Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

NHÂN NGÀY SINH CỐ GIÁO SƯ CAO XUÂN HẠO ( 30-7-1930/2014 )- :Tôi chỉ là một người làm nghề.”

            
                                 “ Tôi chỉ là một người làm nghề.”
                               



Con người nói câu khiêm nhường đó, thực ra là một trí thức lớn, nhà ngôn ngữ học, Giáo sư Cao Xuân Hạo. Ông sinh ngày 30 tháng 7-1930 tại Huế, xuất thân trong một gia đình đại trí thức (cụ nội là Cao Xuân Dục, cha là nhà hán học Cao Xuân Huy).  Cao Xuân Hạo là nhà ngữ học hiếm hoi xây dựng ngữ pháp tiếng Việt xuất phát từ bản thân tiếng Việt chứ không mô phỏng ngữ pháp của tiếng Pháp (hay các ngôn ngữ Ấn-Âu) như phần lớn các tác giả giáo trình tiếng Việt trong nửa thế kỉ vừa qua. Vừa tốt nghiệp đại học và làm phụ giảng ở Trường đại học tổng hợp Hà Nội ông đã bị quy kết vào tội "Nhân văn Giai phẩm" nên suốt một thời gian dài không được giảng dậy. Ong đã từ trần chiều tối ngày 16 tháng 10-2007 tại bệnh viện Thống Nhất, Sàigòn, nơi ông nhập viện nửa tháng trước do một cơn đột quỵ gây nhiều thương tiếc cho trí thức Việt Nam.
    
 Nhân dịp này, Giáo sư Tương Lai, viết như khóc trên báo “ Người  đại biểu nhân dân” số ra ngày 19 tháng 10 năm 2007 :
“Hạo ơi, anh đã tuyệt đối nằm xuống, nhưng sự nghiệp của anh thì đang đứng dậy vì càng ngày người ta sẽ càng nhận ra khoảng trống về sự thiếu vắng của một tài năng bẩm sinh từ cái “gien”di truyền và sự truyền dạy của cha anh, người thầy đáng kính của riêng anh và của một lớp trí thức có nhân cách, thầy Cao Xuân Huy…  Được sự chăm sóc và truyền dạy của cha, Cao Xuân Hạo theo được cái chí của cha với cảm nhận thường trực về “cái gánh nặng tinh thần đang đè lên một người con không thực hiện được hoài bão của cha, một người học trò dốt đã phụ lòng mong đợi của thầy”. Sự tự vấn ấy khiến anh để lại lời nhắn gửi “hy vọng các nhà khoa học nhân văn thuộc các ngành khác nhau, nhất là các đại diện của thế hệ trẻ, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng này” tức là hướng từ sự khác nhau về cấu trúc ngôn ngữ (tuyến tính/phi tuyến tính) để suy nghĩ thêm về sự khác nhau về phương thức tư tưởng giữa phương Đông và phương Tây mà cụ Cao Xuân Huy đã dẫn dắt anh.”
Nhà văn Nguyễn Ngọc Giao , nhớ lại một kỷ niệm với Cao Xuân Hạo trên Diễn Đàn :
“ Mùa hè năm 1981, tôi ghé thăm anh Nguyễn Khắc Viện ở ngõ Nguyễn Chế Nghĩa, Hà Nội…. Trước khi chia tay, anh rút một tờ giấy trắng khổ A5, nói tôi viết một tờ "giấy chứng nhận" rằng bản thảo cuốn Phonologie et linéarité (Ngữ âm học và tuyến tính) của Cao Xuân Hạo, chính tôi đã gửi cho giáo sư Jean-Pierre Chambon ở Trường đại học Nancy, sau khi nhận được anh Viện gửi sang. Anh Viện giải thích, sau khi tạp chí Etudes Vietnamiennes công bố một bài viết của anh Hạo về ngữ âm tiếng Việt, nhà ngữ học Chambon đã liên lạc với anh Hạo. Từ đó dẫn tới việc anh Hảo gửi sang Pháp (tôi không rõ bằng con đường nào) tập bản thảo nói trên. Chỉ biết rằng, cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980, gửi một bản thảo ra nước ngoài mà không được "cơ quan" (nhất là "cơ quan hữu quan") cho phép, thì có thể tù mọt gông (một vài năm sau, nhà thơ Hoàng Cầm, rồi cả nhà thơ Hoàng Hưng, đã bị mấy năm tù vì tội "tìm cách gửi ra nước ngoài" tập thơ "Về Kinh Bắc" -- tập thơ vừa được giải thưởng Nhà nước !!!). Huống chi anh Hạo cũng dính tới vụ "Nhân văn Giai phẩm" ở Trường đại học.
Thế là năm ấy, ngẫu nhiên tôi đã cố tình phạm tội khai gian để chạy tội cho một "phần tử xấu". Cũng may là âm mưu này không bị "ta" phá tan, anh Cao Xuân Hạo tai qua nạn khỏi. Cuốn sách của anh được xuất bản ở Pháp, rồi sau ngày đổi mới, các tác phẩm ngôn ngữ học khác của anh mới được xuất bản ở trong nước. ..”

Nhà thơ Thanh Thảo viết trên báo Thanh Niên số ra ngày 19 tháng 10 -2007 :

“Chúng ta đã mất một nhà ngôn ngữ học Việt Nam tài ba, một nghệ sĩ đa tài và nặng tình với nghệ thuật, một người thầy thiết tha với tiếng Việt và với học trò, một con người hiện đại nhưng lại có phẩm chất đạo đức của một nhà Nho "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất".…Và tiếng Việt vô vàn yêu thương đã không bỏ ông trong suốt cuộc đời nghiên cứu, giảng dạy hay viết lách của mình. Đó là người đồng hành cùng tiếng Việt hiện đại, và cùng tiếng Việt muôn đời. Xin vĩnh biệt ông, Thầy tôi..”

Và còn nhiều, nhiều nữa những tấm lòng tiếc thương, mến phục của những người trí thức chân chính đối với Giáo sư Cao Xuân Hạo.
Vào năm 2000 -2001, trong khuôn khổ cuộc thảo luận về đề tài “trí thức” do Tạp chí Cánh En của ông Đỗ Quyên và Phạm Hoàng tổ chức xoay quanh bài viết của Phạm Thị Hoài “ Tính cách chính thống của trí thức Việt nam “, tôi , Nhật Tuấn – bút danh Phù Vân có làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng Giáo sư Cao Xuân Hạo :
       
"Kính anh Đỗ Quyên và Phạm Hoàng,
        Nhân có ông Phan Tấn Hải, Việt báo, thông qua forum muốn tìm những  bài viết về ngữ pháp tiếng Việt của ông Cao Xuân Hạo, tôi đã ghé nhà Giáo sư để xin những tài liệu đó. Vui chuyện, tôi mạn phép làm "phóng viên " cho Cánh Én làm một phỏng vấn chớp nhoáng về đề tài trí thức mà ta đang hội thảo đây
                                                      Nay kính         
                                                      Phù Vân ( Nhật Tuấn)

Phù Vân : Thưa Giáo sư Cao Xuân Hạo, xin GS một cái định nghĩa "Trí thức là gì ?"

GS Cao Xuân Hạo : Tôi. .. không biết, nhưng tôi biết một người chắc chắn là trí thức. Đó là ông Tạ Quang Bửu, nguyên Bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp. Ông này khi làm Bộ trưởng thấy tình trạng quá ưu đãi con em công nông trong thi cử sợ chất lượng tuyển sinh không cao nên đã đề nghị công khai hoá số điểm thi, lập tức Bí thư Đảng đoàn lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tống, chụp ngay cho cái mũ là "đâm dao vào sau lưng giai cấp công nông". Từ đó ông Tạ Quang Bửu bị cách chức.

PV : Vậy còn ai là trí thức nữa .

CXH : Còn nhiều chứ ? Ông Phan Đình Diệu, ông Nguyễn Tài Cẩn, ông Hoàng Tuệ, ông Lê Mạnh Thát...

PV : Và cả Giáo sư Cao Xuân Hạo nữa chứ...
CXH : Tôi chỉ là một người làm nghề chuyên môn của mình đề phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc...

PV : Đó cũng là một định nghĩa về trí thức rồi . Vậy giáo sư có thể nói một câu thật tâm đắc về trí thức không?

CXH : "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri,thị tri dã..." Ngài Khổng Tử đã nói như thế . Câu này tưởng dễ mà rất khó...

PV : Vừa rồi có người đưa ra khái niệm "Trí thức quốc doanh" - thầy có coi là vơ đũa cả nắm không?

CXH : "Trí thức quốc doanh" - một cụm từ rất hay . Tôi hiểu đó là những người thuộc thành phần công-nông được nhà nước đưa đi đào tạo, không cần học giỏi,chỉ cần có bằng để mai mốt về... lãnh đạo, bởi thế càng ngu càng... tốt. Vừa rồi, Giáo sư Phan Đình Diệu có nói trong một cuộc hội thảo: "Tất cả những gì Nhà nước đã công nhận đều là... đồ rởm". Ông nói vậy nhưng không ai nghĩ rằng ông "vơ đũa cả nắm" cả.

