Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 67 - ĐẤU TỐ TRỞ LẠI - KỲ 10




  Lại cấm viết  cải cách ruộng đất.
                                                                                  
Hai mươi năm sau ngày ông Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh ký lệnh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ xem ra 700 ông bà hội viên Hội nhà văn Việt Nam không cảm thấy dễ thở hơn bao nhiêu, nhất trong việc xin “giấy khai sinh” cho đứa con tinh thần của mình. Trong khi những tác phẩm “tào lao” : chuyện yêu đương nhí nhố, chuyện phòng the,  chuyện nịnh Đảng .. dễ dàng ra mắt độc giả để tạo nên cả một nền “giả văn chương”  thì những tác phẩm có đôi chút hiện thực, gói ghém được phần nào sự thực của đời sống thì hoặc bị cấm ngay từ trước khi in, hoặc in rồi bị xay ra thành bột giấy, hoặc phát hành rồi ra lệnh thu hồi hoặc cấm tuyên truyền. “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, “Cọng rêu dưới đáy áo” của Võ Văn Trực, “Hậu Chí Phèo” của Phạm Thành, thơ Trần Dần ….và sau đó là  tiểu thuyết “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng viết về đề tài cải cách ruộng đất .

            Nước mắt một thời bao giờ lau khô ?


NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM KHÔNG NÊN “ĐÁNH BÀI LỜ” TRƯỚC YÊU CẦU CHÍNH ĐÁNG CHO MỘT TÁC PHẨM RA ĐỜI !

Tôi là Nguyễn Khoa Đăng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nghỉ hưu tại 19/39 đường Thống Nhất Phường 16, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh, xin kêu cứu để được đáp ứng một yêu cầu trong việc xuất bản sách. 
Vừa qua, tôi có viết được một cuốn tiểu thuyết- tự truyện, nhan đề là “Nước mắt một thời”, kể về sự phấn đấu đến kiệt lực để hoàn thiện nhân cách cuả một thanh niên mà ngay từ 15 tuổi đã bị gạt ra ngoài lề cuộc sống chính trị như không được tham dự các buổi mít tinh, không được vào đoàn thanh niên, không được vào đại học. Tất cả đều chỉ vì  cái thành phần gia đình anh ta bị quy buộc, thứ “địa chủ” mà số ruộng đất hạn hẹp không quá 3 héc ta, được gây dựng bằng mồ hôi cuả bà mẹ, thời nhỏ từng đi ở đợ, lớn lên quanh năm đầu tắt mặt tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, còn ông bố thì hết làm phu đồn điền cao su, lại gần như cả đời còng lưng bên chiếc máy khâu cọc cạch, trong khi ông nội thì được nông dân một làng ven biển nhớ ơn tôn làm thành hoàng và lập đền thờ.
  Điều đáng nói là mặc dù bị đối xử nghiệt ngã như thế nhưng nhân vật này  vẫn một lòng phấn  đấu để trở thành một nhà văn.  Có nhiều nguyên nhân để người thanh niên này hoàn thiện nhân cách cuả mình, trong đó không thể không kể đến nguyên nhân khởi đầu từ một bức ảnh chụp cảnh “Bác Hồ” đặt tay lên vai hai em thiếu nhi với dòng chữ chú thích phơi phới một niềm tin “Có Bác dẫn đường, chúng cháu tin tưởng ở tương lai tươi sáng” mà anh ta được nhìn thấy trong thời khắc đen tối nhất cuả đời mình.
  Ngay sau khi tập bản thảo hoàn thành, nghĩ cuốn sách cuả mình không vi phạm luật xuất bản, tôi mạnh dạn gửi bản thảo đến lần lượt từng nhà xuất bản.
Đầu tiên, là nhà Xuất bản Hội Nhà văn, cơ quan cuả Hội mà tôi là Hội viên. Người trực tiếp nhận bản thảo và biên tập là nhà thơ Ý Nhi, trưởng cơ quan đại diện cuả NXB tại TP Hồ Chí Minh. Sau một thời gian chờ đợi, tôi đã được nhà thơ cho biết cuốn sách cuả tôi không được nhà văn Nguyễn Phan Hách, giám đốc NXB chấp nhận. (Xin lưu ý, tất cả chỉ là nói miệng, không hề có văn bản trả lời).
Tiếp đến, là NXB Văn học. Nhà văn Triệu Xuân nhận bản thảo và biên tập. Sau khi đọc xong, anh tỏ ra rất nhiệt tình với tác phẩm cuả tôi, động viên tôi bằng một câu mà nếu nói ra chắc tôi sẽ bị cho là tự đánh bóng mình nên tôi không muốn nhắc lại.  Song, ít lâu sau thì lại chính anh Triệu Xuân trả lời: Ông Nguyễn Văn Lưu, giám đốc NXB không chấp nhận (vẫn chỉ là nói miệng)
Không nản chí, tôi gửi đến NXB Trẻ. Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu nhận bản thảo nhưng sau đo lại cho rơi vào quên lãng, không trả lời.
Vẫn kiên trì, tôi gửi đến NXB Văn hoá Sài Gòn. Nhà văn Trúc Phương, Tổng Biên tập, trực tiếp đọc cuốn sách. Nhà văn đã nhận xét rất tốt về tập bản thảo của tôi, hồ hởi bảo tôi nên kiếm một đạo diễn giỏi, người Bắc, để chuyển thành phim, một bộ phim mà ông tin rằng sẽ có tiếng vang. Ông còn nói một câu, nếu tôi nghe không lầm thì là: “Những người cách mạng chân chính nên đọc cuốn sách này”. Vậy mà, sau đó bản thảo lại bị Ban giám đốc từ chối (vẫn không có văn bản).
Tôi vẫn không nản chí, lại gửi bản thảo đến  Công ty Cadasa, nơi thường liên kết với các nhà xuất bản in sách. Sau khi xin giấy phép ở một số NXB nữa, không được, họ đã đưa bản thảo của tôi đến NXB Công An Nhân dân, cơ quan đại diện phía Nam. Nhà thơ Phan Trung Thành là người trực tiếp biên tập cuốn sách này. Lần này rất may là bản thảo đã được chấp nhận và được Cục Xuất bản cấp giấy phép. Cuốn sách sẽ được in theo phương thức liên kết giữa tác giả và Nhà Xuất bản. Hôm sau, nhà văn Phùng Thiên Tân, Tổng biên tập cho gọi tôi đến báo tin NXB sẽ đứng ra in cuốn sách này, không cần phải liên kết. Tôi rất vui chờ ngày cuốn sách được ra đời sau bao ngày tháng lăn lộn hết NXB này đến NXB khác. Sau đó, không hiểu vì lý do gì, anh Thành lại bảo tôi photo bản thảo đã được Nhà văn Phùng Thiên Tân trực tiếp biên tập lần cuối, thành 3 tập, để NXB gửi ra Hà Nội xin thêm ý kiến các anh Đào Duy Quát, phó Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương, Đỗ Kim Cuông, Vụ trưởng Vụ văn nghệ…Tôi đoán bản thảo cuả tôi lại gặp phải trục trặc gì đó. Tôi còn được biết, cùng với bản thảo, anh Phùng Thiên Tân còn gửi kèm theo hai lá thư (đề ngày 18.10.2007) cho anh Quát và anh Cuông với lời lẽ rất tha thiết. Mạn phép anh Tân, tôi xin được trích một đoạn trong bức thư của anh: “Tôi và anh Đăng quen biết nhau đã lâu, đọc cuả anh ấy vài cái rồi, nhưng đến cái này tôi rất tâm đắc, thấy bạn mình viết hay hơn, tâm huyết hơn, nhưng vì câu chuyện có liên quan đến cải cách ruộng đất, một đề tài rất nhạy cảm.
Tôi đã trực tiếp biên tập từng câu chữ, tất thảy 3 lần rồi, chúng tôi xác định, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng có cái nhìn khách quan và nhân bản về thời khắc lịch sử đau lòng ấy, không hề có những câu chữ hằn học, bôi bác như một vài nhà văn khác đã viết về đề tài này.”
Dù biết bản thảo của tôi đến đây không xuôi chèo mát mái rồi nhưng tôi vẫn không hết hy vọng, vẫn ước mong nó được xuất bản. Tôi cứ nghĩ mong ước này là chỉ cuả riêng tôi. Nào ngờ, các anh ở NXB cũng có tâm trạng ấy. Một hôm tôi đến NXB thì được anh Thành cho biết tại buổi họp giao ban sáng nay, anh Phùng Thiên Tân có kể lại giấc mơ anh gặp đêm trước. Anh đã mơ thấy cuốn sách của tôi được cấp trên cho xuất bản. Nghe lại câu chuyện, tôi cảm động đến ứa nước mắt. Sao lại có một ông phụ trách xuất bản tâm huyết nhiệt tình với tác phẩm của cộng tác viên đến thế.
Từ đó, tôi càng hy vọng hơn. Nhưng cho đến nay thì sự hy vọng cuả tôi có phần nào hơi bị lung lay. Vì đến nay số phận bản thảo cuốn sách cuả tôi vẫn chưa được định đoạt, mặc dù đã nửa năm trôi qua, đã quá thời hạn do Luật xuất bản quy định.
Điều tôi muốn nói ở đây là cho đến giờ, tôi vẫn không hề nhận được một văn bản trả lời của các NXB (Ngoại trừ NXB CAND) về lý do tại sao không cho in sách cuả tôi. Tất cả chỉ là trả lời bằng miệng, trong khi chúng ta đang hô hào cải cách hành chính, hô hào “sống và làm theo pháp luật”.
Chẳng lẽ với những cơ quan xuất bản từng in ra các sản phẩm văn hoá, luật pháp mà lại hành xử như thế ?
Vì những lẽ đó, tôi xin gửi bức xúc này đến các quý vị, hy vọng sẽ được đồng cảm, chia sẻ. Xin cảm ơn các quý vị đã đọc hết bức thư này của tôi.                                                          

