Đồ Sơn
10-06
Vẫn còn tiếng nói
thật
Bài kỳ trước mới chỉ
đề cập tới những tiếng nói “bầy tỏ lòng
trung thành” kiểu Vũ Hạnh, “ lượn lờ
, vờ đổi mới” kiểu Hoàng Hưng, “khéo
léo tát nước theo mưa để kỳ họp sau còn được mời nữa” của hầu hết các văn
thi sĩ và nhà phê bình nhảy lên diễn đàn tham luận. Tuy nhiên , lẫn lộn trong
cái đám “ cãi lộn tranh ăn” đó vẫn
còn một tiếng nói thật dẫu bị chìm lấp. Đó là tham luận của nhà phê bình Lại
Nguyên Ân….
Ong Lại Nguyên Ân lần ngược lại tới
thời gian tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời kéo theo một nền phê bình văn nghệ “có sự đứt gãy chứ không phải sự tiếp nối phê
bình văn nghệ thời gian trước đó. Dưới chính thể mới, phê bình văn nghệ có một diện mạo, một số
phận khác hẳn…”.
Nền văn học mới ở Việt
Nam sau Cách mạng tháng Tám chưa cần có
phê bình chuyên nghiệp, “công việc phê
bình ban đầu được thực hiện bởi các cán bộ quản lý về văn hoá văn nghệ, bởi
những văn nghệ sĩ đứng đầu các hội, đoàn, cơ quan văn nghệ; nội dung phê bình
tựu chung là thể hiện sự tổ chức, chỉ đạo, định hướng, uốn nắn đối với sáng tác
và hoạt động văn nghệ .“ . Nói cho rõ hơn là “quyền phê bình văn nghệ”
trong giai đoạn này chỉ nằm trong các ông trùm văn nghệ như Trường Chinh, Tố
Hữu hoặc một tướng quân sự như Nguyễn Sơn cao hứng nhảy ra dậy dỗ văn nghệ sĩ.
Khi “tiếp quản” được
Hà Nội và cả miền Bắc, Đảng và Chính phủ
đẻ ra một số báo chí, tạp chí , cơ quan nghiên cứu và nhà xuất bản, hình
thành đội ngũ các nhà “phê bình chuyên nghiệp”. Tuy nhiên “nội dung, tính chất của phê bình ấy cũng không có gì khác so với các
cây bút phê bình kiêm lãnh đạo kia.Từ đây tôi nêu hệ quả về sự thống trị của
"phê bình quyền uy", bên cạnh đó là "phê bình xu phụ" --
đầy tớ và bạn đường của "phê bình quyền uy". “
“Sự thống trị của
"phê bình quyền uy"”, tuy
ông Lại Nguyên Ân không dám nói rõ ra nhưng ai cũng hiểu đó vẫn là một dúm
những ông Hồ, ông Phạm văn Đồng, ông Trường Chinh, ông Tố Hữu…những ông này ban
một lời khen thì nhà văn “đời lên hương”,
ngược lại chê một câu thì tác phẩm chắc
chắn “nát một đời hoa”. “Đầy tớ” của đám này chính là bọn “phê bình xu phụ” chuyên “đón ý lãnh đạo” để tung hô hoặc dập vùi
văn nghệ sĩ. Không ít các “phê bình gia”
được tiến thân chỉ bằng một bài báo “đánh
người” theo “ý lãnh đạo”.
Bọn này có thể điểm
mặt : Hoài Thanh, Hoàng Xuân Nhị, Vũ Đức Phúc, Như Phong, Phan Cự Đệ, Hà Minh
Đức và hậu duệ sau này là cả một đám
những Vương Trí Nhàn, Nguyễn văn Lưu, Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn…
Sang những năm cuối
thập kỷ 80 và đầu 90, thời thế đã thay đổi.
Ong Lại Nguyên Ân viết
:
“ Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã thôi tồn tại…. Các thành viên có
gốc gác địa lý châu Âu trở lại hội nhập với châu Âu tư bản thị trường và nền
chính trị dân chủ nghị viện đa đảng; các thành viên cựu xã hội chủ nghĩa châu Á
với truyền thống quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm chỉ chấp nhận chuyển đổi
kinh tế bao cấp chỉ huy sang kinh tế thị trường mở cửa và chủ nghĩa tư bản nhà
nước, nhưng giữ nguyên cơ cấu quyền lực độc đảng và hệ tư tưởng xã hội chủ
nghĩa độc tôn như trước.”
