Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - Kỳ 9 : Hội nghị lý luận phê bình VĂN HỌC – Kỳ 7


  
                       Đồ Sơn 10-06

                Vẫn còn tiếng nói thật


Bài kỳ trước mới chỉ đề cập tới những tiếng nói “bầy tỏ lòng trung thành” kiểu Vũ Hạnh, “ lượn lờ , vờ đổi mới” kiểu Hoàng Hưng, “khéo léo tát nước theo mưa để kỳ họp sau còn được mời nữa” của hầu hết các văn thi sĩ và nhà phê bình nhảy lên diễn đàn tham luận. Tuy nhiên , lẫn lộn trong cái đám “ cãi lộn tranh ăn” đó vẫn còn một tiếng nói thật dẫu bị chìm lấp. Đó là tham luận của nhà phê bình Lại Nguyên Ân….

          Ong Lại Nguyên Ân lần ngược lại tới thời gian tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà  ra đời kéo theo một nền phê bình văn nghệ “có sự đứt gãy chứ không phải sự tiếp nối phê bình văn nghệ thời gian trước đó. Dưới chính thể mới,  phê bình văn nghệ có một diện mạo, một số phận khác hẳn…”.
Nền văn học mới ở Việt Nam sau  Cách mạng tháng Tám chưa cần có phê bình chuyên nghiệp, “công việc phê bình ban đầu được thực hiện bởi các cán bộ quản lý về văn hoá văn nghệ, bởi những văn nghệ sĩ đứng đầu các hội, đoàn, cơ quan văn nghệ; nội dung phê bình tựu chung là thể hiện sự tổ chức, chỉ đạo, định hướng, uốn nắn đối với sáng tác và hoạt động văn nghệ .“ . Nói cho rõ hơn là “quyền phê bình văn nghệ” trong giai đoạn này chỉ nằm trong các ông trùm văn nghệ như Trường Chinh, Tố Hữu hoặc một tướng quân sự như Nguyễn Sơn cao hứng nhảy ra dậy dỗ văn nghệ sĩ.
Khi “tiếp quản” được Hà Nội và cả miền Bắc, Đảng và Chính phủ  đẻ ra một số báo chí, tạp chí , cơ quan nghiên cứu và nhà xuất bản, hình thành đội ngũ các nhà “phê bình chuyên nghiệp”. Tuy nhiên “nội dung, tính chất của phê bình ấy cũng không có gì khác so với các cây bút phê bình kiêm lãnh đạo kia.Từ đây tôi nêu hệ quả về sự thống trị của "phê bình quyền uy", bên cạnh đó là "phê bình xu phụ" -- đầy tớ và bạn đường của "phê bình quyền uy". “

“Sự thống trị của "phê bình quyền uy"”, tuy ông Lại Nguyên Ân không dám nói rõ ra nhưng ai cũng hiểu đó vẫn là một dúm những ông Hồ, ông Phạm văn Đồng, ông Trường Chinh, ông Tố Hữu…những ông này ban một lời khen thì nhà văn “đời lên hương”, ngược lại chê một câu thì tác phẩm  chắc chắn “nát một đời hoa”. “Đầy tớ” của đám này chính là bọn “phê bình xu phụ” chuyên “đón ý lãnh đạo” để tung hô hoặc dập vùi văn nghệ sĩ. Không ít các “phê bình gia” được tiến thân chỉ bằng một bài báo “đánh người” theo “ý lãnh đạo”.
Bọn này có thể điểm mặt : Hoài Thanh, Hoàng Xuân Nhị, Vũ Đức Phúc, Như Phong, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức  và hậu duệ sau này là cả một đám những Vương Trí Nhàn, Nguyễn văn Lưu, Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn…
Sang những năm cuối thập kỷ 80 và đầu 90, thời thế đã thay đổi.
Ong Lại Nguyên Ân viết :

“ Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã thôi tồn tại…. Các thành viên có gốc gác địa lý châu Âu trở lại hội nhập với châu Âu tư bản thị trường và nền chính trị dân chủ nghị viện đa đảng; các thành viên cựu xã hội chủ nghĩa châu Á với truyền thống quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm chỉ chấp nhận chuyển đổi kinh tế bao cấp chỉ huy sang kinh tế thị trường mở cửa và chủ nghĩa tư bản nhà nước, nhưng giữ nguyên cơ cấu quyền lực độc đảng và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa độc tôn như trước.”