                                                                    TP. Hồ Chí Minh, 20.1.2008

                                                                        NGUYỄN KHOA ĐĂNG

Ý kiến của bạn bè sau khi đọc bản thảo “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng :

NGUYẼN MINH PHÚC (nhà báo) :
Tôi đọc rất nhiều lần tiểu thuyết Nước mắt một thời. Xúc động bởi cuốn sách viết rất thật, rất người.Hai chi tiết trong sách cứ ám ảnh tôi mãi. Đó là việc anh đau đớn khi đánh con bò vì uất ức và chuyện anh không hái chè vì sợ cây chè đau như mất một cánh tay. Hình như anh đã khuấy động được tâm hồn vốn từ lâu đã chai sạn của tôi. Con người đã yêu thương cỏ cây súc vật đến nhường ấy dứt khoát phải là một con người lương thiện. Biết nói gì và làm gì được cho anh khi cuốn sách không được xuất bản . Nhưng nếu anh đã từng hy vọng trong những lúc cùng khốn nhất của một thời nước mắt thì hãy cứ hy vọng điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Tôi chắc là như vậy và xin được đồng cảm cùng anh .
TRAN :
Đọc NƯỚC MẮT MỘT THỜI, tôi thấy thương cho anh, cho gia đình và cho cả dân tộc. Đọc những gì anh viết tôi thấy anh là một người nhân hậu ,nhiều đoạn tôi rất thích.Nhưng tôi cảm động là đoạn cả gia đình anh ngày ước, đêm mơ,....Sáng mai thức giấc bỗng thấy mình trở thành người nghèo, nghèo rớt mồng tơi. Tôi nghĩ đấy là một kiệt tác văn học nên đưa vào sách giáo khoa dể hậu thế được biết đến bối cảnh đau thương của dân tộc. Vì sao đến bây giờ cuốn sách vẫn chưa được xuất bản? Như thế đâu phải là NƯỚC MĂT MỘT THỜI mà nước mắt vẫn còn mãi mãi phải không anh...?

   

PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 26



  

                                      (tiếp theo)

Rõ ràng, cơn mưa đột ngột đã vô tình giúp cho cá lớn thoát tay hải tặc và việc đàn em Tám Kiệt bỏ quên túi vũ khí cũng một điều may cho cá lớn cũng như cho cả hai con tàu Thái. Hai phía đã tránh được một đối đầu tàn khốc. Ai nấy đồng ý thêm một điều giúp cá lớn chạy thoát là có máy ghe quá tốt. Từ lúc khởi hành tới giờ chỉ ngưng máy một lần ngắn ngủi, thời gian còn lại chạy suốt mà tiếng nổ vẫn dòn vẫn êm. Tài công Thuận tỉnh dậy đã vào thay cho Tám Kiệt đi nghỉ. Trời bắt đầu về chiều, gió thổi mạnh làm mặt nước biển sao động thành những cơn sóng. Mỗi khi chiều xuống, mặt trời vừa tắt bóng thì gió biển bắt đầu thổi mạnh liền. Gió thổi càng mạnh, cơn sóng càng lớn thay nhau nhồi lắc thân cá lớn. Những lúc đó, cảm giác say sóng làm cơ thể mệt nhoài trở về với nhiều người trên ghe. Chỉ đến khuya thì trời bớt gió bớt sóng, mọi người khi đó mới dễ chịu hơn và hầu như ai cũng lăn ra ngủ để hồi phục sức lực cho đến lúc bình minh ló dạng. Mặt biển sẽ hoàn toàn êm ả trong ánh nắng ban mai của một ngày mới.

Trời tối dần rồi một đêm êm ả trôi qua, cá lớn vẫn không gặp bất kỳ chiếc tàu chiếc ghe nào khác trên mặt biển bao la. Trưa đứng bóng, Tám Kiệt cùng đám tay chân chụm đầu bàn chuyện riêng mà mặt cả đám lộ vẻ lo âu. Tám Kiệt cùng vài người trong nhóm tác chiến theo ông leo lên nóc buồng lái. Trên mặt ván bằng phẳng, Tám Kiệt trải tấm hải đồ khu vực biển tiếp giáp giữa vùng cực nam Việt Nam với nam Thái Lan và Malaysia rồi y nói với những người chúng tôi vây chung quanh:

- Ghe chúng ta đã đi lạc, tui nghĩ chắc chắn vậy. Bây giờ thực sự tụi tui không biết phải làm sao vì nếu cứ chạy ghe lòng vòng mãi rồi sẽ đến lúc hết dầu, mong các anh em góp ý cho đám tổ chức tụi tui.

Tám Kiệt cho biết vì phải đổi hướng chạy liên tục từ lúc gặp tàu hải tặc và sau cơn mưa nên cá lớn đã không theo đúng hải trình như hồi đầu. Nhìn trời bao la không một bóng chim và mầu nước biển xanh đen thẫm, chẳng nói thì ai cũng biết cá lớn hiện đang ở trong vùng biển rất xa với đất liền.

- Lẽ ra theo tính toán thì ghe chúng ta đã phải gặp các dàn khoan dầu Mã Lai từ ngày hôm qua. Chỉ vào tấm hải đồ, Tám Kiệt tiếp: " Tụi tui không biết ghe mình đang ở đâu trong vùng lãnh hải này? Các anh từng ở trong quân đội, thử nghiên cứu xem có cách nào giúp cho cả ghe ".

Cá lớn tuy có hải bàn, hải đồ và tài công chạy ghe giỏi nhưng đâu phải là hoa tiêu tàu hải quân viễn duyên chuyên nghiệp. Ông tên Hưng, cựu lính trinh sát sư đoàn 7 bộ binh miền Nam VNCH nhìn Tám Kiệt và hết thẩy chúng tôi, nói:

- Hồi trước mỗi lần đi công tác trong mật khu Việt Cộng, tụi tui từng dùng địa bàn định phương hướng và vị trí đứng trên mặt đất liên tục để khi xong nhiệm vụ hoặc lỡ khi bị bọn nó phát giác thì gọi trực thăng UH đến bốc cả toán ra khỏi vùng địch ngay. Khi đó thì có mang theo bản đồ với tỷ lệ xích rất rõ nên việc xác định tọa độ không khó. Ngoài địa bàn và bản đồ, tụi tui còn dựa vào mỏm núi hoặc con suối hay cây to trong vùng để biết chính xác vị trí. Còn bây giờ... Người cựu binh ngập ngừng: " Cái này... chắc tui chịu anh Tám à ".