PV : Là người lo lắng đến sự tồn vong của tiếng Việt, GS đánh giá thế nào về đóng góp của các nhà văn, nhất là "một pháp sư về chữ nghĩa" như nhà văn Nguyễn Tuân...

CXH : Tôi e rằng khi viết, yếu tố "bản ngữ" trong các quý vị đó bị lu mờ bởi con người nghệ sĩ. Với nhà văn Nguyễn Tuân, riêng tôi cho rằng ông đã làm ra một thứ tiếng Việt "nhân tạo"...

PV : Bản ngữ ? Nó nằm ở đâu thưa Giáo sư ?

CXH : Trong folklore, trong ca dao, tục ngữ... tiếng Việt ta đẹp lắm, giàu bản sắc lắm, nhưng cứ cái đà này 20 năm nữa tiếng Việt sẽ...

PV : Xin cảm ơn giáo sư.

Và kèm theo phỏng vấn, Giáo sư Cao Xuân Hạo đã gửi tặng bạn đọc 13 tài liệu :
1- Về cách phát âm các đại từ chỉ người và chỉ chỗ trong tiếng Sàigòn.
2- Ngôn ngữ học có thể đóng góp gì cho việc tìm hiểu Tư duy và Văn hoá Việt Nam?
3- Chút ít lương tri trong thời kinh tế thị trường .
4 – Những tri thức và kỹ năng về tiếng Việt cần được dạy và học ở trường phổ thông.
5- Về tính hiếu học của người Việt nam xưa và nay …
6- Linh hồn tiếng Việt .
7- Lỗ là một vật.
8- Mạnh hơn bão táp .
9- Chứng vĩ cuồng.
10- NGHỈ hay NGHĨ
11- NGHĨA của MÀY NGÀI
12- Về khái niệm QUY TẮC NGỮ PHÁP
13- Làm thế nào để viết đúng chính tả.
Những tài liệu trên cùng với nhiều tác phẩm giá trị khác như : Phonologie et linéarité : réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine, 1985, do Hội Ngôn ngữ học và Nhân loại học Pháp (SELAF) xuất bản, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Khoa học xã hội, 1991, Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, 1998, Tiếng Việt Văn Việt Người Việt, NXB Trẻ, 2001…sẽ làm cho tên tuổi Giáo Sư Cao Xuân Hạo ngày càng chói sáng trong ký ức dân tộc.

22-10-07

N.T..




Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

CHUYỆN XƯA- NAY MỚI NÓI - KỲ 39 - Đấu tố trở lại.- KỲ 3 : Chuyện con cua và con ếch



             (trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

   “ Tôi hình dung con cua đang giơ hai càng một cách hiên ngang như muốn thách thức với cả trời đất. Con ếch tới, vỗ nhẹ vào mai một cái, con cua vội co dúm người lại. Nguyễn Đình Thi là con cua, Tố Hữu là con ếch...”
                                                            
                                                                    
Viết xong Xung kích , rất hồi hộp... Anh chủ trương trước hết đưa cho những người mà anh gọi là “nhà văn một nửa”. Người đầu tiên là Xuân Thuỷ. Xuân Thuỷ cho là được, chỉ chê một số chỗ chưa đúng ngôn ngữ quần chúng. Tiếp theo anh đưa cho cụ Lành. Ông Lành khuyên cho mấy đoạn: đoạn tả hành quân và chi tiết anh đại đội trưởng ngồi tính giờ, ghi vào nắm tay. Cuối cùng anh đưa cho Trường Chinh. Trường Chinh khen có tính đảng: tả đúng chiến tranh nhân dân, có sự phối hợp giữa chi bộ quân đội và cấp uỷ đảng địa phương, như thế là ở đâu cũng có  đảng lãnh đạo. Trường Chinh giục in luôn để phục vụ kịp thời.
Thành công này đã làm cho Nguyễn Đình Thi tin tưởng. Anh viết tiếp Vào lửa, Mặt trận trên cao, Vỡ bờ.
Thực ra tiểu thuyết không phải chỗ mạnh của Nguyễn Đình Thi: Tô Hoài, Nguyễn Khải trước sau vẫn cho Nguyễn Đình Thi không viết được tiểu thuyết.
Năm 1970 tôi có được nghe Nguyễn Đình Thi nói về tiểu thuyết Vỡ bờ (ở trụ sở báo Văn nghệ). Anh nói Vỡ bờ  tập I, anh còn viết dưới cái cánh che chở của ông Tolstoi già. Tập II đã thoát được cái cánh ấy. Thực ra Vỡ bờ tập II rất dở. Tập I còn đỡ hơn. Mới biết dù thông minh đến đâu, con người ta cũng khó đánh giá đúng văn của mình – “văn mình – vợ người” – văn mình bao giờ chả hay.

 Vịt giời và vịt nhà.

Nguyễn Đình Thi có lần ví mình như con vịt. Bơi được một tí, bay được mấy mét và chạy lạch bạch dưới đất. Một ví von có ý tự trào về sự nghiệp của mình. Tôi chắc anh đã suy nghĩ nhiều về sự ví von này. Vì nó rất đúng với thành tựu nghệ thuật của anh và có hàm ý mỉa mai, cay đắng. Nhưng sự ví von này còn che dấu một ý khác. Anh nói, không chỉ có nghĩa khiêm tốn đâu, nếu là con vịt giời thì nó bay cao, bay xa lắm đấy.
Theo tôi, sự ví von này chứa đựng một mâu thuẫn có thực trong cuộc đời nghệ thuật của anh.
Một thanh niên trí thức, tuổi trẻ, tài cao. Mười tám tuổi đã viết sách triết học. Rồi soạn nhạc, làm thơ. Lại lớn lên đúng vào một thời kì lịch sử đầy bão táp, chẳng những chứng kiến mà còn đích thân tham gia vào những sự kiện trọng đại có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Phong trào Việt Minh, Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
Một con người như thế, gặp thời thế như vậy, tất nhiên có nhiều ước vọng lớn, muốn bay cao, bay xa, thật cao, thật xa.
Nhưng tổng kết cuộc đời mình, anh để lại được những gì? Nhạc một ít, thơ một chút, kịch dăm vở, tiểu thuyết mấy cuốn, lý luận vài tập. Nói đa tài thì đa tài thật. Nhưng chẳng tài nào được đẩy đến nơi đến chốn, được phát huy đến tột đỉnh. Cho nên có lần Xuân Diệu nói với tôi: “Không biết nên gọi Nguyễn Đình Thi là nhà gì nhỉ”.
Vì sao vậy? Có phải anh không chịu phấn đấu đâu. Trái lại thế. Không phải ngẫu nhiên mà anh đã tổng kết đời mình bằng câu thơ rất buồn của Bà huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”.
...Về tiểu thuyết thì cuốn Xung kích coi như trót lọt. Nhưng đến Vỡ bờ thì sinh chuyện. Anh ném ra cô Phượng, một nhân vật tư sản khá phức tạp nhưng có cảm tình với cách mạng. Anh muốn nói cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng của toàn dân tộc, trong đó có giai cấp tư sản. Anh rất tâm đắc với nhân vật này, một nhân vật được sống thật là mình. Nhưng người ta cho anh đi theo dòng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Cô Phượng là nhân vật Tự lực văn đoàn.
Lôi thôi trầy trật nhất là kịch. Hầu như vở nào cũng bị phê phán. Tôi đã được nghe anh than phiền về chuyện này ở Đà Nẵng (31.7.2000).
Anh nói kịch của anh kết cấu theo diễn biến tình cảm hơn là theo xung đột kịch. Đúng là kịch của anh, do đó, giầu chất thơ. Tôi cho rằng kịch của Nguyễn Đình Thi là kịch tư tưởng, có thiên hướng về chủ nghĩa nhân văn. Một lối kịch tượng trưng thường dùng biểu tượng tượng trưng để ném ra tư tưởng này khác.
Kịch như thế là trái hẳn với đường lối văn nghệ của Trường Chinh: văn nghệ phải phục vụ chính trị (hồi ấy chủ nghĩa nhân văn cũng bị phê phán vì cho là thuộc phạm trù ý thức hệ tư sản), chủ đề phải rõ ràng, không được dùng biểu tượng hai mặt.
Cho nên Con nai đen bị cấm diễn. Hoàng Văn Hoan chê chủ đề không rõ. Ông ta nói, ta đang đói. “Dân đói thì như nồi nước sôi. Phải thận trọng!”
Nguyễn Trãi ở Đông quan thì cho là ám chỉ Trung ương họp. Người ta còn đặt vấn đề: Sao không viết Nguyễn Trãi ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi anh hùng, Nguyễn Trãi chiến thắng, mà lại viết Nguyễn Trãi bị cầm tù. Còn nhân vật cô Câm thì muốn nói gì? ức mà không nói được? Thâm lắm đấy! Tác phẩm này cũng bị cấm. Thực ra lúc bấy giờ anh muốn nêu vấn đề trí thức. “Thời ấy nổi lên mấy vở kịch về trí thức: Kịch Khuất Nguyên  là trí thức và vấn đề trong đục; Kịch Galilée là trí thức và vấn đề chân lý; Nguyễn Trãi ở Đông quan là trí thức và vấn đề dân tộc”.
Đến Giấc mơ anh muốn đưa ra một vở kịch thật hiện đại: một anh thương binh ngất đi, mơ thấy nhiều cái chết: cái chết của Tần Thuỷ Hoàng, cái chết của Cléopâtre, cái chết của Chử Đồng tử, cái chết của anh thương binh. Vở kịch có một cuộc đối thoại với một gã lái buôn. Nó đi đâu cũng đem theo cái bàn tính và tay nải tiền. Cái gì nó cũng mua được hết, nhưng cuối cùng không mua được khóm tre của anh thương binh. Kịch rắc rối, lại pha huyền thoại như thế tất nhiên cũng không được chấp nhận.
Rừng trúc thì viết theo lối cổ điển thôi, nhưng có gài một chủ đề có ý nghĩa nhân văn (bên cạnh chủ đề đoàn kết đánh giặc) đặt vào lời Chiêu Thánh: “Việc nước là quan trọng, nhưng việc của con người cũng không là nhỏ”.
Còn Hoa và Ngần thì đề cập đến chuyện một cô gái, chồng đi chiến trường đã báo tử. Nhưng khi cô yêu người khác thì chồng lại trở về. Trong chiến tranh, nội dung kịch như thế tất nhiên cũng không được diễn.
Thật ra nếu những tác phẩm trên của Nguyễn Đình Thi đạt tới phẩm chất nghệ thuật cao, là những kiệt tác, thì không ai có thể phủ nhận được, không gì giết chết được. Có chôn xuống đất đen thì nó cũng sẽ đội đất chui lên. Như Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, như Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân...
Nhưng tất cả chỉ mới là những thử nghiệm. Nếu anh cứ tiếp tục thử nghiệm thì rồi có thể có lúc sẽ đạt tới độ chín, và biết đâu đấy, có thể tạo được những tác phẩm chẳng những có giá trị lâu dài mà còn mở ra được mội thời đại mới cho nền văn nghệ Việt Nam hiện đại.
Ấy là nói giả thiết thế thôi. Sự thật thì Nguyễn Đình Thi đã chùn bước. Anh sợ – Dương Thu Hương thì nói thẳng:” Nguyễn Đình Thi là thằng hèn, một trí thức hèn, từng ví mình như hạt bụi (chị nói trong cuộc gặp mặt của Nguyễn Văn Linh với văn nghệ sĩ – 10.1987).”
Không rõ bản thân Nguyễn Đình Thi có thấy mình là hèn hay không, chỉ biết có lần , trong một buổi nói chuyện ở Đại học Sư phạm Hà Nội, anh tự cho là người luôn luôn bị lỡ tàu.