Trong số các nước “cựu xã hội chủ nghĩa châu Á” đó tất nhiên có Việt Nam  với “truyền thống quân chủ chuyên chế” chỉ chấp nhận đổi mới kinh tế mà giữ nguyên “quyền lực độc Đảng và hệ tư tưởng XHCN độc tôn”. Trên các báo chính thống,  các diễn đàn do Đảng kiểm soát thật ít có ý kiến nào dám nói năng “huỵch toẹt “ ra như thế này, ngay cả trong phong trào góp ý cho Đại hội Đảng hồi đầu năm 2006. Trong “tình hình mới”, ông Lại Nguyên Ân nhận định :

“Dĩ nhiên văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật các nước cựu xã hội chủ nghĩa, bước sang những năm 1990 cũng có sự biến chuyển khác nhau. Ở các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu, văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật được giải thoát khỏi hệ tư tưởng toàn trị, độc tôn cũ; các hoạt động văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật trở lại là công việc tự quản của xã hội dân sự. Ở các nước cựu xã hội chủ nghĩa châu Á, vì cơ cấu quyền lực xã hội căn bản vẫn giữ nguyên như cũ nên quy chế chung cho văn hoá tư tưởng, văn học nghệ thuật vẫn hầu như không có gì thay đổi; quãng thời gian ít nhiều có tự do ngôn luận là thời đầu của cao trào đổi mới; nhưng "mùa xuân Hà Nội" thậm chí còn ngắn ngủi hơn "mùa xuân Bắc Kinh"; quy chế cũ được khôi phục rất nhanh chóng.”

Cái gọi là “mùa xuân Hà Nội” chính là thời gian cởi trói ngắn ngủi trong hai năm 1987-1988 khi ông cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ sĩ” .

“Cho đến nay, nhìn lại đời sống văn hoá ở Việt Nam vài ba chục năm trở lại đây, những ai đủ trung thực hẳn phải nhận rằng thời gian mà phê bình văn nghệ bộc phát mạnh mẽ phấn khích nhất vẫn là vài năm cao trào đổi mới 1987-1988, khi ấy phê bình văn nghệ luôn luôn tự vượt khỏi giới hạn của chính mình: nó không chỉ làm công việc phê bình tác giả và tác phẩm văn học nghệ thuật mà còn luận bàn về toàn bộ văn hoá tư tưởng, luận bàn về cơ chế kinh tế xã hội, về đời sống chính trị trong và ngoài nước..., phê bình văn nghệ tự vượt khỏi khuôn khổ khiêm tốn thường nhật của mình để trở thành chính luận, để tham dự dư luận xã hội, thậm chí có lúc nó là thành phần chính của dư luận xã hội.”

Thế rồi bao nhiêu “mỹ tự”, lời hay ý đẹp trao trả tự do cho văn nghệ sĩ bỗng chốc bay đi mất, đảng trở mặt, quay ngoắt 180 · trở lại “còng” văn nghệ sĩ, ông Lại Nguyên Ân viết :