- Tàu hải quân viễn duyên ngoài hải bàn, hải đồ hướng dẫn thì họ còn có các dụng cụ khác như kính lục phân đo chiều cao bóng mặt trời và tầm xa đường chân trời khi muốn biết tàu của họ đang ở toạ độ nào giữa kinh tuyến, vĩ tuyến trên mặt biển. Thêm vào đó, họ còn phải có niên giám hàng hải cập nhật hàng năm để đối chiếu các dịch chuyển của dòng nước biển nữa. Muốn biết chính xác hơn, các sĩ quan hoa tiêu trên tàu còn phải tính toán cả độ dời sóng. Phải dùng compa, thước kẻ đo đạc và tính toán ngay trên hải đồ. Trời! Chuyện này khó lắm các ông. Một người nói giọng miền Bắc khoát tay phân bua.

Thật đúng, biết được chính xác vị trí ghe tàu trên mặt biển bao la đâu phải một chuyện dễ dàng với những người không phải dân hải quân chuyên nghiệp như Tám Kiệt cùng đám đàn em.

Chúng tôi ngó tấm hải đồ rồi nhìn nhau, lắc đầu xác nhận bó tay. Tám Kiệt lập lại nỗi lo của y khi cho biết dầu diesel chạy máy chỉ còn khoảng trăm lít, cá lớn cứ chạy lòng vòng không phương hướng mãi thì rồi sẽ đến lúc cạn dầu phải ngừng và khi đó sẽ phải thả trôi vô định trên biển. Thấy cả bọn chúng tôi không ai góp tiếng, Tám Kiệt bồi tiếp:

- Nước uống trong phi nhựa cũng sắp cạn, đâu ngờ mình lại chạy lạc như vậy. Không có đồ ăn còn cầm cự được vài ngày nhưng cạn nước uống thì sẽ có người chết ngay. Tui lo nhất là mấy đứa trẻ, các anh em không giúp được thì đành trông vào tàu nước ngoài, may ra gặp được. 

Đi vượt biên ai cũng sợ ghe đi lạc ngoài chuyện gặp hải tặc hoặc bão tố, chúng tôi buồn lo vì bó tay không giúp được chuyện Tám Kiệt cần. Tám Kiệt lệnh cho một thanh niên trong nhóm ông ở lại nóc ghe dùng ống nhòm theo dõi mặt biển chung quanh. Xong, ông cùng cả bọn chúng tôi leo xuống trở lại sàn ghe. Cá lớn giờ đây chỉ chạy tốc độ cầm chừng, ai cũng mong gặp được tàu viễn duyên và nếu họ vớt hết người chúng tôi thì quá tốt. Nếu không được như vậy, ít ra cũng sẽ có thêm nước, thực phẩm cùng dầu diesel chạy máy. Ngoài ra, điều quan trọng nhất là chúng tôi sẽ biết vị trí cá lớn ở đâu trên mặt biển và hiện đang cách đất liền bao xa. 

Nắng dịu dần và gió bắt đầu thổi mạnh từng cơn khi trời bắt đầu gần chiều. Chợt anh thanh niên trên nóc ghe thò đầu xuống, thảng thốt báo tin: " Anh Tám ơi! Có tàu lớn phía sau ghe mình, ở hướng 8 giờ đó ".

Tám Kiệt cùng cả bọn chúng tôi vội trèo lên nóc ghe trở lại và lần lượt chuyền tay nhau cái ống nhòm để xem. Một chiếc tàu lớn mầu trắng chạy tuốt đằng xa và chờ khi nó đến khá gần cá lớn thì Tám Kiệt ngồi chồm hổm cúi đầu xuống buồng lái, nói lớn:

- Thuận. Thuận ơi! Tạm ngừng máy đi mậy... thả trôi ghe xem sao.

Chúng tôi đứng hết cả lên, hồi hộp nhìn con tàu lạ càng lúc càng rõ. Nó đang đến gần ghe chúng tôi đây. Một con tàu viễn duyên to như ngôi nhà lớn sơn mầu kem trắng lừng lững lướt qua trong ánh mắt theo dõi, trầm trồ của tất cả người đứng người ngồi trên cá lớn. Nhưng! Suốt dọc theo thân tàu, trên hàng barrie an toàn ở các khoang và cả trong cabin cửa kiếng trong vắt, chúng tôi không thấy một bóng người lai vãng. Con tàu này trông khác với hình ảnh thường thấy ở chỗ nó có bốn cái bồn tròn khổng lồ chiếm hết mặt khoang. Tiếng la tiếng hét cùng những cánh tay vẫy từ người ở nóc ghe, trên mặt sàn... mong có ai đó trên tàu viễn duyên thấy mà ngừng lại nhưng con tàu khổng lồ vẫn êm ả lướt nhanh làm như các hoa tiêu đã xếp đặt máy móc để nó chạy tự động. Chúng tôi tuyệt vọng nhìn vét đuôi con tàu đang dần dần trôi xa. Ai cũng cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì con tàu viễn duyên... vô tình. Một người trong đám tay chân Tám Kiệt bực bội, hỏi đổng :

- Sao nó không ngừng lại ta? Kỳ vậy! Bộ bọn người trên tàu đó đi ngủ hết cả rồi chắc?

- Tàu nước nào mà không thấy treo cờ gì cả, phải chi mình có súng bắn hỏa pháo lên để họ biết. Một người đàn ông bảo.

Con tàu chạy đã thật xa, mọi người trên nóc ghe thất vọng, từ từ ngồi xuống trở lại. Thuận ở dưới buồng lái hỏi vọng lên: " Mình chạy theo đuôi nó hả anh Tám? Em nghĩ cứ bám đằng sau thì thế nào cũng gặp hải cảng hà ".

Ý kiến thật hay! Tám Kiệt đã cố tình cho tắt máy ghe, hy vọng con tàu trông thấy may ra sẽ dừng lại giúp nhưng nó bỏ đi thẳng vậy thì mình phải chạy theo nó. Bám theo, chúng tôi rồi sẽ tìm được đất liền vì tàu hàng viễn duyên nào cũng phải ghé vào một hải cảng. Tám Kiệt gật đầu, trả lời đồng ý. Thuận vừa cho máy ghe nổ ròn rã và chuẩn bị vào số để chạy thì có tiếng nói của ai đó: " Ê! Bà con! Tàu nó quay đầu lại kìa ". Chúng tôi lại nhìn về con tàu viễn duyên đó. Đúng vậy! Nó đánh một vòng cua rồi quay mũi chạy ngược thẳng về phía chúng tôi. Tám Kiệt thấy vậy vội nói lớn:

- Tắt máy đi, nó quay lại kìa. Tắt ngay đi... Thuận.

Tiếng máy của cá lớn lại tắt phụt, chúng tôi hồi hộp nhìn con tàu. Khi chạy đến gần, con tàu kéo một hồi còi rền vang như gửi lời chào rồi nó giảm bớt tốc độ, từ từ đánh một vòng chung quanh cá lớn và sau cùng dừng hẳn lại. Một nhúm 6, 7 người đứng lố nhố bên nhau sát cạnh hàng song sắt barrie gần một cabin cao vút. Một người trong số họ cầm cái loa pin trong tay, nói bằng Anh ngữ vang vang:

- Các bạn biết nói tiếng Anh không?