Chuyện con cua và con ếch.

Năm 1983, Hà Xuân Trường thay Trần Độ làm trưởng ban văn hoá văn nghệ Trung ương. Nguyễn Văn Hạnh tiếp tục ở lại một thời gian làm phó cho Hà Xuân Trường. Các vị tổ chức một cuộc hội thảo trong ba ngày về văn học nghệ thuật. Cuộc hội thảo tập hợp rất đông văn nghệ sĩ thuộc các ngành nghệ thuật khác nhau. Nguyễn Đình Thi có đến dự. Hôm ấy tôi được chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu như thế nào. Ba ngày liền các đại biểu tự do đăng kí phát biểu. Hôm đầu, tôi hỏi Nguyễn Đình Thi có phát biểu không. Anh nói không. Nhưng đến buổi cuối cùng, anh lại nói.
 Anh bước lên, đứng trước cái bàn có phủ khăn. Đứng im, không nói gì. Mọi người im phăng phắc chờ đợi. Tưởng như con muỗi vo ve cũng nghe thấy. Bỗng anh bước ra khỏi cái bàn, vung tay hỏi hội nghị: “Chúng ta đang làm cái gì thế này?” Mọi người ngơ ngác tự hỏi: họp ba ngày, không biết mình làm cái gì nhỉ? Càng cảm phục và chờ đợi. Thi vung tay nói lớn: “Chúng ta đang làm một nền văn nghệ lớn. Và chúng ta cũng lớn!”
Đúng lúc ấy Tố Hữu đi vào. Hà Xuân Trường theo sau. Tố Hữu ăn mặc xuềnh xoàng, áo sơ mi bỏ ra ngoài quần. Người nhỏ bé.
Nguyễn Đình Thi đang hùng hồn bỗng cụt hứng, xỉu hẳn lại, không nói được nữa.
Tố Hữu ngồi ngay ghế đầu, vẫy tay nói với Thi: “Anh cứ nói tiếp đi!”. Nhưng Thi chỉ nói lý nhí mấy câu gì đó không nghe rõ, rồi bỏ đi xuống.
Tôi hình dung con cua đang giơ hai càng một cách hiên ngang như muốn thách thức với cả trời đất. Con ếch tới, vỗ nhẹ vào mai một cái, con cua vội co dúm người lại. Nguyễn Đình Thi là con cua, Tố Hữu là con ếch.
Thảm hơn nữa là sau đó, khi Tố Hữu phát biểu, Thi thỉnh thoảng lại đế vào một câu để tỏ ra rất tán thưởng ý kiến của Tố Hữu. Một thái độ nịnh hót rất lộ liễu. Lưu Trọng Lư cũng thế. Rất tội!

...Thành ra Tố Hữu rất ghét Thi. Vì Tố Hữu là tay thông minh, thừa biết Thi thực bụng nghĩ gì. Vả lại những ý kiến của Thi, thế nào chẳng có thằng tâu với Tố Hữu. Ghét nhưng vẫn dùng. Vì Thi biết sợ. Lãnh đạo ngại nhất là thằng không biết sợ. Sai không sao, ngại nhất là thằng bướng. Thằng bướng thì phải diệt ngay (như Nguyên Ngọc chẳng hạn)
Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu có lẽ còn do nguyên nhân khác: Từ rất trẻ anh đã được ngồi ghế cao: Lãnh đạo văn hoá cứu quốc, Tổng thư kí hội nhà văn, Hội văn nghệ, Đại biểu quốc hội khi mới ngoài 20 tuổi. Thi không quen ngồi dưới đất. Một tính cách dở dang: vừa muốn làm nghệ sĩ, vừa muốn làm quan. Đã muốn làm quan, đã muốn có ghế và giữ ghế thì tất phải sợ cấp trên – cấp trên trực tiếp là Tố Hữu.
Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng, Nguyễn Đình Thi chắc có một cái vết gì đấy trong lý lịch nên sợ. Những tay nịnh hót đảng, lên gân lên cốt về chính trị, nói chung là đều có vết gì đó trong lý lịch như Hoàng Xuân Nhị, Lê Văn Thiêm, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Nam Mộc, Phan Ngọc...

                                                *                      *
Khi anh ốm nặng (2004) tôi có đến thăm. Hôm ấy anh vừa được uống cổ linh chi, một thứ thuốc quý hiếm, được coi là thần dược. Người khoẻ lại hẳn. Chân tay co duỗi thoải mái. Anh thử biểu diễn cho tôi xem, có vẻ vui và tin tưởng lắm. Chị Tuệ Minh chăm sóc anh. Anh nói nhỏ với tôi: “Anh đến thăm tôi thế này là quý hoá lắm!” Rồi anh giới thiệu tôi với chị Tuệ Minh.
Vậy mà chỉ mấy ngày sau, anh qua đời.
                                                             
 Láng Hạ, ngày 1.1.2008

                      N.D.M.



HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 171 - Cột đồng …có hai cột đồng !!!





                        

Tối nay thằng Bảy xe ôm đi đâu về cười rinh rích. Chị Gái hủ tíu tò mò :

“ Mày đi đâu về, có chuyện gì cười vậy Bảy ?”

Thằng Bảy xe ôm cười hề hề :

“ Tôi vừa đưa ông khách tới nhà chị Phượng cave …chuyện tức cười lắm…mà hổng nói ra được…”

Gã Ký Quèn góp chuyện :

“ Có cái mẹ gì không nói ra được. Lại chuyện thằng chả “dê” cô Phượng cave chớ gì ? Mày nhìn trộm hả ?”

Thằng Bảy xe ôm gân cổ cãi :

“ Trộm đâu trộm. Công khai đàng hoàng …”

Gã Ký Quèn lại hỏi :

“ Mà mày nhìn thấy gì ?”