“Nhưng  "mùa xuân Hà Nội" quá ngắn ngủi, đổi mới đi vào thoái trào ngay từ 1989 với các biểu hiện từ trên và từ dưới. Dấu hiệu từ trên là việc ấn định nội dung đổi mới (và không đổi mới) được cho là thích hợp với thực tế Việt ·Nam: chấp nhận kinh tế thị trường và mở cửa tiến tới hội nhập kinh tế với bên ngoài, đồng thời giữ nguyên cơ cấu chính trị nhất nguyên và nguyên tắc độc tôn ý thức hệ.
Từ dưới lên là một loạt dấu hiệu, một loạt hiện tượng kéo dài nhiều năm. Ban đầu tập trung vào các việc: cách chức Tổng biên tập Nguyên Ngọc; chỉnh hướng tờ Văn nghệ mà đến lúc đó đã bị coi như đồn luỹ của nhóm đổi mới “cực đoan”; chỉnh hướng đại hội nhà văn IV. ..Nếu như nỗ lực đáng kể sau cùng của tinh thần đổi mới là việc trao giải thưởng hội nhà văn 1991 cho Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Lý luận và văn học của Lê Ngọc Trà (bên cạnh một số tác phẩm khác), thì không lâu sau đó, những người từng bỏ phiếu thuận trao giải cho “Thân phận tình yêu” đã bị một vài tờ báo có thế lực chất vấn, căn vặn, hạch hỏi vì cái lỗi đã thuận trao giải cho một tác phẩm "bôi nhọ chiến tranh giải phóng"; trong lúc đó (hoặc hình như sớm hơn), cuốn Lý luận và văn học được đem ra thảo luận theo tinh thần phê phán vì người ta bây giờ chừng như mới ngửi thấy nó "sặc mùi Gorbachev"!”

Bức tranh ảm đạm của nền phê bình và cũng chính là nền văn nghệ của nước Cộng hoà XHCN VN  được Lại Nguyên Ân thẳng thắn vạch ra :

“ Có thể nói không khí tinh thần từ giữa năm 1989 trở đi là khá nặng nề, cản trở và bóp nghẹt thứ phê bình dám nhìn thẳng vào những sự thật lớn, vấn nạn lớn của xã hội, văn hoá, tư tưởng. “

Bóp nghẹt “phê bình” cũng tức là bóp nghet “sáng tác – đó là một nhận  định hoàn toàn ngược với Hội nhà văn thường ba hoa bốc phét “ Đảng luôn tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ  sáng tạo” trong các kỳ tổng kết và Đại hội.
Xuất phát từ chủ trương chỉ đổi mới kinh tế , cương quyết không đổi mới chính trị , các tổ chức văn hoá văn nghệ của đảng vẫn y như cũ, hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa lỗi thời và phản tiến hoá vẫn được bảo toàn, vẫn bao trùm lên sinh hoạt tinh thần của toàn xã hội , bởi thế theo ông Lại Nguyên Ân “"phê bình quyền uy" và "phê bình xu phụ" vẫn là những thành phần chính trên diễn đàn chính thống từ những năm 1990 đến nay.”
Nghĩa là vẫn còn những “ông lớn” “quyền uy” dấu mặt ra “chỉ thị” và bọn xu phụ “đày tớ” xúm vào la hét theo ý chủ. Tuy nhiên vì trong xã hội đã xuất hiện những thành phần kinh tế thị trường, trong lòng “xã hội toàn trị” đã xuất hiện những yếu tố của đời sống dân sự,  xã hội dân sự, nên ông Lại Nguyên Ân cho rằng "phê bình quyền uy" từ trạng thái hiển ngôn chuyển dần sang trạng thái ẩn ngôn; "phê bình xu phụ" thì ngày càng gắng tỏ ra là mình có vai trò độc lập, chủ động, tuy ai ai cũng đều hiểu đấy chỉ là bề ngoài. “
Trích dẫn ý kiến của Kornai János về vai trò độc quyền của các tổ chức quần chúng như Hội nhà văn , ông Lại Nguyên Ân cho rằng “Rốt cuộc thì lãnh đạo tổ chức quần chúng cũng là quan chức hệt như bất kể thành viên nào của bộ máy hay bất kể quan chức nhà nước cấp cao nào”
Một trong những lỗi lầm tai hại nhất của cái “Hội độc quyền “ này là “ chỉ cho thấy xuất hiện ở "đầu ra" những tác phẩm văn nghệ mà nét chính yếu là cốt sao không làm phật ý cấp trên; có thể gọi đây là một nền văn nghệ cốt không làm mất lòng cấp trên, nền văn nghệ này không tính đến hoặc chỉ coi là thứ yếu cả sự tìm tòi cái mới trong nghệ thuật lẫn sự đón nhận hay thờ ơ của công chúng . “