Tiếng trả lời có thật lớn cùng một lúc vọng vang từ ghe chúng tôi. Người cầm loa tay đó cho biết không thể vớt chúng tôi được vì trên tàu chở hoá chất nguy hiểm nhưng họ sẽ giúp thực phẩm và nước uống. Nghe họ báo, tôi nhìn kỹ 4 cái bồn tròn khổng lồ, đoán hóa chất chắc chứa bên trong đây. Hèn gì mà họ không thể giúp. Rồi, người cầm loa tay hỏi có cần thêm những thứ gì khác, chúng tôi nói cần dầu diesel chạy máy. Liền sau đó, vài thùng thực phẩm, nước lọc và các can nhựa đựng dầu diesel được con tàu viễn duyên vất thẳng xuống mặt biển. Trước khi bỏ đi, người cầm loa tay cho biết tàu họ đang trên đường đến cảng Kelang của Malaysia. Nghe vậy, chúng tôi vội hỏi cảng Kelang khoảng cách bao xa, ở đâu thì được họ trả lời độ 2 giờ đồng hồ đi biển cùng hướng mà cá lớn phải đi.

Chúng tôi cho nổ máy ghe trở lại và chạy tìm vớt các thùng hàng các can nhựa của chiếc tàu vừa giúp. Hai thùng giấy bọc nhựa kín chứa bánh ngọt loại cracker, mì gói ăn liền và ba thùng nước lọc đóng trong các chai nhựa nhỏ. Ba can nhựa chứa tổng cộng khoảng 90 lít dầu diesel. Bánh cracker và mì gói được chia đều cho mọi người nhấm nháp ăn liền tức khắc. Vỏ các gói thức ăn in bằng tiếng Anh và một ngôn ngữ lạ không phải tiếng Tàu hay tiếng Nhật. Nhưng khi đọc thấy hàng chữ nhỏ xíu Made in the Democratic People's Republic of Korea trên một gói mì sợi thì ai nấy hết hồn. Vài năm trước đã có vụ ghe vượt biên gặp tàu Liên Xô vớt tưởng đã an toàn nào ngờ tàu Liên Xô đó vừa từ Việt Nam ra. Vớt người vượt biên xong, tàu Liên Xô đã quay mũi trở lại cảng Vũng Tàu và giao nộp toàn bộ người trên ghe cho công an Việt Cộng. Tàu Bắc Hàn này lại khác với chuyện về tàu Liên Xô bắt người vượt biên năm xưa mà cũng có thể vì cá lớn chúng tôi đang trong vùng hải phận Malaysia nên họ mới hành xử như vậy. Thuận cho cá lớn chạy theo đuôi con tàu Bắc Hàn giờ chỉ là một chấm nhỏ nhưng không lâu nó cũng mất hút dưới đường chân trời. Nó chạy quá nhanh so với ghe chúng tôi nhưng không hề chi vì Tám Kiệt đã biết phương hướng rồi.

Không một ai trong chúng tôi biết cảng Kelang nằm ở đâu bên nước Malaysia. Làm chuyến vượt biên nhắm hướng Malaysia, thâm tâm Tám Kiệt và đám đàn em nghĩ sẽ dễ dàng đến được đảo tị nạn Bidong nhưng do đi lạc, giờ đây sẽ phải ghé vào cảng Kelang nên ai cũng lo lắng lẫn háo hức. Cảng Kelang này ra sao, cách đảo tị nạn Bidong bao xa? Hình ảnh bến Bạch Đằng cùng các cầu tàu vùng Khánh Hội lại trở về trong trí người gốc Sài Gòn như tôi, Kelang có giống như vậy không?

Nói chỉ 2 giờ đi biển thì sẽ gặp cảng Kelang vậy mà chúng tôi phải chạy ghe tới hơn 4 tiếng đồng hồ mới thấy được vầng sáng phản chiếu của một vùng đất liền khu vực gần cảng. Lúc này thì trời đã sâm sẩm tối rồi. Thấy đến được đất liền, ai nấy trên cá lớn đều mừng rỡ la hét rùm trời. Ngay cả những người nằm dưới khoang hầm cũng cố sức leo lên mặt sàn ghe để nhìn cho rõ. Chúng tôi sắp sửa đặt chân lên một vùng đất nước ngoài chỉ trong buổi tối nay hay sáng sớm ngày mai thôi. Chuyến vượt biên thành công, ai nấy đều nghĩ như vậy và nhìn nhau cười rạng rỡ. Thôi nhé, những ngày lao động chết người, cơn sốt rét rừng ở vùng kinh tế mới, đêm ngủ bất an vì sợ tiếng đập cửa xét nhà thình lình, ánh mắt cú vọ dò xét của công an khu vực... Tất cả, xin vĩnh biệt từ giờ phút này. Thật là mừng.

Tám Kiệt cho cá lớn chạy chầm chậm dọc theo bờ biển khá lâu nhưng vẫn không tìm được lối dẫn vào cảng Kelang dù thấy đường phố, đỉnh lầu các tòa nhà và các dome tròn nhà thờ đạo Hồi thấp thoáng xa xa sau các rặng cây xanh đen trong ánh sáng đèn chiếu đô thị. Vài ghe ngư dân địa phương chạy ngược chiều với cá lớn chúng tôi. Người trên các ghe đó lấy tay chỉ trỏ vào phía bờ biển phủ khói sóng như làn sương xám. Tám Kiệt rất muốn các ghe dân địa phương này ngừng lại để hỏi thăm nhưng họ bỏ chạy xa mất. Dọc bờ biển, nhiều chỗ là các vách đá cao làm chúng tôi sợ vướng đá ngầm ở gần nên không dám chạy thẳng ghe vào. Thấy trời càng lúc càng tối đen khó mà quan sát, Tám Kiệt lệnh cho Thuận kiếm chỗ an toàn, ngừng máy rồi buông neo để sáng hôm sau sẽ tính. Ai nấy rôm rả trò chuyện toàn về các tin vui rồi sau đó lăn ra ngủ ngon lành, một giấc ngủ thực sự an tâm kể từ lúc đặt chân lên cá lớn.

                                               (còn tiếp)

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 67 - NHỚ CHA ÔNG XƯA ....




Nhân chuyến sang Trung Quốc của ông Lê Hồng Anh, xin mời đọc lại :


CHIẾN TỤNG NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA

                             Nhà văn  Nguyễn Khắc Phục

1.

Lớn thay vận nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hùng thay hào khí
Thăng Long muôn thủa bóng rồng thiêng
Hai trăm hai mươi năm, một mùa xuân hùng vĩ
Lời tuyên cáo của đại đế Quang Trung bốn thế kỉ âm vang
Đánh cho biết nước Nam anh hùng, có chủ!
Cả đất nước bên nhau kiêu hãnh ngước nhìn lên
Ngọn cờ đào bách thắng
Xuân Kỉ Dậu một nghìn bẩy trăm tám chín (1789)
Ngọc Hồi - Đống Đa thành hùng ca bất tử Việt Nam!

2.

Lịch sử như dòng sông có khúc chảy bình yên
Có quãng bão giông phải băng qua ghềnh thác
Nhưng tình yêu Việt Nam muôn đời không đổi khác
Khi Tổ Quốc lâm nguy, trăm họ lại đứng lên
Tất cả hiến dâng cho hồn nước thiêng liêng
Dàn thế trận Diên Hồng đánh tan quân xâm lược
Những Càn Long ngông cuồng không bao giờ hiểu được
Sức mạnh của dân ta yêu hòa bình và đại nghĩa nhân văn
Chỉ nhăm nhe đợi lũ Việt gian
Cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ
Xua 28 vạn quân hùng hổ tiến ngay sang
Mưu nuốt chửng nước Nam trong chớp mắt
Những Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh vênh váo giữa Thăng Long
Bầy Chiêu Thống bôi mày vẽ mặt 
Cũng áo mão nhênh nhang, cũng ấn tín quốc vương
Bán nước cầu vinh, vết ô nhục mãi ghi trong sử sách
Thầy lẫn tớ mắt trợn trừng trợn trạc
Tâng bốc nhau tướng hổ quân hùm
Nào thiên mệnh, nào "phù Lê", nào khai hóa đất Nam man
Mồm nốc rượu say, tay vơ đồ ăn cướp
Cười sằng sặc thi nhau chém giết lương dân
Mà không hay trời đang nổi phong vân
Đất đang chuyển, mấy nghìn năm nổi giận
Những Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi Lăng gọi dậy bão Diên Hồng