Trong số các nước “cựu
xã hội chủ nghĩa châu Á” đó tất nhiên có Việt Nam với “truyền thống quân chủ chuyên chế” chỉ
chấp nhận đổi mới kinh tế mà giữ nguyên “quyền
lực độc Đảng và hệ tư tưởng XHCN độc tôn”. Trên các báo chính thống, các diễn đàn do Đảng kiểm soát thật ít có ý
kiến nào dám nói năng “huỵch toẹt “ ra như thế này, ngay cả trong phong trào
góp ý cho Đại hội Đảng hồi đầu năm 2006. Trong “tình hình mới”, ông Lại Nguyên Ân nhận định :
“Dĩ nhiên văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật các nước cựu xã hội chủ
nghĩa, bước sang những năm 1990 cũng có sự biến chuyển khác
nhau. Ở các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu, văn hoá tư tưởng, văn học
nghệ thuật được giải thoát khỏi hệ tư tưởng toàn trị, độc tôn cũ; các hoạt động
văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật trở lại là công việc tự quản của xã hội
dân sự. Ở các nước cựu xã hội chủ nghĩa châu Á, vì cơ cấu quyền lực xã hội căn
bản vẫn giữ nguyên như cũ nên quy chế chung cho văn hoá tư tưởng, văn học nghệ
thuật vẫn hầu như không có gì thay đổi; quãng thời gian ít nhiều có tự do ngôn
luận là thời đầu của cao trào đổi mới; nhưng "mùa xuân Hà Nội" thậm
chí còn ngắn ngủi hơn "mùa xuân Bắc Kinh"; quy chế cũ được khôi phục
rất nhanh chóng.”
Cái gọi là “mùa xuân Hà Nội” chính là thời gian cởi
trói ngắn ngủi trong hai năm 1987-1988 khi ông cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ sĩ” .
“Cho đến nay, nhìn lại đời sống văn hoá ở Việt Nam vài ba chục năm trở
lại đây, những ai đủ trung thực hẳn phải nhận rằng thời gian mà phê bình văn
nghệ bộc phát mạnh mẽ phấn khích nhất vẫn là vài năm cao trào đổi mới
1987-1988, khi ấy phê bình văn nghệ luôn luôn tự vượt khỏi giới hạn của chính
mình: nó không chỉ làm công việc phê bình tác giả và tác phẩm văn học nghệ
thuật mà còn luận bàn về toàn bộ văn hoá tư tưởng, luận bàn về cơ chế kinh tế
xã hội, về đời sống chính trị trong và ngoài nước..., phê bình văn nghệ tự vượt
khỏi khuôn khổ khiêm tốn thường nhật của mình để trở thành chính luận, để tham
dự dư luận xã hội, thậm chí có lúc nó là thành phần chính của dư luận xã hội.”
Thế rồi bao nhiêu “mỹ
tự”, lời hay ý đẹp trao trả tự do cho văn nghệ sĩ bỗng chốc bay đi mất, đảng
trở mặt, quay ngoắt 180 · trở lại “còng” văn nghệ sĩ, ông Lại Nguyên Ân viết :
“Nhưng "mùa xuân Hà
Nội" quá ngắn ngủi, đổi mới đi vào thoái trào ngay từ 1989 với các biểu
hiện từ trên và từ dưới. Dấu hiệu từ trên là việc ấn định nội dung đổi mới (và
không đổi mới) được cho là thích hợp với thực tế Việt ·Nam: chấp nhận kinh tế
thị trường và mở cửa tiến tới hội nhập kinh tế với bên ngoài, đồng thời giữ
nguyên cơ cấu chính trị nhất nguyên và nguyên tắc độc tôn ý thức hệ.
Từ dưới lên là một loạt dấu hiệu, một loạt hiện tượng kéo dài nhiều năm.
Ban đầu tập trung vào các việc: cách chức Tổng biên tập Nguyên Ngọc; chỉnh
hướng tờ Văn nghệ mà đến lúc đó đã bị coi như đồn luỹ của nhóm đổi mới “cực
đoan”; chỉnh hướng đại hội nhà văn IV. ..Nếu như nỗ lực đáng kể sau cùng của
tinh thần đổi mới là việc trao giải thưởng hội nhà văn 1991 cho Thân phận tình
yêu của Bảo Ninh, Lý luận và văn học của Lê Ngọc Trà (bên cạnh một số tác phẩm
khác), thì không lâu sau đó, những người từng bỏ phiếu thuận trao giải cho
“Thân phận tình yêu” đã bị một vài tờ báo có thế lực chất vấn, căn vặn, hạch
hỏi vì cái lỗi đã thuận trao giải cho một tác phẩm "bôi nhọ chiến tranh
giải phóng"; trong lúc đó (hoặc hình như sớm hơn), cuốn Lý luận và văn học
được đem ra thảo luận theo tinh thần phê phán vì người ta bây giờ chừng như mới
ngửi thấy nó "sặc mùi Gorbachev"!”