Quả thực những sản phẩm của Hội nhà văn như Báo Văn Nghệ, Tạp chí “Nhà Văn” , các tác phẩm của các nhà văn được in bằng tiền Nhà nước…tất cả những sản phẩm đó bất chấp người đọc có đón nhận không, cũng chẳng cần có giá trị nghệ thuật, nó chỉ nhằm vừa lòng “cấp trên” rồi sau đó tự nguyện chôn mình trong các kệ sách lưu trữ của thư viện.
 Kết thúc bài tham luận, Lại Nguyên Ân đưa ra một hình ảnh có tính cách phỉ báng cả một nền văn hoá văn nghệ của Đảng :

“phê bình văn nghệ không thể tự ý túm tóc mình mà nâng được mình lên trên cái nền đất lầy thụt cũ; nó phải được tạo những điều kiện căn bản nào đấy, được cấp cho những "quyền được ăn nói" nào đấy, từ đó nó mới có thể phát triển lành mạnh .”

“ Quyền được ăn nói” nào đấy chính là “tự do tư tưởng”, “tự do sáng tác” mà chừng nào đảng cộng sản còn giữ vai trò độc tôn chừng đó ông Lại Nguyên Ân và những người cùng suy tư như ông đừng có mong được đảng “cấp” cho. Trừ khi bị cướp lại, còn không thì chẳng bao giờ đảng “cấp” cho bất kỳ ai cái quyền đó.

   NT

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU - KỲ 137



                             (tiếp theo)




Ong Sáu Thượng mải nghĩ, chiếc Vonga đen đã đưa ông chạy vào khu vườn rải sỏi trong tư dinh anh Năm và chạy thẳng lên cửa phòng khách. Vừa đặt chân vào bên trong, ông sáu Thương đã thoáng thấy một cô gái trẻ rời khỏi người anh Năm , vừa cài khuy áo ngực vừa bước nhanh vào phòng trong.

“ Báo cáo anh Năm…em mới vừa từ Cuba trở về tới sân bay và được lệnh của anh Năm tới trình diện ngay đấy ạ…”

Anh Năm xốc lại áo và dường như chưa ra khỏi vòng tay của cô con gái lúc nãy, nên chỉ gật gật :

“ Tốt…tốt…tốt lắm…”

Một ông bõ già bưng ra chiếc cốc bên trong có chất nước vàng vàng mang tới cho ông Sáu Thượng. Anh Năm  đưa tay mời :

“ Uống…uống đi…nước sâm…tốt…tốt lắm…”

Ong Sáu Thượng khom cả người xuống đón ly nước,  nhấp nhấp :

“ Cảm ơn anh Năm. Không hiểu có việc gì anh Năm gọi về gấp vậy à ?”

 Anh Năm bỗng sầm mặt, trợn tròn đôi mắt ốc nhồi :

“ Gọi về hả ? Gọi về khi nào  ?”

Ong Sáu Thượng hoảng hồn, khúm núm :

“ Dạ…báo cáo anh…lẽ ra đoàn còn hai ngày đi báo cáo nữa ạ…nhưng ông đại sứ  thông báo có điện của anh gọi về sớm ạ…”

Anh Năm cau mày như phải bóp óc ra nhớ lại chuyện gì đã xảy ra lâu lắm :

“ Báo cáo à ? Báo cáo chuyện gì hè ? “

“ Dạ…báo cáo kinh nghiệm xây dựng Đảng cho các đồng chí Cuba ạ …”

Anh Năm lại vỗ vỗ trán :

“ Các đồng chí Cuba ? À phải rồi, đường Cuba tốt, tốt lắm, phải năm rồi mới ra nghị quyết đẩy mạnh sản xuất cây công nghiệp, đặc biệt là cây mía làm cơ sở để chuẩn bị phá tan thế bao vây kinh tế của đế quốc Mỹ không ?”