Thằng Bảy xe ôm:

“ Tôi nhìn thấy…tôi nhìn thấy…”

Nó cứ ấp a ấp úng làm cả quán lăn ra cười. Bà tổ trưởng cằn nhằn :

“ Có mỗi chuyện đó thôi mang ra nói làm gì ô uê quán người ta…”

Ông đại tá hưu xua xua tay :

“ Phát huy dân chủ cơ sở mà….đảng nói rồi ... muốn nói gì nói…không chửi  đảng, không chửi chế độ được rồi…”

Thằng Bảy xe ôm hăng lên :

“ Vậy tôi nói nha…tôi nói nè…”

Nó cứ cà lăm, cà lăm làm ông đại tá hưu sốt ruột :

“ Có gì nói cha nó ra…dứ hoài…”

Gã Ký Quèn đoán già đoán non :

“ Phải mày nhìn thấy cổ từ phòng tắm bước ra không ?”

Thằng Bảy xe ôm lắc quày quạy :

“ Không…không…cổ đang nằm trên giường…”

Ông đại tá hưu sốt ruột :

“ Nằm trên giường rồi sao ? Bộ cô cởi truồng hả ?”

Thằng Bảy xe ôm vội vàng :

“ Không … không phải truồng…mặc quần hẳn hoi…mà quần ngắn không có ống…”

Ông đại tá hưu thở hào hển :

“ Quần không có ống chắc quần xi líp hả ?”

Thằng Bảy xe ôm lại lắc đầu :

“ Không phải xi líp..quần đùi đàng hoàng chỉ không có ống thôi…”

Gã Ký Quèn sốt ruột :

“ Vậy phải ngắn…ngắn tới bẹn chớ gì ? Rồi sao nữa ?”

Thằng Bảy xe ôm cười cười :

“ Cổ nằm ngửa, hai tay chống nạnh, giơ cao cặp giò lên tựa vào tường…”

Ông đại tá hưu lắp bắp :

“ Rồi sao…? sao nữa…?”

Thằng Bảy xe ôm gọn lỏn :

“ Có vậy thôi…”

Bà tổ trưởng cao giọng :

“ Có vậy thôi à ? Tưởng quần thảo nhau đổ giường đổ ghế ấy chớ …”

Thằng Bảy xe ôm cười hì hì :

“ Có điều….”

Ông đại tá hưu sốt ruột :

“ Có điều sao mậy ?”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Có điều …cẳng chân chị Phượng cave nom như cái …cột đồng Mã Viện …”

Chị Gái hủ tíu thắc mắc :

“ Cột đồng Mã Viện là sao ?”

Gã Ký Quèn giảng giải :

“ Mã Viện là thằng tướng tàu. Sau khi sang xâm chiếm nước ta nó chôn một cái cột đồng có ghi “ đồng trụ triết…Giao Chỉ diệt’…tức là cột đồng mà gẫy nước Giao Chỉ bị diệt…Sau người Nam đi qua đó, lại vứt xuống hòn đá chôn luôn trụ đồng để khỏi gẫy…”

Ông đại tá hưu quát :

“ Thằng Bảy xe ôm kia…cột đồng Mã Viện có một cái…cẳng chân cô Phượng cave lại hai…mày ví von vậy sao được ?”

Thằng Bảy xe ôm gân cổ cãi :

“ Thì rút kinh nghiệm Mã Viện , ngày nay tàu nó trồng hai cột , chôn cái này còn cái kia …”

Gã Ký Quèn cười đểu :

“ Vậy nó trồng hai cái cột ấy ở đâu ?”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Chắc một cái ở Hànội … một cái ở Sàigòn …nhưng tối mật, Việt Nam không ai biết...chỉ hỏi  đồng chí Tổng Bí thơ Tập Cận Bình may ra …”



Cả quán cười ồ, trừ ông đại tá hưu và bà tổ trưởng…



28-7-2014












Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

CHUYỆN XƯA- NAY MỚI NÓI - KỲ 38 - Đấu tố trở lại.- KỲ 2




         Nguyễn Khải bạo miệng ...

       (trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)

                                 NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

“Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu cũng chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền, dùng nước bọt mà giành được nước. Cộng sản chỉ toàn đào tạo gia nhân, đầy tớ, bọn nịnh hót...”

