bộ cao cấp như anh hai ít cũng phải hai trăm ngàn chớ…”
Ong Sáu Thượng giật mình. Sao nó biết mình là cán bộ cao cấp ? Ay chết , không khéo nó biết rõ về mình nên nó gài bẫy cũng nên. Thôi thôi bỏ qua vụ này . Thà mất không tiền  còn hơn rơi vào bẫy . Nghĩ vậy  ông lên giường nằm nghỉ chờ thằng Thư Ký về , nhất định không xớ rớ vào cái vụ “vật lý trị liệu” này . Ngộ nhỡ trong lúc tẩm quất , nó truồng đại hết cả ra rồi cứ ghì chặt lấy  mình, rồi máy quay phim giấu ở đâu đó cứ tha hồ quay thì chết mình. Xưa nay khối đồng chí cao cấp bị gái đẹp dụ cho hưởng thoải mái mà đâu có biết mình đang bị quay phim bí mật. Sau này có chuyện gì cần ép buộc hoặc tuân theo quan điểm của nó, hoặc ký giấy cho nó , nó mới đưa cuộn băng ghi hình ra , thế là đồng chí đó khác gì bị nó kê súng vào lưng, nó bảo gì chẳng phải nghe.
Ong Sáu Thượng nghĩ vậy liền xé nát cái vé, cho vào bàn cầu giật nước cho trôi đi. Thôi thế là xong, lát nữa có đứa con gái nào tới đây đòi tẩm quất thì cứ việc đuổi nó đi là ổn chuyện. Cho cái thằng  giấu mặt định gài bẫy chơi ông tức điên luôn.
Ong trở lại giường nằm vừa thiu thiu ngủ chợt lại có chuông gọi cửa. Chắc là con nhân viên tẩm quất đây, phải đuổi nó đi và biết đâu cũng có thể là thằng Thư Ký đã ở dưới huyện về cũng nên. Ong còn đang quơ chân tìm dép, tiếng chuông gọi lại vang lên giục giã . Ông bực mình quát lên :
“ Chờ chút đi…việc gì mà giục rối lên vậy ?”
Nói rồi ông loẹt quẹt đôi dép ra mở cửa. Thế rồi cái người đứng trước mặt ông không phải gã Thư Ký mà là một cô con gái nom quen quen.
“ Thưa anh…em lên tẩm quất cho anh ạ…”
Ong bỗng trợn tròn cả hai mắt, đứng ngây cả người như  trời trồng . Trời ơi, liệu có thể thế được  sao , vừa mới chiều nay coi tivi chương trình thời sự tỉnh miền núi, ông bồi hồi nhớ đến nó mà thật không ngờ như có phép lạ của Thượng  Đế, lúc này nó đang lù lù đứng trước ông. Cô gái thấy ông già cứ đứng mãi liền gạt ông ra bước sấn vào  phòng. Lúc này đèn trong phòng sáng loà, soi rõ bộ mặt bầu  bầu với đôi  mắt  lá răm, cái miệng chúm chím quen thuộc. Ong la lên lắp bắp :
“ Thật…ối  trời ôi…Thật đấy ư ?”
Cô gái cũng ngạc nhiên không kém, cô trợn tròn cả mắt nhìn ông khách già đứng trước mặt cô. Rồi bất ngờ ông ôm lấy cô rền rĩ :
“ Thật ơi…anh đây này…em còn nhớ anh không ?”
Cô bé dường như đã nhận ra ông, cô đẩy bật ông, căm tức :
“ Ong đấy ư  ? Ra ông vẫn còn nhớ tôi ?”