Ong Sáu Thượng cười thầm trong bụng và chợt như người sống lại. Vậy là chưa có chuyện gì nghiêm trọng cả. Hoá ra anh Năm nổi hứng lên gọi ông về rồi anh Năm lại quên béng mất. Cũng như chuyện gọi ông tới đây ngay khi tới sân bay cũng là phút bốc hứng rồi quên của anh Năm đó thôi. Mẹ kiếp, ngoài tám mươi rồi, có là thiên tài kiệt xuất , có là người con ưu tú của giai cấp công nhân thì cũng lú lẫn rồi. Vậy mà anh Năm vẫn ngồi chót vót trên thượng đẳng thiên tào , ra chỉ thị, nghị quyết này nọ lãnh đạo toàn đảng, toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội thì mới lạ.

Ong Sáu Thượng chợt nhẹ nhõm cả người. Chuyện có vậy thôi mà chưa chi đã làm hồn vía ông suýt lên mây xanh. Ong lại khúm núm :

“ Báo cáo anh Năm các đồng chí Cuba đang ở vị trí tiền tiêu trên mặt trận chống Mỹ ở phía nam bán cầu đấy ạ. Các đồng chí đó nằm ở sân sau đế quốc Mỹ nên giữ một vị trí có tầm chiến lược  toàn cầu đấy  ạ…”

Anh Năm ngáp một cái rõ dài rồi gật gật :

“ Tốt…tốt…tốt lắm…”

Vừa lúc đó một gã thanh niên ăn mặc ra vẻ thư ký bước vào cung kính đưa cho anh Năm cái điện thoại không dây. Anh ghé tai chưa nghe được  gì đã quát :

“ Hỉ ?”

Rồi anh nhìn ngược lên trần, hai mắt thô lố ra vẻ chăm chú lắm. Ong Sáu Thượng nín thở, bao nhiêu mừng rỡ khấp khởi từ lúc bước chân vào đây tan biến hết. Những dự cảm đen tối lại vồ chụp lấy ông. Nỗi lo vụ hãm hại gia đình ông thành  uỷ bị vỡ lở và đòn trừng phạt sắp giáng xuống đầu lại làm ông run bần bật.

Thật đúng y như người ta đồn, trước mặt anh Năm, dù bất kỳ ai, từ nhân viên văn phòng cho tới Uỷ viên Bộ chính trị, đều bay hồn bạt vía chẳng khác gì con ếch trước con rắn. Chắc hẳn từ lúc này, anh Năm sẽ vứt bỏ cái trò mèo vờn chuột vừa rồi ; nào vờ vịt : “ Gọi về hả ? Gọi khi nào “, nào “Báo cáo hả ? Báo cáo chuyện gì ?”, làm như không hay biết gì cho dù như người ta vẫn nói “một  con ruồi bay qua cũng chẳng lọt khỏi mắt anh Năm”. Cú điện thoại này chắc từ bên ban nội chính khẳng định tội trạng của ông và xin lệnh bắt giam đây. Chỉ vài phút nữa thôi, khi anh Năm lui vào buồng trong, bọn đầu trâu mặt ngựa nhất định xuất hiện, còng tay ông đẩy lên xe và đưa ông tới một nơi nào đó, chắc chắn không kém gì địa ngục.

Anh Năm đã nghe xong điện thoại. Anh cất giọng ồm ồm hệt như bảo ai đó ngay trước mặt anh :

“ Rồi rồi…nó đây rồi…qua đã gọi  nó về rồi …nó đang ở ngay trước mặt qua đây… rồi rồi…sao mà nôn vậy ? Thôi hí…”

Anh Năm đặt điện thoại xuống, nhìn lom lom vào mặt ông Sáu Thượng :

“ Đi đường khoẻ hí ?”

Ong Sáu Thượng như người chết sống lại :

“Báo cáo anh Năm khoẻ lắm ạ…”

Anh Năm gật gật, bàn tay vẩy vẩy như xua ruồi :

“ Vậy tốt… về hí…”

Nói rồi anh nặng nề nâng cái  thân xác hơn một tạ đứng dậy. Ong sáu Thượng vội vàng chạy tới đỡ nhưng anh Năm xua xua :

“ Khỏi khỏi…về…về…”

Ngay lúc ấy một mùi thơm xộc vào mũi ông Sáu Thượng. Hoá ra cô gái trẻ lúc nãy ở trong đã xô ra khoác lấy vai anh Năm dìu vào trong, vừa đi cô vừa mắng mỏ :