Nguyễn Khải khác hẳn Nguyên Ngọc. Thiết thực, không phiêu lưu mạo hiểm, không muốn chết, không muốn đi tù. Anh tự nhận luôn là thằng hèn cho người ta khỏi phải bàn tán lôi thôi.
Sau cuộc hội nghị nhà văn đảng viên, bản đề cương của Nguyên Ngọc bị Tố Hữu đánh, Nguyễn Khải vốn nhất trí với Nguyên Ngọc trong vụ này, nên sợ quá. Anh nói thẳng với Nguyên Ngọc: “Tao nhát lắm, chưa đánh đã khai. Cho tao chạy đi thôi, mày thông cảm, đừng khai tao ra nhé”.
Nguyễn Khải rất thiết thực và tỉnh táo, vậy mà cũng có lúc mê muội. Tôi gọi là dại – tôi đã viết như thế về Nguyễn Khải trong bài Dại khôn Nguyễn Khải. Mới biết cái danh, cái lợi cũng dễ mê hoặc lắm. Hồi được gọi ra Hà Nội để chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ tư (Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh dự định sắp đặt Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc làm chánh, phó Thư kí Hội Nhà văn). Nguyễn Khải xem ra cũng hăng hái lắm. Anh nói với tôi y như là sẽ làm Tổng thư ký đến nơi: Anh phẩy tay  : “Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên thì phế cả đi! Còn về lý luận phê bình thì anh phụ trách cho tôi. Nhưng ta phải khôn khéo, đổi mới nhưng phải khôn khéo. Trần Độ cứng quá, cứ ỉa ra đấy cho người ta phải dọn. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu! Nếu cần quỳ xuống lậy, ta cũng phải quỳ”.
... Như vậy là đọc văn hay viết văn, Nguyễn Khải rất chú ý đến tư tưởng của tác phẩm. Nhưng ở anh, có một mâu thuẫn: một mặt muốn phát biểu tư tưởng riêng, vì ý nghĩa của văn chương là ở đấy. Nhưng mặt khác lại muốn sống yên ổn với đời nên chỉ có thể mạnh dạn nửa vời, mạnh dạn trong một khuôn khổ nào đấy thôi. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu, chắc anh luôn luôn tự dặn mình như thế. Vả lại nghĩ đi nghĩ lại, anh không thể quên công ơn của cách mạng đối với mình. Từ một cậu bé con rơi con vãi, sinh ra đã bị khinh bỉ, bị lăng nhục, sau cách mạng trở thành nhà văn có danh, có lợi đủ cả. Cũng phải biết điều một chút chứ!.
Thông minh và tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn có ý thức về thân phận của mình, về cái giá trị của mình đối với đời. Anh kể chuyện, hồi anh là đại biểu quốc hội, đi ôtô từ Ba Đình về nhà khách. Đến chỗ đường tàu, xe phải dừng lại cùng một số đồng bào đi xe đạp, xe máy. Anh nhìn xuống, thấy rợn người: có một tay đang nhìn lên anh, cặp mắt đầy căm thù. Anh nghĩ mình cũng chỉ là loại nghị gật, vô tích sự, thằng ăn hại, dân nó khinh ghét là phải.
Chiến thắng 30.4.1975, anh đi vào Nam. Gặp Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Oánh. Anh cảm thấy Ngọc và Oánh nhìn mình như muốn nói: “ Mình chiến đấu gian khổ bao lâu không thấy mặt nó đâu, bây giờ chiến thắng rồi, nó vào. Rồi nó sẽ viết nhiều, viết hay hơn mình cho mà xem!”. Nguyễn Khải nói: “Biết thân phận thế, tôi cứ ngồi len lén, không dám nói năng gì”.
Mà cái tài của Nguyễn Khải là thế thật, có cần đi thực tế gì đâu. Trước 1975, anh chỉ ngồi ở ngoài Bắc mà viết về HoàVang chiến đấu như thật. Cho nên có ai đó đã làm vè giễu anh:
Anh đi anh lại về ngay,
Hoà Vang cũng ở ngoài này đó em.
                                                  *                  *
                                                            *
Nói chuyện với Nguyễn Khải, tôi không ngờ hồi mới vào Sài Gòn, loại văn nghệ sĩ cỡ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải mà khổ đến thế: “Vũ Thị Thường nói, đi đường chỉ mong nhặt được tiền ai đó đánh rơi. (Hệt như câu nói của Hoàng Ngọc Hiến hồi ấy: “Đi đường thấy có một đồng xu rơi cũng phải nhặt. Kiếm đâu ra một xu bây giờ!”)
“Chế Lan Viên ở quận Tân Bình chỉ thèm ăn một bữa ngon, phải ra tận quán bà luật sư Huỳnh Ngọc Đại để được bà ấy đãi một bữa cơm Tây. Ai mời, đâu mời cũng đi. Chỉ để kiếm bữa ăn thế thôi, và xách về một chai nước mắm hay mấy cân gạo nó cho. Nguyễn Khải cùng đi với Chế Lan Viên. Một thằng làm thơ, một thằng viết ký, một ca sĩ đi theo hát. Tôi gọi là hai kép, một cô đầu cùng đi kiếm bữa ăn và ngồi nghe mấy tay giám đốc dốt nát vào đấy ba hoa. Nó có tiền nên hai nhà văn cứ phải gật gù nghe nó dạy dỗ”.
Nguyễn Khải có nhiều ý kiến rất táo bạo:
“Đảng không bao giờ coi trọng trí thức, biến trí thức như Hoàng Xuân Nhị thành hèn hạ. Mà bị nó khinh. Tôi từng gặp Hoàng Xuân Nhị ở nhà Tố Hữu. Tố Hữu không thèm nói chuyện với ông ta, cứ để cho ông ta ngồi một mình. Tóc bạc phơ. Tố Hữu chỉ nói với tôi là một thằng còn rất trẻ. Trần Đức Thảo thì bị biến thành một thằng thần kinh. Sang Pháp, bao nhiêu Việt kiều mời đến, không đến, cứ ở Đại sứ quán, tuy bị nó khinh như chó.
Thuỵ An thì bị tù. Trong tù đi lao động, ngã vào dây thép gai, bị mù một mắt. Nay vẫn ở Sài Gòn, sống rất khổ. Không đi Pháp vì là con gái lớn phải ở lại nuôi mẹ già...”
“Chúng ta thuộc lứa người bị bỏ phí cả một thời trai trẻ để học theo một cái lý thuyết vớ vẩn, chả nghĩ ra được cái gì, chẳng làm ra được cái gì trong giới hạn của chủ nghĩa Mác – Lê - một thứ triết học của người cầm quyền. Mà có hiểu Mác – Lê thực đâu. Toàn nghe lãnh tụ nói và nói theo. Trong cái khung của một ý thức hệ, còn ai nghĩ ra được cái gì nữa. Chủ nghĩa Mác thành ra một thứ tôn giáo. Tin mà không hiểu. Bao người hy sinh vì cái lý thuyết vớ vẩn ấy. Chủ nghĩa xã hội toàn đẻ ra những con người quái gở như Mao Trạch Đông, Staline, Pônpốt, rồi Nguyễn Chí Trung..., toàn lũ điên”.
“ Ta có một thời cứ tin tưởng ở cái không có. Như tin ở chủ nghĩa xã hội”.
“Chính trị và quan điểm giai cấp trùm lên tất cả. Con người không có tình bạn. Bạn bè mà có vấn đề chính trị là không được quan hệ”.
“Chủ nghĩa xã hội nếu không thay đổi thì con người thành mọi rợ, rừng rú. Từ ăn,  ỉa, mặc, ở... Sợ quá!”
Nguyễn Khải nói về uy quyền ghê gớm của Lê Đức Thọ một thời. Anh chứng kiến Sáu Bắc (Lê Đức Thọ) tiếp Sáu Nam (Lê Đức Anh). Hôm ấy, Thọ gọi một số văn nghệ sĩ đến hỏi chuyện. Thọ đang tiếp khách. Bọn Khải phải ngồi đợi ở phòng bên cạnh. Lát sau, khách ra về. Hoá ra khách là Lê Đức Anh. Nguyễn Khải thấy Lê Đức Anh đi ra, cứ đi giật lùi, giật lùi ra mãi giữa sân mới dám quay đít lại. Thọ tiếp chúng tôi. Đúng lúc ấy thấy Phạm Hùng đi sang. Hùng đề nghị gặp Thọ một lát. Thọ phẩy tay: “Để lúc khác nhé, giờ đang bận tiếp khách văn chương”. Thọ coi Hùng chẳng là cái gì, tuy Hùng lúc đó là thủ tướng, thay Phạm Văn Đồng ”.
“Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu cũng chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền, dùng nước bọt mà giành được nước. Chỉ nói, có làm gì đâu. Nói đủ cả, chẳng làm gì. Thí dụ, cứ nói phê bình tự phê bình mà chưa bao giờ phê bình tự phê bình cả. Có dám nói thật đâu mà phê bình tự phê bình. Chỉ toàn đào tạo gia nhân, đầy tớ, bọn nịnh hót. Sợ văn học cũng vì thế. Vì văn nó nói sự thật, nó lật tẩy. Rất sợ biểu tượng hai mặt. Chỉ đề cao văn tuyên truyền, đề cao vè. Thật ra bọn nhà văn nói chung nhát, không dám chống chế độ đâu!”.
“ Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm à? Tôi phụ trách ông kia mà! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định. Thí dụ, ban chấp hành bàn có nên kết nạp Phan Quang không? Mọi người chờ ý kiến của Chế Lan Viên. Chế lan Viên đi đái vào, nói: “Thằng Thép Mới nó còn ở ban chấp hành được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được!”. Ai cũng gọi là thằng tuốt; Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung Thông, chẳng sợ ai cả. Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên. Phải về nhà mới nghĩ ra cách bác lại, nhưng hôm sau, không còn lý do để tranh cãi nữa, vì lão ấy lại nói chuyện thân mật”.
“Nhưng Chế lan Viên chết rất khổ. Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt. Gần chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế lan Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dạy mới có sức mà khóc”.

                                        *                  *
                                                  *
Tôi gặp Nguyễn Khải lần cuối cùng ngày 24.7.2007 (cùng với Hồ Quốc Hùng). Tất nhiên khi anh mất rồi mới biết đấy là lần cuối cùng: Thật không ngờ! Tôi cứ tưởng sẽ còn nhiều lần được gặp anh. Anh với tôi cùng sinh một năm (1930), nhưng anh  còn sinh sau tôi tới chín tháng (tôi sinh đầu năm – tháng ba, anh sinh cuối năm – tháng chạp).
Anh đi đâu về. Trông thấy anh, tôi bấm bụng cười thầm vì chợt nghĩ đến nhận xét rất đúng nhưng rất tục của Đỗ Chu hồi nào: “Răng hơi hô, trông lúc nào cũng như hớn hở, đi ngực ưỡn, hai tay ve vẩy, trông như con đàn bà nứng l..”.
Nhưng bây giờ thì anh có vẻ yếu rồi, chống ba toong, cao lênh khênh, đi lòng khòng.
 Anh vẫn nói nhiều. Nào chuyện tướng tình báo Phạm Xuân ẩn, kho tài liệu giúp anh viết về chính quyền Sài Gòn, nào chuyện cải cách ruộng đất xoá sạch thành tích cách mạng, chuyện Chế Lan Viên chết rất khổ. Khổ mà rất khí khái, không xin xỏ gì hết, tuy Tố Hữu, Hà Xuân Trường đến thăm luôn, chuyện Nguyễn Tuân, chuyện Nguyễn Huy Thiệp, chuyện Cụ Hồ và tướng Giáp rất giỏi nín nhịn...
 Anh nói rất nhớ Hà Nội. Thèm không khí Hà Nội. Vào Sài Gòn anh chẳng chơi với một bạn mới nào. Ra Hà Nội bây giờ cũng lại chỉ đến những bạn cũ đã già. Không nói chuyện với đám trẻ được. “Người ta nói sáu mươi tuổi thì tính năm, bẩy mươi tính tháng, tám mươi tính ngày... Tôi muốn sống lâu để xem thời thế ra sao. Lịch sử do con người làm ra, làm sao biết trước được!”
                                        *                  *
                                                  *
Ngay sau khi Nguyễn Khải mất, tôi có anh bạn (Hoàng Dũng) trong Nam ra Hà Nội, nói Nguyễn Khải chết không có đất chôn.Đúng ra là không được chôn ở nghĩa địa Sài Gòn (tại Thủ Đức), phải đưa lên nghĩa địa Củ Chi rất xa. Tiêu chuẩn được chôn ở Thủ Đức, ngoài những ông thành uỷ viên hay trung ương uỷ viên không kể, phải có 65 năm tuổi đảng. Trần Duy Châu, nguyên hiệu phó Đại học Sư phạm Sài Gòn, khi chết mới có 58 tuổi đảng, không đủ tiêu chuẩn, phải đưa đi Củ Chi. Nguyễn Khải tất nhiên cũng phải đưa đi Củ Chi.
Võ Văn Kiệt thấy thế chắc lấy làm xấu hổ, nên can thiệp. Ông tuyên bố nhường suất chôn ở Thủ Đức của ông cho Nguyễn Khải.
                                                    
 Láng Hạ 23.1.2008.




CHIM HÓT TRONG LỒNG - Tiểu thuyết NHẬT TIẾN -KỲ 4




                                    (tiếp theo)

                                            Chương 8 
 
Thứ hai 5 tháng 1...
 
Má ơi má,
 
Má làm nghề điếm phải không má.  Chú con Hằng nói chuyện với nó thế.  Con hỏi điếm là gì thì nó cũng không biết.  Vì chú nó chỉ nói thế thôi.  Có thật không má?  Sở đíếm của má có to không?  Má làm chức gì ở trong ấy?  Mà sở điếm thì buôn bán gì hở má.  Sao má cứ giấu con.  Nhưng thôi, con không cần hỏi má nữa.  Con hỏi ma soeur cũng biết.
 