Ong Sáu Thượng rên rỉ :
“ Nhớ chứ ? Hồi chiều coi tivi đưa tin tỉnh nhà anh nhớ em thắt ruột thắt gan  …”
Cô Thật nhìn ông khinh bỉ :
“Ong nhớ tôi thắt ruột thắt gan mà hồi đó ông để yên cho con quỷ cái đó xé xác tôi…”
Ong Sáu Thượng nài nỉ :
“ Anh xin lỗi…anh xin lỗi em…nào anh có muốn thế đâu…ngặt vì thế lực của con mụ đó lớn quá…anh rất muốn cứu em nhưng đành bất lực…”
Nói rồi ông nhìn cô chằm chằm như muốn nuốt hết hình ảnh cô . Chao ôi mới qua có mấy năm mà nom cô đã khác  nhiều quá. Vẻ gian truân , khắc khổ đã hằn sâu nơi đuôi mắt. Nom cô già đi hàng chục tuổi. Vẻ non tơ ngày  trước đã biến đâu mất. Nom cô bây giờ rõ ra là một gái làng chơi thập thành. Lỗi ở ông, tất cả là lỗi ở ông . Ong mếu máo :
“ Tha thứ cho anh…để em đến nông nỗi này tất cả là do lỗi ở anh…”
Mắt cô gái chợt long lên dữ tợn :
“ Tha thứ cho ông à ? Không bao giờ ? Ông có biết mấy năm qua  ông đã gây ra cho tôi và cho bố mẹ tôi những gì ông biết không ?  Ong có biết tội lỗi của ông lớn tới mức nào mà ông đòi tha thứ ?”
Ong Sáu Thượng  giọng khổ sở :
“ Oi trời  ôi…anh làm sao biết được những chuyện đó ? Sao không báo tin cho anh ?”
“ Báo tin cho ông hả ? Ong ở trên trời cao , còn tôi dưới đất đen làm sao tôi với lên được. Vả lại báo tin cho ông để nó giết tôi à ? Ong có biết nó đã hành hạ tôi thế nào không ? Suốt mấy năm trời sống dở chết dở, tôi muốn chết mà nó  không cho tôi chết. Nó bắt tôi sống để cho nó trả thù tội quyến rũ chồng nó. Mà tôi đâu có quyến rũ, chính ông đã đặt bẫy tôi chớ…” 
Ngoài cả sức tưởng tượng của ông, cái cô sơn nữ be bé xinh xinh, ngây thơ, chất phác ngày trước, giờ đã biến thành một gái làng chơi đầy hận thù sẵn sàng đâm chém kẻ đã gây nên bất hạnh cho cô. Mắt cô lại long lên sòng sọc :
“ Khốn nạn nhất là nó đẩy tôi vào tay bọn buôn người bán tôi sang Trung Quốc. Hơn một năm trời sống trong cái địa ngục đó tôi mới liều mạng trốn trở về. Cũng may trời còn thương nên mới thoát chết, sống sót tới ngày hôm nay…”
Ong chợt thấy hồi hộp đến kỳ lạ. Ong nóng lòng muốn hỏi cô ngay về giọt máu của ông trong bụng cô nhưng rồi sợ cô nổi giận lên không biết chuyện gì sẽ xảy  ra nên  không dám hỏi . Cô vẫn tiếp tục buông ra những lời đầy thù hận :
“ Tôi căm thù nó, con vợ khốn nạn của ông ấy. Tôi cầu mong cho nó chết đường chết chợ, cầu mong cho nó ăn không ngon ngủ không yên, cầu mong cho nó mang bệnh hiểm nghèo , cầu mong cho nó SIDA, ung thư chết dần chết mòn, chết ngắc chết ngoải , chết không nhắm mắt, chết trong đau đớn dằn vật…
Cô gái mỗi lúc một hung hãn cứ bước tới, bước tới làm ông Sáu Thượng phát hoảng :
“ Bình tĩnh…em bình tình lại đi…anh đây chứ có phải con mụ vợ anh đâu mà em căm thù vậy….bình tĩnh…bình tĩnh…tỉnh táo lại đi…căm thù có ích gì đâu ? ”
Cô Thật vẫn rền rĩ :
‘ Ông bảo tôi không căm thù nó hả . Nó hành hạ tôi như vậy, nó phá tan gia đình tôi. Bố mẹ tôi cũng vì tôi mà buồn phiền ốm đau rồi chết. Các em tôi phải bỏ quê mà đi ăn mày kiếm sống…Trời đất ơi…tội ác của nó trời không dung đất không tha ông lại bảo tôi không nên căm thù nó hả ?”