“ Giờ này còn khách với khứa…chén yến hấp nguội hết rồi kìa…”

 Ong Sáu Thượng dừng lại, ngẩn cả người trước sự thực không bao giờ ông ngờ tới. Oi chao ôi, ông cứ tưởng anh Năm đạo cao đức trọng, suốt đời hy sinh , dâng hiến cả cuộc đời cho cách mạng, nằm gai nếm mật, chịu đựng bao khó khăn gian khổ để mưu cầu hạnh phúc cho dân, thật chẳng khác gì ông Thánh. Vậy mà…than ôi…than ôi…cái vòng tay mầm mẫm, trắng nuồn nuột của cô gái cuốn lấy cổ anh Năm làm nó rụt lại , cả cái vầng trán mênh mông của anh rúc trọn vào nách cô gái. Oi than ôi… thật chính mắt ông trông thấy chứ chẳng phải kẻ địch tung tin đồn nhảm.

Ra khỏi nhà anh Năm, ông Sáu Thượng vẫn chưa hết sững sờ. Hoá ra có ai đó đã nhờ cậy anh Năm ra lệnh cho ông kết thúc sớm chuyến công tác tại nước bạn Cuba và chẳng phải gọi về để bắt ông vì vụ gia đình ông thành uỷ bị hãm hại mà vì lý do gì đó chính ông cũng không hiểu. Người đó là ai nhỉ ? Ai mà có uy lực ghê gớm nhờ cậy được cả anh Năm ngồi mãi trên thượng đẳng thiên tào như thế ? Và người đó có liên quan gì tới ông ? Muốn ông về sớm nhằm mục đích gì ? Chịu, ông không đoán được . Chỉ có điều…không có chuyện bắt bớ, giam cầm, vụ việc do ông gây ra vẫn hoàn toàn nằm trong bóng tối.

Rời khỏi nhà anh Năm, chiếc xe chạy về nhà ông, bỏ ông xuống cổng rồi chạy tiếp về cơ quan. Không giống như những lần trước đi công tác về ông thấy lòng nhẹ nhõm và vui vẻ, lần này ông hồi hộp và bồn chồn linh cảm như đang có chuyện gì khác thường xảy ra trong nhà ông. Quả nhiên vừa bước vào phòng khách, ông đã nghe thấy từ trên lầu vọng xuống tiếng gõ mõ lóc cóc và tiếng chuông điểm binh boong. Trời đất, không lẽ ông đi Cuba, bà ở nhà tụng kinh gõ mõ thật sao ?

Ong rò rẫm theo chiếc cầu thang xoắn ốc, bước lên lầu thượng và ngay lúc đó mùi nhang và khói xộc vào mắt mũi ông. Bà vợ ông trong bộ đồ tu hành mầu nâu xồng đang ngồi lầm rầm tụng kinh trước chiếc điện thờ la liệt đèn nến, ảnh, tượng và hoa quả. Thật không có gì trái khoáy hơn, một con người mưu mô, hiểm độc, giết người không gớm tay như bà vừa mới chủ mưu hãm hại gia đình ông thành uỷ viên vừa mới đây thôi, giờ đã ngồi gõ mõ tụng kinh thì liệu rồi có thần thánh nào độ cho bà? Ong rủa thầm trong bụng, con mẻ này điên rồi, miệng nam mô, bụng một bồ dao găm thế kia mà lương tâm không cắn rứt sao ?

“Nam mô tác đát tha tô già đa gia a la ha đế tam diểu tam bồ đà ta…”

Ông không hiểu những lời kinh bà đang tụng có ý nghĩa gì, đành cứ nín thở đứng nghe không dám kinh động giây phút bà đang “buông dao” để thành Phật như bà vẫn lên tiếng giảng cho ông. Oi chao ôi, cứ mỗi chiều ở cơ quan trở về, chưa kịp hỏi han chuyện nhà chuyện cửa, bà đã lôi ông vào những lời giảng tràng giang đại hải về “ từ bi, hỉ xả’, về “ đại từ, đại bi” vậy mà khi chuyển sang giải quyết số phận ông thành uỷ viên bà chỉ tóm gọn có mỗi một câu lạnh tanh :” khi cần thì giải quyết đi chứ sao ?”. Chẳng hiểu khi quyết định hạ sát một con người như vậy, bà có nghĩ đến những lời cửa miệng “từ bi hỉ xả”, “đại từ đại bi” của bà ?