3.
Đại tư mã Ngô Văn Sở lui về Tam Điệp - Biện Sơn
Đợi chiến lệnh của hoàng đế Quang Trung
Cả dân tộc kết thành đội hùng binh mùa mai vàng rực nắng
Đất phương nam vang dội chiếu xuất quân

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
     Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

Lời chủ tướng hẹn trước ngày đại thắng
Gửi cánh đào báo tiệp về Phú Xuân
Đoàn voi chiến băng đại ngàn ra trận
Những chàng trai Thanh Nghệ bỏ cầy cuốc tòng quân
Mắt nhìn thẳng hướng Thăng Long giục bước
Năm đạo binh dàn thế trận Diên Hồng
Đô đốc Bảo tiến đánh phía Nam
Đô đốc Tuyết, đô đốc Lộc dẫn thủy quân ra Bắc
Án ngữ Nhĩ Hà, chặn đường lui của giặc
Hoàng đế Quang Trung thống lĩnh đạo trung quân
Đập nát vụn tuyến bố phòng Nguyệt Quyết, Hạ Hồi, Nhật Tảo
Trong tiếng voi gầm, lửa cháy, nộ khí xung thiên
Đô đốc Long đánh thẳng vào Khương Thượng
Run như cầy sấy, Sầm Nghi Đống phải treo cổ lên cây
Tôn Sĩ Nghị nửa đêm hồn bay phách mượn 
Giục lũ tàn quân chặt gẫy cầu phao bắc qua sông
Giặc Mãn Thanh hiện nguyên hình bầy kiến
Giữa cuồng phong vỡ tổ chạy tháo thân

4.
Vinh quang thay ngày đất nước khải hoàn
Tự hào thay những vần thơ bốn thế kỉ âm vang
Thăng Long - Hà Nội bước vào mùa xuân hai nghìn linh chín
Trên gò Đống Đa nghe sang sảng tiếng cha ông

Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
     "Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta"

Con Rồng cháu Tiên
Yêu giang sơn tận máu thịt, tim gan
Cháy bỏng thiết tha hòa bình - độc lập - tự do và cơm áo
Trải mấy nghìn năm bao thế hệ Việt Nam  
Dâng tâm huyết, tình yêu lên bàn thờ Tổ Quốc
Trải qua bao thử thách hưng vong
Từ hải đảo thân thương đến châu thổ Cửu Long
Từ núi rừng Tây Nguyên đến đồng bằng Bắc Bộ
Từ Biển Đông đến Trường Sơn hùng vỹ
Từ Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái dải biên cương
Đến mảnh đất Thăng Long nghìn năm hùng khí
Sáng xuân nay mừng chiến thắng Đống Đa
Trăm triệu con tim xum vầy, một khát vọng thiết tha
Đón Tết hoa đào hồng tươi, hoa mai vàng nở rực
Dân Việt ở quê hương hay kiều bào xa nước
Chỉ một hướng nhìn tương lai trong thế trận Diên Hồng
Một tâm nguyện vì giang sơn gấm vóc
Giữ cho muôn đời bất diệt:
Việt Nam!
Hoàn thành đêm 04 rạng sáng 05 tháng 01 năm 2009
Nguyễn Khắc Phục



Nhà văn NHẬT TIẾN ; Tiểu thuyết THỀM HOANG - KỲ 2




                                           (tiếp theo)