Mấy ngày đi chơi với má vui quá.  Bây giờ ngồi nghĩ lại thấy tiếc thời gian đi thật là nhanh.  Con chỉ mong có Noel cả năm để được về với má.  Sang năm má lại cho con đi như thế nữa nhé.  Lần đầu tiên con được ra vùng quê.  Bây giờ con hãy còn nhớ những bông lúa vàng mà nắng càng làm cho nó vàng thêm.  Con nói chuyện đồng ruộng mông mênh, có những con cò trắng bay trên trời xanh cho chúng nó nghe nhưng chưa đứa nào được đi cả.  Chúng nó chỉ kể được chuyện đi xem đèn ở nhà thờ, ăn reveillon ở nhà bạn chán lắm má ạ.
 
Má ơi má, sáng hôm nay về, má có đi docteur không.  Hôm má ho con sợ quá, mà bây giờ vẫn còn sợ.  Dạo này má xanh lắm, má phải chăm uống dầu cá với sirop mới được.  Má hứa với con gái má đi nào.  Con cũng chả uống đều là gì.  Mà dạo này đêm ngủ má hay giật mình lắm nhé.  Có hôm má còn nói mê nữa.  Sao má không gọi ba về đưa má đi chữa thuốc.  Ba tệ lắm con ghét ba rồi.  Con không thèm hỏi thăm ba nữa đâu.  Vì ba có viết cho má lá thư nào đâu.  Má nói dối.  Hôm má đi chợ, con tìm trong ví, trong va-ly của má chẳng thấy lá thư nào cả.  Nhưng má đừng giận con nhé má .  Con không làm mất gì đâu.  Con cũng không tò mò đâu.  Nhưng con định ghét ba thì con tìm thư của ba đấy.  Cả Gigi cũng ghét ba nữa.  Chị Hai bảo chỗ ba làm cách nhà ta mấy chục cây, sáng đi, chiều về được mà ba không thèm về.  Má phải viết thư lên trách ba mới được nhé má.  Có lẽ tại vì ba, mà má buồn đấy.  Má cười không vui nữa.  Mà những lúc không nhìn con thì mặt má cứ rầu rầu.  Con biết má ạ.  Nhưng con chỉ thương má thôi.  Nếu má thấy nhớ con thì má cứ đến trường đón con ra.  Con bỏ học về với má một hôm cũng được.  Con không bắt má dẫn đi xa nữa.  Chỉ nằm với nhau thôi.  Con kể chuyện cho má nghe, gãi lưng cho má, nhé má.
 
Má ạ, Gigi bẹp mất một mảng đầu rồi, vì đêm nằm con đè lên nó.  Chắc là nó khóc “tiếng nó” ghê lắm má nhỉ.  Con vội vàng đem nó đến đốc-tờ Hương, là con Hương ấy.  Này nhé, Gigi có con là chị này, có con Hằng là ma soeur này, có con Thúy là chị Hai thổi cơm cho nó này, lại còn con Hương là docteur nữa.  Hôm nó bị bẹp đầu ai cũng đến hỏi thăm.  Rồi tất cả đem cáng nó xuống bếp tìm chị Hai thật, để xin chị ấy bát nước sôi.  Cúng con nhúng đầu nó vào đấy.  Nhưng nó không khỏi.  Con Thu bảo nó chết rồi, định bàn đem nó ra chôn ở vườn.  Nhưng đời nào con nghe.  Gigi không đau mấy đâu, để nó ngồi mắt nó vẫn mở, mồm nó vẫn cười.  Bao giờ thì nó cũng cười má nhỉ.  Bây giờ thì Gigi phải nằm ở bệnh viện nhà con Hương.  Hương bắt nó phải dưỡng bệnh những một tuần.  Đêm Hương ôm nó ngủ, thỉnh thỏang lại cặp sốt cho nó.  Thế mà con cũng phải tốn về nó 15 cái bonpoint tiền chữa chạy rồi đấy má ạ.
 
Kỳ sau má đến con sẽ bế cả nó về cho má hỏi thăm nó.
 
Yêu má, nhớ má, hôn má thật nhiều.
 
HẠNH và GIGI

                                                  Chương 9 
 
Thứ tư 14 tháng 1...
 
Má yêu quí,
 
Tuần vừa rồi vì bận má không vào, nên chị Hai xin phép ma soeur dẫn con đi lễ nhà thờ.  Đến chín giờ thì hai chị em vào ăn bánh cuốn.  Bánh cuốn nóng ngon lắm má ạ.  Kỳ sau mình đừng đi ăn phở nữa.  Con dẫn má đến đấy cho má ăn thử mà xem.  Con định dẫn chị Hai về thăm nhà cho chị ấy biết, nhưng sợ má giận, con lại thôi.  Con vẫn nhớ lời má dặn rằng nếu má không đến đón thì không được tự tiện về nhà.  Đi ở ngòai phố con chỉ tòan nghĩ đến má và kể chuyện về má.  Không biết vào giờ ấy má làm gì, đi đâu.  Sao sở của má lắm việc thế.  Chủ nhật cũng bắt người ta làm việc.  Bận sau má là cố ngày thứ bảy để chủ nhật dẫn con gái má đi chơi, má nhé.  Ngòai phố hôm nay vui lắm.  Trời không mưa nhưng có nhiều mây.  Cây cối trụi hết lá nom đẹp như bức tranh má treo ở nhà.  Đường nhà thờ đông ghê lắm má ạ.  Con bận váy vàng, áo len xanh, đi đôi dép đỏ mà má mới mua.  Con cũng quàng phu-la ở ngực nữa, má đừng lo.  Sáng nay trước khi đi, con cũng uống dầu cá rồi.  Con cũng bế cả Gigi đi theo nữa.  Chị hai hỏi má đi làm gì, con đáp rằng:
- Má giữ chức giao dịch ở sở Import-Export bán đồ thêu ra ngọai quốc.
 
Đúng không má?  Con đố má tại sao con biết nào?  Con không đóan được đâu.  Nhưng con đã hỏi ma soeur Félicité hôm thứ bảy vừa rồi đấy.  Hôm ấy sau giờ cầu kinh buổi tối, con chạy lên tìm bà hỏi rằng:
-        Thưa ma soeur, ma soeur bảo cho con biết điếm là gì?
 
Bà ấy ngạc nhiên lắm, bà ấy kéo con vào phòng hỏi nhỏ:
-        Ai dạy con thế?
 
Con vội vàng đáp:
-        Thưa ma soeur má con làm ở sở điếm mà con không biết điếm là gì.
 
Bà ấy vội vàng trả lời:
-        À, thế à, sở điếm là sở xuất cảng những hàng thêu ra ngọai quốc. Nhưng người ta không gọi là điếm đâu.  Tiếng ấy nhà quê lắm.  Con phải nói là Import-Export thì mới đúng.
 
Rồi bà ấy bắt con nhắc lại hai chữ Import-Export đến hàng chục lần.  Cả đến tối hôm qua cũng hỏi lại con nữa.
-        Còn thế mà má cũng dấu con.  Sau này nếu con lớn lên con cũng làm điếm như má, cũng cho Gigi đi học như má đã cho con đi học.  Khi ấy thì con kiếm được tiền rồi, má không phải vất vả nữa.  Mà chỉ ở nhà đọc sách thôi.  Chủ nhật ba mẹ con lại dẫn nhau đi nhắt búp đa ở trên đường ngọai ô má nhỉ.  Con sẽ cố học để được như thế.  Mà đấy má xem, trong livret tháng nào con cũng nhất đấy nhé.
 
Buổi chiều hôm chủ nhật vì con không ra ngòai nên ma soeur Lucie gọi lên văn phòng cọng sổ chi tiêu.  Đến ba giờ xong thì con và bà ấy ngồi với nhau ở bên kính cửa trông ra vườn.  Cảnh vật buồn ghê má ạ.  Con càng thêm nhớ má.  Con lại khóc đấy.  Nhưng soeur Lucie lau nước mắt cho con và bảo con gái lớn không được khóc.  Rồi bà ấy lên đánh đàn piano cho con nghe.  Âm nhạc thật là đẹp và cao quí.  Tiếng đàn thánh thót ở trong phòng, đi ra ngòai cửa sổ, rung rung ở trên kính cửa.  Con ước ao cũng chơi đàn được như bà ấy.  Con sẽ đánh cho má và Gigi nghe vào những hôm buồn như thế này hoặc những đêm trời có trăng sáng.  Má sẽ hát má nhé.  Má hát bài Ce n’est qu’un au revoir mọi khi.  Còn Gigi thì ngồi ở bên cạnh bản nhạc.  Nó chỉ được nghe và vỗ tay thôi.
 