Sau cùng bà cũng tụng xong phần kinh buổi tối. Bà gõ một tiếng chuông thật kêu , gấp sách, đứng dậy. Mãi đến lúc này bà mới nhận ra ông :

“ ủa…ông đã về đấy à ? Tôi cứ tưởng ông vẫn đang ở đằng anh Năm ?”

Ong ngạc nhiên trợn tròn mắt :

“ Sao bà biết tôi mới ở chỗ anh Năm ?”

Bà cười khảy :

“ Xưa nay ông làm chuyện gì mà lọt được khỏi mắt tôi ?”

Ong chợt hiểu ra, choáng váng :

“ Hoá ra…bà…bà…”

Bà lại cười :

“ Ong bảo tôi làm sao kia ?”

“ Chính bà đã nhờ cậy anh Năm gọi tôi từ Cuba về phải không ?”

“ Anh Năm nói với ông thế à ?”

Ong lắc đầu :

“ Anh Năm không nói gì với tôi, nhưng lúc bà gọi điện tới tôi đang ở đó…”

Bà ồ lên :

“ Hoá ra là vậy. Ong cũng tinh dấy. Đoán được vậy cũng khá đấy. Đúng là tôi nhờ cậy anh Năm gọi ông về sớm đó !”

Ong kêu lên :

“ Bà điên à ? Tôi đang giảng chưa xong đề cương vận dụng kinh nghiệm chiến tranh nhân dân vào chiến đấu bảo vệ tổ quốc cho các đồng chí Cuba…”

Bà cười lớn :

“ Vứt cha ba cái thứ dở hơi ấy đi. Ong tưởng ba thằng Cuba khoái ba thứ đó lắm hả. Tụi nó chỉ cần gạo và đô la thôi. Hai thứ đó nó cần hơn là mớ lý luận lỗi thời của ông…”

Ong bực mình :

“ Bà đừng có mà báng bổ kho tàng lý luận cách mạng…Những câu bà vừa nói mà lọt vào tai anh Năm thì bà chết…”

Bà cười  phá :

“ Lạc hậu quá rồi ông ơi…anh Năm thời nay cũng chẳng còn thích ba câu sáu điều như trước nữa đâu. Đô la và bất động sản  anh Năm vẫn thích hơn…”

Ong Sáu Thượng nhìn chằm chằm vào mặt bà thấy ghê ghê. Người đàn bà này có đủ thứ trong đầu, nào cộng sản, nào nho giáo, nào Mác Lênin, nào thần Phật… nhưng con người thật của bà ta mới thật đáng sợ, giết người  như ngoé xong lại ung dung ngồi gõ mõ tụng kinh.

Xuống tới phòng khách, ngồi ngay ngắn ở xa lông rồi, bà mới nghiêm giọng hỏi ông :

“ Ông có biết tại sao tôi phải gọi ông về gấp không ?”

Ong Sáu Thượng giật mình :

“ Có chuyện gì à ? Việc của bà bị bại lộ rồi chăng ?”

Bà vợ nhìn ông cười nhạt

“ Sao lại việc của tôi ? Ong tính  chuyện chạy làng đấy hả ? Thế ông tưởng ông vô can trong những vụ việc vừa rồi sao ?”



                                         (còn tiếp)

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - Kỳ 8 : Hội nghị lý luận phê bình VĂN HỌC – Kỳ 6





                       Đồ Sơn 10-06

                           Cãi lộn trên núi xuống biển (!)