Về đến nhà, Ích còn dặn bác Tốn một câu trước khi chia tay:
"Dượng cháu có hỏi thì bác nói chín thôi nhé."
Bác Tốn mỉm cười, gật gật. Bóng của bác quờ quạng đi trong sân đất. Tiếng đàn bật nhẹ và kêu rung rung trong bóng tối. Ích rẽ sang phía cổng nhà mình. Con Vện hực lên mấy tiếng. Ích vuốt lên đầu con vật mấy cái rồi đi thẳng lên thềm. Đèn trong nhà tối om om. Có tiếng cười rúc rích ở giường dượng Tám. Trong bóng tối, bàn tay cái Ngoan thò ra nắm lấy tay nó kéo xuống bếp. Ích hỏi:
"U đâu?"
Ngoan thì thào:
"U đi làm hồ từ hồi chiều rồi."
"Còn tương thì sao?"
"Mẻ tương này chậm vì lần trước không có đỗ ngon. Bác Nhan rủ, u đi rồi."
"Ai trong nhà thế?"
"Cô xóm trong!"
Hai đứa dừng lại. Tiếng cười len qua vách lá to hơn rồi im bặt. Ích dắt em ra đầu nhà. Thỉnh thoảng u chúng nó đi vắng, dượng Tám vẫn ngủ với một vài người như thế. Nhưng chẳng lần nào chúng nó dám mách cả. Cứ chỉ nhìn vào đôi mắt đỏ như tiết và nom như bốc lửa của dượng là bọn chúng nó cũng đủ dúm người lại rồi.
Hai đứa ngồi xuống thềm đất. Ngoan lấy ra cho Ích một gói nhỏ:
"Kẹo tây đây này!"
Ích mở to mắt trong bóng tối:
"Ở đâu ra thế?"
"Em mua đấy. Một đồng năm cái."
Ích xuýt xoa:
"Sang nhỉ! Hôm nay mày được bao nhiêu?"
"Có tám đồng."
Ích vội khoe:
"Tao có riêng gần một chục đây này."
Ngoan nắm lấy tay anh:
"Ở đâu ra mà nhiều thế?"
Ích định thú thật với em rằng mình đã ăn bớt tiền đi hát được, nhưng rồi nó lại ngập ngừng:
"Thì người ta cho chứ ở đâu."
Hai đứa im lặng một lúc lâu. Ích chợt nói:
"Tao sẽ cho mày ăn riêng một tô phở và mua thêm một cái lược."
Ngoan náo nức:
"Lược mầu xanh biếc ấy anh nhá."
"Được rồi, mai cùng đi rồi tha hồ mày chọn."
"Nhưng mua rồi thì giấu ở đâu."
Ích đáp:
"Tao có chỗ này kín lắm. Mai tao chỉ cho. Dượng Tám có tìm một ngày cũng không thấy được."
Ngoan chép miệng:
"Mình chán nhỉ. Có tiền mua mà cũng không dám dùng hẳn hoi."
Tự nhiên Ích thấy buồn buồn và thương Ngoan. Ít khi tình thương đến với nó một cách rõ ràng như thế. Thường thường có nghĩ đến em thì nó cũng chỉ biết để dành cho em cái bánh, cái kẹo là cùng, chứ không bao giờ Ích lại thấy lòng nôn nao một cách khó tả như thế. Nó nhìn trộm sang phía Ngoan. Khuôn mặt bầu bĩnh của con bé chìm mờ trong bóng tối. Bất giác Ích giơ tay tìm tay em. Ngoan lặng lẽ nắm hờ lấy anh, mắt nó nhìn long lanh ra phía ngoài sáng. Giây lâu nó bóc kẹo trao cho Ích. Hai anh em ngồi ngậm kẹo. Bốn bề im lặng chỉ có tiếng gió rì rào trên lùm cây xanh đen, xen lẫn tiếng chó sủa vu vơ ở phía đằng xa. Hai đứa cùng như cảm thấy một điều gì nhẹ nhõm. Mãi Ích mới nghĩ ra rằng tại u Tám đi vắng và dượng Tám đang ngủ với cô gái ở trên nhà. Chúng nó được tự do ngồi với nhau, lại có cả kẹo ngậm nữa. Vì thế đêm đã khuya rồi mà chúng nó chưa buồn ngủ. Ngoan kể với anh chuyện ban ngày, chuyện ở dọc đường, ở mọi nhà mà nó đến đổi đồ đồng nát. Nó nói với anh như mới khám phá một điều lạ:
"Anh Ích này, bé như em mà người ta cũng mượn đi làm cơ."
Ích đáp:
"Dĩ nhiên! Bằng mày mà không chạy được khối việc à."
"Em tưởng phải nhớn cơ chứ?"
"Nhớn công nhiều, bé công ít."
"Ít là bao nhiêu?"
Ích tịt mít. Nó cũng không hiểu cỡ như cái Ngoan đi ở thì một tháng được bao nhiêu tiền. Nhưng Ngoan đã ước lượng hộ nó:
"Chắc một trăm."
Ích cãi:
"Hơn chứ!"
"Một trăm có cơm nuôi. Đến tết lại được một bộ quần áo."
"Sao mày rõ thế?"
"Em hỏi mà lị. Giá dượng cho em đi làm như thế thì em đi ngay. Ở nhà, u với dượng hay đánh nhau, chán chết!"
Ích nói:
"Nhưng cũng còn hơn là làm đầy tớ người ta."
"Ồ! Mình cũng phải làm chứ có đi xin đâu mà sợ."
Rồi nó thấy mình lỡ lời, nên vội chữa:
"Như anh đấy, cũng phải hát mới có tiền chứ!"
Ích ngập ngừng:
"Chắc dượng không cho đâu!"
Ngoan thấy cái náo nức trong lòng đang nhen nhúm tự nhiên tắt hẳn. Anh nó nói đúng. Chẳng bao giờ u nó và dượng nó lại cho đi như thế. Ở nhà, nó còn đỡ được nhiều việc. Nó mà đi thì chỉ mình nó sướng thôi. Ngoan nghĩ đến những chiếc nhà tây hai, ba tầng, quét vôi sáng sủa. Buổi chiều có nắng chiếu lên những dàn hoa sặc sỡ. Sân gạch ở đằng trước đầy gió và bóng mát. Đã có lần nó đi theo người ta vào trong ấy khuân các đồ chai lọ. Nó đã được đứng trên mặt đá hoa mát lạnh mà chưa từng bao giờ nó đặt chân đến. Những vòi nước máy bằng đồng sáng loáng, mở ra có nước tuôn xối xả quyến rũ nó một cách lạ lùng. Ở trong căn nhà ấy, thứ gì, vật gì đối với nó cũng đều lạ mắt cả. Từ cái quạt cao hơn đầu dượng Tám dựng đứng, xoay khắp trong phòng, đến những ổ điện nhằng nhịt, những bàn, ghế, giường, nệm, tất cả tạo thành một thế giới riêng biệt, thần tiên, khác xa hẳn với căn nhà lá ẩm thấp và tối tăm của dượng nó ở xóm Cỏ này. Vì thế mà Ngoan vẫn nuôi cái mộng trong đầu là được rời xa chốn khốn khổ ấy. Nhất là nó sẽ chẳng còn phải chứng kiến cái cảnh dượng Tám uống rượu say rồi nắm từng mớ tóc của u nó mà giật. Những khi ấy, Ngoan có cảm tưởng như chính những mảng tóc của nó đang bị bật ra, và nó chỉ biết ngồi ôm mặt khóc.
Về phần u Tám, thì nhiều lúc u lầm lì như cục đất. Trong nhà, u chẳng hay nói với ai một lời vui vẻ, ngay cả đến anh em nó. Chúng nó nhận ra sự im lặng của u có một vẻ khác thường. Hình như u sống với chúng nó đấy, mà đầu óc chẳng để ý gì đến ai cả. Cặp mắt của u bạc nhược, khuôn mặt trắng xanh nổi lên những nét khắc khổ và mệt nhọc. U rất chăm làm, làm như một con vật mà lại là thứ con vật vô tri giác. Ấy thế mà dượng Tám chẳng mấy khi để cho u được yên cả. Tiền u kiếm được, dượng moi bằng hết để đi đánh bạc. Mỗi lần không có, thì dượng gây sự với u để lại túm lấy u và đánh như đánh một quân thù không đội trời chung. Nhiều khi u Tám cũng chống cự lại bằng sức lực yếu đuối của mình. Như thế, trong nhà lại tán loạn lên vì tiếng khóc và tiếng chửi rủa. Anh em Ích lại rúc vào ổ rơm mà trốn bịệt.
Nghĩ lan man thế nào, Ngoan tự nhiên rưng rưng khóc. Thấy nó không nói, Ích ngẩng lên nhìn và trông thấy những giọt nước mắt ứa ra trên hai má của Ngoan. Nó hỏi em:
"Ngoan làm sao thế?"
Ngoan không đáp chỉ lắc đầu, và bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ. Ích vỗ lên lưng em, dỗ dành:
"Mày đi làm làm gì. Ở nhà có anh, có em sướng hơn.”
Ngoan càng lắc đầu mạnh. Nó biết không phải nó khóc vì không được đi làm. Nó chỉ tủi thân thôi. Mà tủi thân thì nói thế nào cho Ích hiểu được. Vì thế nó chỉ ôm hai tay lên mặt, im lặng cho dòng nước mắt nóng hổi chảy trên từng ngón tay nhớp nháp. Ích cũng ngồi yên không nói nữa. Cái vui nhẹ nhàng ban nãy không còn. Bây giờ chúng nó lại cảm thấy buồn hơn hết. Chúng nó nghĩ đến ngày mai, ngày kia và mãi mãi, buổi sáng phải đi mót củi khô và lá rụng ở mặt đường, buổi trưa nắng gắt, đi quẩy nước ở ngoài giếng, chiều tối, lúc dượng Tám uống rượu lảo đảo trở về, chửi lảm nhảm đến khuya. Mỗi cử động mạnh của dượng, ngay lúc dượng chẳng đánh ai cả, cũng đủ làm cho tim Ích đập nhanh trong lồng ngực. Ích nghĩ, dượng Tám thật là tráo trở, vui đấy, mà cũng giở mặt ngay đấy. Nhiều khi Ích dám có ý nghĩ là mình được cầm một con dao nhọn hoắt mà đâm mạnh vào tim dượng. Máu đỏ phun ra sẽ làm nó rất kinh sợ nhưng hẳn cũng hả hê biết mấy. Hả hê ngay từ khi nó mới chỉ tượng tượng ra như thế mà thôi. Cũng có lúc Ích ao ước mình được dẫn em bỏ trốn nhà ra đi. Nhưng điều ấy lại còn khó khăn hơn là sự cầm dao giết dượng Tám. Vì trong thành phố ồn ào này, tuy rộng rãi thật, nhưng nó chẳng biết là mình sẽ đi về đâu. Bất giác Ích thở dài, ngẩng lên nhìn về phía nhà trên. Ở trong vẫn tối om và chắc dượng Tám đã cùng cô gái ngủ say rồi. Nó trông lên nền trời xanh đen. Bây giờ có một lớp sương trắng đùng đục che mờ những vì sao thưa. Gió càng về đêm càng lạnh hơn và sương đêm hắt vào vai nó một cảm giác âm ẩm. Nó kéo Ngoan đứng dậy. Hai anh em dắt nhau xuống ngủ ở nền lá khô dưới bếp. Ngoan trở mình một lúc rồi nằm yên. Còn Ích thì nhìn rất lâu ra khung cửa đùng đục trắng. Ánh sáng nhàn nhạt lùa vào đống lá một vệt sáng nhờ. Ích thấy những mơ ước vẩn vơ của mình hiện lên ở trên nền cửa ấy. Những con thiêu thân trên ngọn đèn sáng ở ngoài tiệm phở bay mơ hồ qua lại. Tiếng đàn của bác Tốn văng vẳng bên tai nghe xa xôi. Ích thiếp đi trong những cảm giác chập chờn như thế...