Bức tranh ảm đạm của
nền phê bình và cũng chính là nền văn nghệ của nước Cộng
hoà XHCN VN được Lại Nguyên Ân thẳng
thắn vạch ra :
“ Có thể nói không khí tinh thần từ giữa năm 1989 trở đi là khá nặng nề,
cản trở và bóp nghẹt thứ phê bình dám nhìn thẳng vào những sự thật lớn, vấn nạn
lớn của xã hội, văn hoá, tư tưởng. “
Bóp nghẹt “phê bình”
cũng tức là bóp nghet “sáng tác – đó là một nhận định hoàn toàn ngược với Hội nhà văn thường
ba hoa bốc phét “ Đảng luôn tạo điều kiện
cho văn nghệ sĩ sáng tạo” trong các
kỳ tổng kết và Đại hội.
Xuất phát từ chủ
trương chỉ đổi mới kinh tế , cương quyết không đổi mới chính trị , các tổ chức
văn hoá văn nghệ của đảng vẫn y như cũ, hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa lỗi thời
và phản tiến hoá vẫn được bảo toàn, vẫn bao trùm lên sinh hoạt tinh thần của
toàn xã hội , bởi thế theo ông Lại Nguyên Ân “"phê bình quyền uy" và "phê bình xu phụ" vẫn là những
thành phần chính trên diễn đàn chính thống từ những năm 1990 đến nay.”
Nghĩa là vẫn còn những
“ông lớn” “quyền uy” dấu mặt ra “chỉ thị” và bọn xu phụ “đày tớ” xúm vào
la hét theo ý chủ. Tuy nhiên vì trong xã hội đã xuất hiện những thành phần kinh
tế thị trường, trong lòng “xã hội toàn trị” đã xuất hiện những yếu tố của đời
sống dân sự, xã hội dân sự, nên ông Lại
Nguyên Ân cho rằng "phê bình quyền
uy" từ trạng thái hiển ngôn chuyển dần sang trạng thái ẩn ngôn; "phê
bình xu phụ" thì ngày càng gắng tỏ ra là mình có vai trò độc lập, chủ
động, tuy ai ai cũng đều hiểu đấy chỉ là bề ngoài. “
Trích dẫn ý kiến của Kornai
János về vai trò độc quyền của các tổ chức quần chúng như Hội nhà văn , ông Lại
Nguyên Ân cho rằng “Rốt cuộc thì lãnh đạo
tổ chức quần chúng cũng là quan chức hệt như bất kể thành viên nào của bộ máy
hay bất kể quan chức nhà nước cấp cao nào”
Một trong những lỗi
lầm tai hại nhất của cái “Hội độc quyền
“ này là “ chỉ cho thấy xuất hiện ở
"đầu ra" những tác phẩm văn nghệ mà nét chính yếu là cốt sao không
làm phật ý cấp trên; có thể gọi đây là một nền văn nghệ cốt không làm mất lòng
cấp trên, nền văn nghệ này không tính đến hoặc chỉ coi là thứ yếu cả sự tìm tòi
cái mới trong nghệ thuật lẫn sự đón nhận hay thờ ơ của công chúng . “
Quả thực những sản
phẩm của Hội nhà văn như Báo Văn Nghệ, Tạp chí “Nhà Văn” , các tác phẩm của các
nhà văn được in bằng tiền Nhà nước…tất cả những sản phẩm đó bất chấp người đọc
có đón nhận không, cũng chẳng cần có giá trị nghệ thuật, nó chỉ nhằm vừa lòng
“cấp trên” rồi sau đó tự nguyện chôn mình trong các kệ sách lưu trữ của thư
viện.
Kết thúc bài tham luận, Lại Nguyên Ân đưa ra
một hình ảnh có tính cách phỉ báng cả một nền văn hoá văn nghệ của Đảng :
“phê bình văn nghệ không thể tự ý túm tóc mình mà nâng được mình lên
trên cái nền đất lầy thụt cũ; nó phải được tạo những điều kiện căn bản nào đấy,
được cấp cho những "quyền được ăn nói" nào đấy, từ đó nó mới có thể
phát triển lành mạnh .”
“ Quyền được ăn nói” nào đấy chính là “tự do tư tưởng”, “tự do sáng
tác” mà chừng nào đảng cộng sản còn giữ vai trò độc tôn chừng đó ông Lại
Nguyên Ân và những người cùng suy tư như ông đừng có mong được đảng “cấp” cho. Trừ khi bị cướp lại, còn
không thì chẳng bao giờ đảng “cấp” cho bất kỳ ai cái quyền đó.
NT
“ Quyền được ăn nói” nào đấy chính là “tự do tư tưởng”, “tự do sáng tác” mà chừng nào đảng cộng sản còn giữ vai trò độc tôn chừng đó ông Lại Nguyên Ân và những người cùng suy tư như ông đừng có mong được đảng “cấp” cho. Trừ khi bị cướp lại, còn không thì chẳng bao giờ đảng “cấp” cho bất kỳ ai cái quyền đó.