Ong Sáu Thượng nhẹ nhàng :
“ Nhưng mà thế lực nó lớn lắm. Sau lưng nó là cả một bộ máy chuyên chính sẵn sàng nghiền nát bất cứ kẻ nào dám chống lại nó. Nó là một thứ quyền lực trong bóng tối. Nó ghê gớm lắm. Ở cái nước này ai cũng sợ nó. Đến anh thuộc hàng ngũ cán bộ cao cấp mà nếu muốn nó chỉ đập cái là anh chết tươi. Không một ai dám chống lại nó đâu. Chống lại nó đồng nghĩa với ký vào bản án tử hình. Bởi vậy em đừng trách móc anh. Phận số mình đã như thế mình đành phải chịu thôi. Lúc đó anh có muốn cưu mang, giúp đỡ em, cứu em ra khỏi móng vuốt của nó , anh cũng đành chịu bó tay thôi. Mình chưa làm gì được nó, nó đã diệt mình rồi. Ơ cái nước mình là như vậy. Đến cả anh cũng đành cam chịu. Huống hồ em so với thế lực của nó chỉ là con muỗi, chống lại nó sao được ? Bởi vậy dù em có căm thù nó muốn phanh thây uống máu nó thì em chỉ bị thiệt thân thôi chứ tuyệt đối không làm được gì nó đâu ?”
Cô gái im bặt, nhìn chằm chằm vào mặt ông. Cái nhìn của cô đã bớt đi nhiều  ngọn lửa hận thù . Chỉ còn lại vẻ dửng dưng, xa lạ và một vẻ gì gần như là khinh bỉ. Ong Sáu Thượng nhẹ nhàng ôm cô vào lòng, vuốt ve mái tóc của cô và thực sự trong lòng ông dâng lên một nỗi thương xót. Ong ngập ngừng :
“ Thế còn…thế còn…cái…cái…”
Ong lắp bắp, không dám hỏi tiếp. Cô ngước mắt nhìn ông, dịu giọng :
“ Ong hỏi cái gì kìa ?”
Ong hồi hộp :
“ Anh muốn biết…cái…cái thai trong bụng em hồi đó ra sao rồi ?”
Cô bỗng đẩy bật ông ra, trở lại hung dữ như lúc trước :
“ Ong còn dám hỏi tới chuyện đó hả ? Ong đối xử với tôi như vậy mà ông còn muốn tôi đẻ con cho ông hay sao ?”
Ong Sáu Thượng đấu dịu :
“ Thì anh cũng muốn biết số phận con anh ra sao ? Nếu trời thương anh có một đứa con thì anh ơn em biết bao nhiêu …”
Cô bỗng ôm mặt khóc rưng rức làm ông tê tái cả người. Ong hiểu như vậy là mọi  chuyện đã hỏng hết rồi. Cô gái vừa khóc vừa nói tức tưởi :
“ Ngay hôm đầu nó đã cho mấy thằng đó xông vào hãm hiếp tập thể rồi đánh truỵ thai tôi rồi. Lúc đó tôi còn thấy nó đứng coi, miệng cứ luôn luôn :” sướng chưa ? mày sướng chưa con ? Thật bõ cái lúc mày ngủ với chồng tao …”
Cô gái vùng đứng dậy, ngọn lửa căm thù lại ngùn ngụt bốc lên trong cô :
“ Tôi phải trả thù..tôi phải băm vằm nó ra thành trăm mảnh mới trả được mối thù nó đã gây ra cho tôi. Hiện giờ nó ở đâu ? Đi đi…ông phải dẫn tôi tới chỗ nó để tôi băm vằm mổ xẻ nó…”
Ong Sáu Thượng cuống quít :
“ Kìa em..bình tĩnh…bình tĩnh lại đi…em đừng nổi xung lên như vậy hại cho sức khoẻ lắm…”
Cô gái vẫn cất giọng chửi bới :
“ Tiên nhân cha con mụ vợ nhà ông. Nó đã đày đoạ tấm thân tôi, nó đã giết con tôi, nó giết cả gia đình tôi…tôi thề không tha cho nó…dù nó có cả cái trung ương đảng này bao che…tôi cũng băm vằm mổ xẻ nó ra để làm mắm may ra mới hả cái dạ tôi…”

                           (còn tiếp)