                                   (còn tiếp)

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 66 - HỘI NHÀ VĂN CỦA NƯỚC TA - KỲ 19




             Những trái tim đá…        
                                              

Một dạo , trên các báo giấy và báo mạng bùng nổ bài viết về thảm kịch cô gái bị chủ hành hạ bằng những dụng cụ tra tấn thời trung cổ như dao, búa, kìm, nước xôi, dây điện…ngay giữa thủ đô ngàn năm văn vật trong suốt 14 năm trời đằng đẵng. Thú tính của đôi vợ chồng chủ nô với sự làm ngơ, trơ lì của xã hội, đặc biệt của cả một bộ máy nhà nước và một hệ thống chính trị làm bùng lên sự phẫn uất, lo ngại cho những người còn đôi chút lương tri và ý thức cộng đồng.
Hàng ngàn ý kiến trên các blog, các báo mạng, báo giấy đã vạch rõ nguy cơ cái ác tràn lan và nhởn nhơ tồn tại khiến xã hội như rơi vào thời kỳ băng hà của trái tim con người.
Bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội – cộng đồng những người cầm bút , nhà văn Nguyên Ngọc lên tiếng “báo động đỏ “ :
 “ Mấy hôm nay dư luận xôn xao vì tin một cô gái ở ngay giữa thủ đô Hà Nội bị một đôi vợ chồng độc ác hành hạ ...
Họ hành hạ bằng những nhục hình man rợ nhất suốt 14 năm trời, mãi đến bây giờ mới được phát hiện và được cứu. Chi tiết thì nhiều báo đã đăng rồi, và các cơ quan pháp luật cũng bắt đầu vào cuộc - một cách rất muộn màng!
Nhưng ở đây, theo tôi, có một khía cạnh thậm chí còn đáng sợ hơn tất cả tội ác cụ thể đã được tiết lộ. Đấy là sự tê liệt hầu như hoàn toàn của cái cộng đồng xã hội ở quanh đó trước tội ác trắng trợn và tày đình kia. “
Sự tê liệt đó, tiếc thay không gây nên bởi đe doạ của bom hạt nhân hoặc của bọn khủngt bố tầm cỡ quốc tế mà lại do…đôi vợ chồng bán phở :
“ Mà là tội ác của ai? Chỉ của một cặp vợ chồng như hai con dã thú, nhơn nhơn sống và “ăn thịt người” ngay giữa Hà Nội! Mọi người xa gần quanh đó đều biết, biết suốt 14 năm, biết khá tường tận, đến tổ dân phố, tổ phụ nữ, và chắc chắn còn bao nhiêu tổ chức được gọi là các tổ chức chính trị trong hệ thống hùng mạnh của chúng ta, có thể cả chính quyền, công an nữa, cũng đều biết.
Thế nhưng tuyệt đối chưa ai lên tiếng, chưa ai động tay động chân, chưa ai dám đứng lên bảo vệ một cô gái yếu đuối, để mặc cho cô tuyệt đối cô đơn như một con thú non tơ lạc và bị xé thịt giữa rừng hoang.
Không ai dám lên tiếng, dám bênh vực cả vì “chẳng dại gì dây vào mà liên luỵ”. Các tổ chức chính trị xã hội biết nhưng không hành động, một tiếng nói phản đối ít ỏi cũng không, vì cái lý do tuyệt vời: “Cô ấy có phải là thành viên của đoàn thể chúng tôi đâu! Chúng tôi không có trách nhiệm!”.
Cho đến khi có một bà cụ đơn độc, chất phác, dũng cảm một cách khiêm nhường và hồn hậu, và tuyệt không có một chút chức quyền, chức danh gì, lén lút cứu cô!
Biết nói thế nào nữa đây? Xã hội chúng ta, mà là cộng đồng ở chính giữa thủ đô văn hiến và nổi tiếng văn minh, từng là “lương tâm” của thiên hạ, nay đã đến mức thế này rồi sao? Nếu quả như thế thì thật đã đến độ vô cùng kinh hoàng. Tê liệt hết cả và hoàn toàn rồi sao? Vì sao mà đến nông nỗi không còn chút sức đề kháng nào như thế này?”
Và hồi chuông báo động đỏ của nhà văn Nguyên Ngọc liệu có bị cả xã hội thờ ơ giống như  thân phận cô gái bị hành hạ :
“Tôi cho rằng đây là một vụ báo động đỏ về lương tâm xã hội, trăm ngàn lần còn nghiêm trọng hơn là chuyện lương tâm của đôi ba con người cụ thể nào đó. Bởi cái ác, kẻ ác thì thời nào, nơi nào cũng có. Nhưng khi xã hội đã khiếp nhược đến thản nhiên, dửng dưng, im lặng quay mặt đi trước cái ác thì không còn là vấn đề của từng người nữa rồi! “
Quả thật “quá khủng khiếp” khi “chế độ ta” vẫn vỗ ngực là ưu việt, là tốt đẹp, là “vì hạnh phúc con người”, là “mùa xuân của nhân loại” là “thiên đàng cộng sản”, vậy mà cái cảnh “trùm chăn đánh người giữa chợ” vẫn cứ tiếp diễn ngày này qua ngày khác ngay giữa thanh niên bạch nhật, ngay trung tâm thủ đô trái tim của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, ở xã hội “tư bản thối nát”, chỉ cần một tiếng kêu khóc nổi lên, ngay lập tức hàng xóm đã gọi điện cho cảnh sát tới xích tay kẻ thủ ác.
Trong những ngày đó, Quốc hội đang họp , Chính phủ đang “luận bàn việc công”  – liệu những “đày tớ của dân” có nhận ra cái “địa ngục quá gần họ” đang đày đoạ các “ông chủ” để mà thấy lo sợ, mà xấu hổ ? Hay  trái tim họ đã hoá đá ?  
Nhà thơ Thanh Thảo không ngần ngại nhắc tới những “trái tim băng giá” đó và vạch trần trách nhiệm của cả một “hệ thống chính trị” :
“ Chúng ta đang sống thời hiện đại, đang sống trong cơ chế thị trường với vô vàn quan hệ phức hợp và phức tạp, đúng thế, nhưng liệu cuộc sống bây giờ có khiến chúng ta chai mòn vô cảm trước nỗi đau của trẻ nhỏ, nỗi đau của người nghèo khổ đến thế không? Ở một xã hội thượng tôn pháp luật, những hành động lăng nhục đánh đập con người một cách dã man như vậy sẽ lập tức bị chính những người láng giềng, hàng xóm phát hiện, và họ sẽ lập tức báo tin cho cảnh sát. Nhưng ở ta, khi người ta "sợ" pháp luật thì ít mà sợ những kẻ vi phạm pháp luật thì nhiều hơn, và nhất là khi nếu có người dám đứng ra tố cáo những tội ác như của vợ chồng hàng phở nọ, thì sẽ có cơ quan cảnh sát đặc biệt nào đứng ra tiếp nhận và xử lý ngay những thông tin ấy? Đó mới là điều cần bàn. “
Nỗi vô cảm trước những đau khổ, bất hạnh của đồng loại, cộng với nỗi khiếp nhược cái ác, sợ bị trả thù đã đẻ ra chủ nghĩa “mackeno” – thói dửng dưng trước bất kỳ bi kịch nào của đồng loại :
“ Vì một khi người dân không dám báo cáo những chuyện như thế với công an khu vực, với công an phường chẳng hạn, là do họ sợ "nhà hàng phở" kia vừa lắm tiền vừa ngoa ngoắt có thể sẽ "đổi trắng thay đen" và "tố ngược" gây tai hoạ cho họ, thì sao? Ai bảo vệ những người dân trung thực dám tố cáo cái xấu cái ác trong những hoàn cảnh như thế ? Khi địa ngục quá gần ta, ma vương tiểu quỷ cũng quá gần ta, mà sự che chở của pháp luật lại ở hơi xa hoặc còn mờ ảo, khi những người lương thiện và trung thực chưa thể liên kết thành một sức mạnh, thì chuyện em Bình bị hành hạ man rợ suốt 13 năm trời mới nghe thật khủng khiếp, nhưng nghĩ kỹ, lại là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Dù trong mỗi khu phố đều có "tổ dân phố" về hình thức là quản lý khá chặt chẽ, nhưng một khi những tổ chức chính quyền cơ sở như thế bị "quan liêu hoá" hay chỉ tồn tại trên hình thức, thì thật khó cho người dân lương thiện dựa vào đó để thể hiện có hiệu quả sự lương thiện, thái độ không chấp nhận cái xấu cái ác của mình. “
Thực ra chuyện của cô gái Nguyễn Thị Bình chịu đòn vọt tra tấn suốt 14 năm dài không phải là chuyện cá biệt. Xã hội ngày nay nhan nhản những chuyện “bất bằng” mà người chứng kiến vẫn bưng tai bịt mắt .
Hội nhà văn VN,  ngoài hai nhà văn Nguyên Ngọc và Thanh Thảo, trong ngót một ngàn ông bà hội viên  chính thức của Hội nhà văn và cả chục ngàn cây bút ở địa phương hầu như không ai lên tiếng trước thảm hoạ “địa ngục gần ta” đó. Những ngày này, trên các báo chí, tập san Văn Học Nghệ Thuật của trung ương và địa phương,  trên hàng trăm “trang nhà” và blog của cộng đồng những “lương tâm thời đại”, những ” thư ký thời đại” thấy lặng tờ và im phăng phắc đến một tiếng thở dài thương xót cô gái vừa thoát khỏi địa ngục trần gian, một lời than về sự hoang vắng của tình người  cũng hoàn toàn không có ? Trái tim họ đã hoá đá cả rồi sao ?
Còn nhớ thời bao cấp, Hội nhà văn Việt nam vốn rất “nhạy bén” với những vụ “xâm hại con người” dẫu rằng nó ở tận đẩu tận đâu và liệu thông tin có xác thực  ? Chẳng hạn vụ “nhà tù Phú Lợi”, vụ “thảm sát Duy Xuyên – Hướng Điền”, vụ Sơn Mỹ… dẫu chỉ nghe “báo cáo thời sự” nhưng Hội nhà văn Việt nam cũng tổ chức mít tinh rùm beng, ra kiến nghị phản kháng ầm ĩ. Nhưng đó là chuyện ngày xưa, thời “chống Mỹ cứu nước” , còn bây giờ, nhãn tiền một cô gái bị đầy đoạ trong địa ngục trần gian thì cái Hội nhà văn ấy im thin thít, không dám tuyên bố lấy một câu lên án kẻ thủ ác, lên án cái cách tổ chức xã hội hiện nay, cội nguồn của những “bể khổ” kiểu đó.  Họ còn bận “mở trại sáng tác”, bận họp Ban chấp hành để xét giải thưởng , chia chác các xuất đi nước ngoài…Và cũng có thể trái tim họ đã hoá đá…