Tối thứ hai con định viết thư cho má nhưng bị hỏng điện nên tất cả phải đi ngủ sớm.  Con nằm mơ thấy má bận áo quần trắng trắng tóat, đầu đeo vòng hoa trắng đi thướt tha ở trên đỉnh ngọn đồi có nhiều cỏ xanh.  Phía đằng xa là một cái gác chuông nhà thờ có những thằng bé đang đứng rung chuông.  Rồi một lát má vẫy chúng nó.  Chúng nó cười vớ má rồi leo qua cửa sổ nhà thờ mà chạy về phía má.  Má giang hai tay ra đón cái bọn cũng bận hòan tòan quần áo trắng.  Rồi chúng nó hợp thành một đòan vừa đi vừa hát.  Má đánh piano cho chúng nó theo nhịp.  Má không đi về phía trường con mà lại đi lại đàng xa.  Con và Gigi gọi theo.  Cả hai chị em ngồi lủng lẳng ở trên cành cây bàng rụng lá trong sân trường.  Chưa lần nào chúng con trèo cao đến như thế...
 
Tỉnh dậy con khóc mãi.  Má đừng bỏ con và Gigi nhé má.
 
Nay mai con học đàn rồi cũng đánh đàn cho má nghe.  Chúng con cũng yêu má.  Yêu má nhất ở trên đời.  Cắn má một cái.
 
HẠNH và GIGI 

                                                        Chương 10 
 
Thứ hai 16 tháng 1...
 
Thưa má,
 
Lá thư mà má sai con gửi cho bà Félicité ngay tối hôm qua nhưng con không đưa được vì bà ấy đi vắng.  Con nhớ lời má không được mở ra xem cà đem cất ở dưới gối.  Nhưng đến tối thì bọn con Hương đã lôi ra xem với nhau từ lúc nào.  Lúc chúng nó trả con thì con mới biết.  Chúng nó hỏi con:
-        Má mày làm sao lại phải van xin bà ấy như thế.  Má mày làm sao mà khóc nhòe cả thư đến như thế.
 
Con chỉ biết khóc mà không biết trả lời thế nào.  Con cũng không đọc thơ ấy của má vì con vâng lời má.  Má thật khó hiểu.  Má khổ như thế mà má không nói cho con.  Má không yêu con nên mới dấu con như thế.  Con trao lại cho Ma soeur Félicité rồi.  Nhưng tại sao má khóc.  Ai đánh má, ai mắng má.  Con không chơi với má nữa đâu.  Sao hôm qua má chẳng nói gì với con.  À, thôi con nghĩ ra rội lúc buổi trưa nằm ngủ với má, má hôn con rồi má khóc.  Thế mà má lại bảo rằng có con muồi bay vào mắt má.  Má khóc thật hở má.  Má buồn lắm phải không má.  Thôi, con không học nữa đâu.  Má đón con về đi.  Con ở nhà với má, nói chuyện với má cho má vui.  Học như thế này thì chán lắm má ạ.
 
Đáng kiếp cho bọn con Hương, lúc con đưa thư cho ma soeur Félicité rồi con mách chúng nó.  Bà ấy bắt chúng nó quì suốt cả buổi trưa ở ngòai hiên.  Chúng nó ghét con lắm.  Chúng nó không làm docteur, và cô giáo cho Gigi nữa.  Tội nghiệp Gigi quá.  Má ơi, má viết cái gì cho ma soeur thế.  Hay là ông chủ sở của má mắng má, hay là ba ghét má rồi.  Con thì con ghét ông ấy, không thèm nhắc đến ông ấy nữa.  Chẳng bao giờ ông ấy viết cho con chữ nào.
 
Má ơi, má đừng khóc nữa: Má đã ho mà lại còn buồn thế thì rồi ốm đấy.
Má có thương con và Gigi không?
 
HẠNH và GIGI
                                               (còn nữa)

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

CHUYỆN XƯA- NAY MỚI NÓI - KỲ 37 - Đấu tố trở lại.- KỲ 1


                    