NT

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 175 - Bộ ... “thần kinh hoang tưởng”…!





                 

Chiều nay thằng Bảy xe ôm chở khách về miệng chửi  tía lia :

“ ĐKM nó….ĐKM nó…nhục như con chó…”

Cô Phượng cave trợn mắt :

“ Mày chửi ai vậy Bảy . Làm sao nhục ? Bộ mấy con chó vàng bợp tai mày hả ?”

Chị Gái hủ tíu thắc mắc :

“ Chó nào biết bợp tai ? Chó cắn thôi chớ ?”

Cô Phượng cave cười rũ :

“ Ô cái bà này “ngáo đá” sao vậy. Tôi nói ba thằng cảnh sát giao thông kìa ?”

Ông đại tá hưu quát :

“ Con Phượng cave kia, sao mày dám gọi cảnh sát giao thông là chó vàng hả ?”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Chú Ba ra đường coi nhân dân người ta kêu vậy kìa !”

Bà tổ trưởng định nói, thằng Bảy xe ôm lớn tiếng cãi :

“ Cảnh sát giao thông sao bợp tai được tôi ?”

Gã Ký Quèn lên tiếng :

 “Mày không bị cảnh sát bợp tai sao kêu nhục…”

Thằng Bảy xe ôm cằn nhằn :

“ Tôi không nhục vì tôi đâu, tôi nhục cho cái đám thanh niên đứng chật cứng đường Đồng Khởi kìa, dễ phải cả ngàn đứa…”

Cô Phượng cave tròn mắt :

“ Ủa tụi nó biểu tình đòi thả bà Bùi thị Minh Hẳng đang bị Tòa xử ở Cao Lãnh hả ?”

Thằng Bảy xe ôm la chói lói :

“ Có đến Tết Cônggô nha. Thanh niên bây giờ tránh xa chính trị, chỉ chính…em thôi nha. Nó biết bà Bùi thị Minh Hằng là bà quái nào ?Tụi nó tập trung để đón …”

Gã Ký Quèn cướp lời :

“ Đón ai vậy, chắc đón đồng chí Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng  ?”

Cô Phượng cave cười ré :

“ Đón đồng chí Tổng Bí thơ thì phải đón ở sân bay chớ…mà phải cả chục ngàn đứa ấy chớ…thanh niên là cánh tay phải của đảng mà !”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Đến ngày mồng thất, tháng mồng cửu , năm quả tạ chiếu thì chúng nó tập trung đón Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng nha…”

Ông đại tá hưu lại đập bàn quát :

“ Sao mày dám nói thanh niên đón đồng chí Tổng Bí thơ vào năm quả tạ chiếu hả ? Phản động, phản động !!!”

Co Phượng cave xua xua tay :

“ Thôi thôi im nghe thằng Bảy nói coi cả ngàn thanh niên tập trung đón ai ?”

Thằng Bảy xe ôm văng tục :

“ Nó đón bố trẻ nhà nó là thằng diễn viên Hàn Quốc Lee Jong Suk chớ đón ai…”

Cô Phượng cave cuống quýt :

“ Í trời … thần tượng Lee Jong Suk sang Việt Nam thật sao ? Nếu vậy có ngàn đứa đón còn ít , phải chục ngàn chớ…”

Thằng Bảy xe ôm lại chưởi :

“ ĐKM nó, còn hơn là đón bác Hồ sống lại…nào gọi tên, nào trưng hình, nhiều đứa còn khóc rưng rức, đúng một đám cún con…”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Vậy mới đúng là cháu ngoan bác Hồ chớ ?”

Vừa lúc đó bà Năm củ cải lò dò đi vào, gã Ký Quèn lớn tiếng :

“ Thím Năm củ cải nghe tin gì chưa ? Thằng Út bà sắp sướng rồi nha ?”

Bà Năm củ cải ngạc nhiên :

“ Sướng sao vậy anh Ký Quèn, cháu nó mới học lớp 2 mà…”

Gã Ký Quèn cười cười :

“ Từ nay nó không phải cắp cái cặp to tổ chảng nữa, chỉ cầm cái máy tính bảng nhỏ xíu bằng cuốn sách nữa thôi. Thím Năm chỉ phải trả có 3 triệu thôi…”

Bà Năm củ cải la hoảng :

“ Í trời ơi….tiền đâu ra những 3 triệu…”

Gã Ký Quèn lại cười :

“ Thực ra giá gốc có 900 ngàn thôi, máy Tàu bằng nhựa ấy mà, dùng ít lâu rồi quăng. Nhưng bọn Công ty với bọn Sở giáo dục đội giá lên để ăn chia…”

Bà Năm củ cải tức tối :

“ Bắt tui đóng cả lố tiền vậy tui kiện tới tận ông Bộ trưởng..”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Bà có biết ông Bộ trưởng giáo dục là ai không ?”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Là ông  Phạm Vũ Luận , người mới phát biểu một câu nổi tiếng : “ Cần phải có lòng tin vào đội ngũ. Ai cũng có thể nói không tin vào các kỳ thi phổ thông. Nhưng tôi đề nghị chúng ta không nói thế . Tư lệnh phải tin vào các chiến sĩ của mình đang chĩa súng vào địch để giữ trận địa. Chứ cứ lo chiến sĩ chĩa súng vào mình , không lo chỉ đạo tấn công thì thua là cái chắc ?” 

Ông Tư Gà nướng la hoảng :

” Trời ơi…vậy cha là Bộ trưởng Bộ giáo dục hay Bộ trưởng Bộ quốc phòng ?”

Gã Ký Quèn cười hô hố :

” Bộ... thần kinh hoang tưởng …”

Cả quán cười ồ, trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng…



26-8-2014