Mặc dầu các nhà lãnh đạo đảng ra sức trấn an trí thức và nhà văn. Nào “ Đảng khuyến khích sự phản biện”, nào “văn nghệ sĩ trí thức là vốn quý của dân tộc”, nhưng thực tế ngược lại. Mấy năm trước , Giáo sư TS, nhà giáo nhân dân Nguyễn Đăng Mạnh viết một tập hồi ký và mới chỉ lấp ló xuất hiện trên mạng, đã bị sức ép của nhà cầm quyền buộc phải tuyên bố rút xuống tập vì ông viết không nhằm để...lan truyền.
Mặc dầu vậy, đảng và Nhà nước vẫn không “tha”, một chiến dịch đấu tố “huy động” gần hết những cây bút “bảo vệ Đảng” hăng hái nhất, lưu manh, tàn độc nhất, người nách thước kẻ tay đao, ào ào xông tới, bổ tới tấp lên đầu ông giáo già tội nghiệp khiến ông phát bệnh phải vào nhà thương mà họ cũng chưa chịu buông tha.
Chiến dịch “đánh đòn hội chợ” Giáo sư  Nguyễn Đăng Mạnh khiến người ta nghĩ tới hình thức đấu tố từ thời cải cách ruộng đất đang bừng bừng sống lại ngay giữa  thời đại phát triển rầm rộ của mạng lưới thông tin toàn cầu.
Mở hàng là một kẻ giấu mặt tự xưng Hà Bình Trọng mà các cư dân trên mạng đã lật tẩy chính là Mai Quốc Liên, một cây bút đánh phá đổi mới cực kỳ hung hãn. Mở đầu bài viết, chưa kịp dùng lý lẽ phân tích, ông ta đã giở  giọng mạt sát :
“Thần thoại Hy Lạp có chuyện cái chuồng ngựa của vua Augeas tích luỹ phân bẩn từ quá lâu, chỉ có dũng sĩ Heracles mới tẩy rửa được - Heracles khơi cho dòng sông Alpheus chảy xuyên qua chuồng ngựa mới làm trôi hết chất bẩn ở đó cho chuồng ngựa trở nên sạch sẽ. Tập Hồi ký của Giáo sư NĐM cũng có thể ví với cái chuồng ngựa Augeas đó, tích luỹ lâu năm nhiều chất bẩn, không dễ gì có dòng nước nào tẩy uế được. Người ưa thích sự sạch sẽ chỉ có cách xa lánh nó kẻo bị ô nhiễm mà thôi. Tiếc rằng cái chuồng ngựa bẩn ấy lại được xem là một thứ văn chương mà chỉ cái mạng điện tử ngày nay mới chứa đựng nổi. Những thứ cặn bã, rác rưởi thối tha đó thật không có dũng sĩ Heracles nào ngày nay có thể tẩy uế hết được.”
Tiếp tục giọng điệu đấu tố, Hà Bình Trọng – tức Mai Quốc Liên cất giọng chửi bới xoe xoé , mạt sát ông Giáo sư như một mụ nhà quê mất gà :
“Tục ngữ có câu: “Ngậm máu phun người, miệng mình bẩn trước”. Trong hồi ký của mình, từ bản thân tác giả và một vài người mà anh ta hâm mộ hoặc đồng loại, nhiều người bị anh ta làm công việc ngậm máu phun lung tung bôi bẩn bằng nhiều cách mà phổ biến nhất là bịa chuyện và đưa chuyện. Như một mụ đàn bà lắm mồm, lắm chuyện, tọc mạch lại hay hóng hớt đủ các chuyện riêng, chuyện kín của người khác rồi “ngồi lê đôi mách” từ đầu làng sang cuối chợ, kể cho hết người nọ đến người kia để lấy đó làm thích thú, đắc ý, tự cho mình hiểu biết nhiều và có tài kể chuyện, không kể gì đến danh dự người khác và phẩm hạnh của chính mình.”
Sau khi nêu đích danh tên tuổi ông Giáo sư, tên biệt kích trong văn chương tiếp tục hạ đòn :
“Thông minh nhưng ranh mãnh, mưu mẹo, cả một chút thâm hiểm, độc ác, hợm mình, khinh người, cũng biết luồn cúi, nịnh hót khi cần thiết và đúng đối tượng. Những tính cách này không được triển khai hoàn toàn do hoàn cảnh kháng chiến, sự giáo dục trong nhà trường, trong xã hội dù sao cũng có tác dụng kiềm chế, giúp anh ta đẩy lùi các tính xấu đó vào bên trong, cố gắng thích nghi với cuộc sống gian khổ, đạm bạc, trong sạch những năm dài kháng chiến. Tuy vậy, bản thân anh ta vẫn còn nguyên, chỉ không có dịp bộc lộ ra. Để sinh tồn và tiến thân, anh ta luôn luôn phải đóng kịch, đóng kịch mãi cũng trở nên thành thạo có nghề, “diễn như thật”.
Mạt sát không biết ngượng mồm chán chê rồi, quay sang xỉ vả  :
“ Chính NĐM chứ không ai khác đang chết một cách nhục nhã, vì ảo tưởng “vĩ cuồng” của mình. Đây cũng là mưu toan tiến thân lớn nhất, cao nhất của anh ta về cuối cuộc đời, tính làm một cuộc “làm ăn” to nhất.
Nghe nói anh ta tuyên bố muốn rút lại “tác phẩm” “chung thân tự thuật” này của mình, nhưng có lẽ đã muộn rồi. Trót vì tay đã nhúng chàm/ Dại rồi còn biết khôn làm sao đây. Trước công luận xã hội cũng như văn chương, trong nước cũng như ngoài nước, bản án đã tuyên, phán xét đã quyết. Hơn ai hết, với kinh nghiệm một cuộc đời dù sao cũng là một trí thức kháng chiến và cách mạng, một đảng viên (chưa bị khai trừ), một người cầm bút ít nhất cũng còn “nhất điểm lương tâm” chút ít ý thức về chân lý và đạo lý, NĐM có thể nhân đây nhìn lại con người và cuộc đời của mình để nó khỏi phí uổng và kết thúc nó trong thân phận nhục nhã, tội lỗi của một kẻ cơ hội và phản bội.”
Ông cựu Phó Tổng thư ký Hội nhà văn Vũ Tú Nam dẫu đã về hưu cả chục năm nay cũng hăng hái xông ra đánh hôi :
“ Tác giả viết về Hồ Chủ Tịch không mấy thiện cảm, lại có phần giễu cợt. Căn cứ vào những “tư liệu” vu vơ, Nguyễn Đăng Mạnh đã bóp méo hình tượng Anh hùng dân tộc và Danh nhân văn hoá thế giới của Hồ Chủ Tịch, xúc phạm nặng nề nhân dân ta luôn quý trọng Bác Hồ. Tác giả có thể là đã nhìn Hồ Chí Minh như một con người bình thường, nhưng chính tác giả đã tầm thường hoá nhân vật một cách có chủ ý. Đó là điều không thể chấp nhận được.”
Quy kết vào tội chính trị xúc phạm hình tượng bác Hồ vậy là chết ông Giáo sư rồi. Chưa hả giận, ông Vũ Tú Nam còn kích động cả dân Nghệ An và  Huế chống lại Nguyễn Đăng Mạnh :
“Nguyễn Đăng Mạnh đã khái quát các nết xấu của người Nghệ An, người Huế như là một chân lý. Đồng bào Nghệ An và Huế chắc sẽ có phản ứng về nhận định này.”
Mao “nhiều” hơn cả Mao-ít , Nguyễn Văn Lưu cũng hùng hổ nhảy vào góp đòn hội chợ :
“Nguyễn Đăng Mạnh tỏ ra không có lòng nhân, thiếu đi cái gốc, cái căn bản của kẻ cầm bút. Ai có mâu thuẫn, có đụng chạm đến lợi ích của Nguyễn Đăng Mạnh là bị chửi tất, chửi tuốt. Có thể nói, Nguyễn Đăng Mạnh đã tả xung hữu đột, “đánh” từ trong Hội nhà văn đánh ra, đánh từ khoa ngữ văn của mình, đánh vào giới đại học. Từ Hà Nội, Vinh, đến Thành phố Hồ Chí Minh. Đánh từ người còn sống đến người đã chết. Đánh người lạ, đánh cả người thân, đánh chuyện học thuật văn chương, đánh chuyện đời thường, sinh hoạt nam phụ lão ấu, Đông Tây Nam Bắc… “đánh tất”.
Chửi Nguyễn Đăng Mạnh chán chê rồi, Nguyễn văn Lưu giở giọng xỏ xiên :
“Có điều, chửi thì chửi, nhưng “lương vẫn lĩnh, lộc chẳng từ”. Vẫn tự đắc là cuộc đời mình may mắn. Dẫu thế này thế kia, vẫn được tất cả. Giáo sư, nhà giáo nhân dân, Giải thưởng Nhà nước và hai lần giải thưởng Hội Nhà văn. Hay thật, tài thật. Cụ Ngô Tất Tố sống lại cũng phải tôn Nguyễn Đăng Mạnh làm tiên chỉ làng văn. Chửi con em thậm tệ mà vẫn không quên miếng lãn lợn! Ấy mới là khôn ngoan biết sống. Kém Nguyên Hồng một câu chửi (Tao đéo chơi với chúng mày nữa) nhưng hơn Nguyên Hồng cả đống: Danh hiệu cao quý này, giải thưởng nhiều và to này, nhà cao cửa rộng này, gái trai phương trưởng này.”
Tuy nhiên chửi ông Giáo sư  độc địa nhất, thâm hiểm nhất phải kể tới một ông tự xưng là Thượng Nguyên mà cư dân trên mạng đã lật tẩy chính là đồng chí lãnh đạo cơ quan chức năng quản lý văn nghệ nay đã về hưu nhưng vẫn nhớ nghề bởi lẽ ông khoe trong bài viết :
”  Bởi làm công tác nghiên cứu nên tôi có may mắn được tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu. Đặc biệt là nguồn từ Cơ quan Tình báo, An ninh (chủ yếu xâm nhập từ nước ngoài vào và quần chúng trong nước khi nhận được đã giao nộp cho Cơ quan An ninh)..
Một ông cỡ bự vậy ra đòn, ông Giáo sư chết là cái chắc. Ông dùng cái tựa bài viết như giáng búa vào đầu ông Giáo sư  : “CHẤT ĐỘC HẠI TRONG MỘT CUỐN HỒI KÝ”, rồi tới tấp kết tội :
“Ông miệt thị và bôi bác bao miền quê đất Việt; ông bôi nhọ, đả kích, bài bác nhiều người ở nhiều lĩnh vực mà trong đó có không ít người cùng giới văn chương với ông. Tiếc thay, nhiều điều ông viết ra lại ở loại "lượm lặt gần xa", "nghe hơi nồi chõ", nó lạc đề với thể hồi ký. Bởi chỉ "nghe ông này nói, nghe bà kia kể, nghe ông nọ cho biết...” mà rất nhiều người trong số đó đã trở thành thiên cổ thì người đọc làm sao kiểm chứng?”
Sau khi đã dùng đủ mọi “mỹ từ” chụp xuống đầu ông Giáo sư, ông Thượng Nguyên này thẳng thừng đòi lột bỏ mọi “tước hiệu” của ông Nguyễn Đăng Mạnh :
“Theo thiển ý của tôi, để thanh thản quãng đời còn lại, tốt nhất là ông nên trả lại những gì người ta đã dành cho ông (học hàm, học vị, danh hiệu, giải thưởng). Ôm nó làm gì để trong lòng canh cánh bao nỗi hận. Và, nếu có thể, hãy tìm đến một nơi nào đó trên hành tinh này, mà ở đó người ta có thể ban thưởng cao hơn, xứng tầm với trí tuệ của ông.”
Sau cùng ông kết tội ông Giáo sư bằng các điều khoản và các thông tư của Nhà nước:
- Vi phạm Chỉ thị 25-CT/TW ngày 25/12/1997 của Bộ Chính trị về việc "Nói và viết những vấn đề liên quan đến lịch sử và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước".
- Vi phạm Chỉ thị 48-CT/TW ngày 14/2/2005 của Bộ Chính trị về "Bảo vệ bí mật của Đảng trong phát ngôn và sử dụng bảo quản thông tin, tài liệu trong tình hình mới".
- Vi phạm khoản 3 "Tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác do pháp luật quy định", khoản 4 "Xuyên tạc sự thật lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, vĩ nhân, anh hùng dân tộc; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân" thuộc Điều 10, Luật Xuất bản
”...
Ôi chao ôi, cứ theo như kết luận của ông Thượng Nguyên thì Giáo sư Tiến sĩ, nhà giáo nhân dân chỉ đáng...bắn bỏ. Hưởng ứng phong trào “đấu tố” ông Giáo sư còn có các bài :
"Bệnh thường tình mà nên tránh" của nhà thơ Đặng Huy Giang đăng trên Văn nghệ trẻ ngày 23/11/2008;
 "Về hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh - Tác giả sách giáo khoa Văn" của Nguyễn Hữu Thăng (Văn nghệ trẻ ngày 30/11/2008;
 "Một cuốn hồi ký lẫn nhiều sạn" của nhà thơ Đỗ Hoàng (Tạp chí Văn của Hội Nhà văn Việt Nam tháng 11/2008) .
 "Tâm sự đường đời hay nơi trút hận?" của Thanh Trúc (An ninh thế giới Giữa tháng, phát hành ngày 8/11/2008).
Và nhiều bài khác nữa. Xem vậy đủ thấy cái thời đấu tố trong cải cách ruộng đất cách nay hơn nửa thế kỷ hoá ra vẫn còn sống nhăn, sống khoẻ cho tới tận bây giờ.
Xin cúi đầu bái phục sức sống dai dẳng của một trong những vũ khí sắc bén tiêu diệt trí thức của Đảng và Nhà nước ta.

12-08