      Trước hết phải nói ngay rằng nhờ ‘công ơn’ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vừa mới lên chức Ngài đã ký ngay cho Hội Liên hiệp Văn học Nghệ Thuật Việt Nam khoản chi hơn 200 tỷ trong tài khoá 2006-2010 “nuôi” toàn bộ các loại văn nghệ sĩ cả nước, trong có Hội nhà văn , nhờ vậy ông Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh mới có tiền tung tẩy cho các nhà văn, nhà phê bình lên núi “cãi lộn” tại Hội nghị Tam Đảo mấy năm trước nay lại xuống biển “chửi nhau” tại Hội nghị Đồ Sơn tuần rồi.. Tiền của dân mà, khác gì của…địch, cứ tiêu đi cho nó…chết. 
Thế là hơn 200 nhà văn, nhà phê bình, quan chức ở 64 tỉnh thành trong cả nước kéo về Đồ Sơn “ăn uống ngủ nghỉ” miễn phí tại khách sạn 5 sao trong 2 ngày để cãi nhau xoay quanh “cái tủ thuốc bắc” – tức văn chương Việt Nam theo cách nói mới đây của nhà thơ Dư thị Hoàn trả lời phỏng vấn báo “Văn học đồng bằng sông Cửu Long”, xoay quanh Hội nhà văn:
 “ nửa thế kỷ qua chúng ta đã đẻ ra và dung dưỡng một bộ máy duy ý chí để thao tác, và bảo vệ vận hành bao cấp, một bộ máy gồm những cấu kiện thiểu năng nhưng lại được đặt vào những vị trí then chốt, để định hướng, định lượng và phân phối toàn bộ sản phẩm (cả vật chất lẫn tinh thần ) cho dân chúng như cha đạo phát chẩn!?”

Tất nhiên “ cha đạo” Hữu Thỉnh chỉ “phát chẩn” các xuất ăn ngủ ở Đồ Sơn cho các “con chiên ngoan đạo” còn cấm cửa những ai gây mất trật tự trong bầy đàn kiểu “phản đồ” Trần Mạnh Hảo.
Hai ngày liền với 65 tham luận viết sẵn và nói vo, ngày đầu là “cúng “ tức giới thiệu các đồng chí lãnh đạo Ban tư tưởng văn hoá, Bộ văn hoá thông tin, thành uỷ  Đảng cộng sản Hải phòng, Hội liên hiệp VHNT… rồi tới các nhà văn, nhà phê bình đọc tham luận viết sẵn có kiểm duyệt gọi là “lễ” và sang ngày thứ hai cãi lộn như mổ bò gọi là “chợ” và…chấm hết, tan hàng lên xe về nhà tiếp tục  …ăn cơm vợ.
Mở đầu phần “cúng” tất nhiên có ý kiến “chỉ đạo hội nghị” của ông Phó ban tư tưởng Đào Duy Quát nghiêm khắc nhắc nhở “con đường mà Đảng lãnh đạo và nhân dân đã chọn” là : “xây dựng chủ nghĩa xã hội với quy luật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để theo thông lệ , ông Nguyễn Trí Huân, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, phải đứng lên thay mặt Đoàn Chủ tịch “Cảm ơn ý kiến chỉ đạo sâu sắc của đồng chí Đào Duy Quát, Phó Trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương” khiến người ta thấy đã sang thời đại IT, xem ra Hội nhà văn Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vòng kim cô “ nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” như cố thi sĩ Chế Lan Viên đã long trọng cam kết bằng “tiếng nói trái tim’ của chính ông.

Người “vinh dự” mở đầu phần “lễ” là nguyên Phó ban tư tưởng văn hoá, Thứ tưởng giáo dục, Giáo sư  Nguyễn Văn Hạnh với tham luận “Tự do tư tưởng - Tự do sáng tạo và hoạt động văn học nghệ thuật”. Ông nhấn mạnh :“Không có tự do tư tưởng, tự do sáng tạo thì không nhà văn nào có thể tạo nên những công trình có giá trị thể hiện được tài năng, phẩm giá của mình….”. Rất tiếc, hai chữ “tự do” nghe có vẻ “rờn rợn” lỗ tai các nhà văn nên ông Hạnh mới đọc được nửa bài hội trường đã ồn ào, mất trật tự , có anh còn chõ lên :” Khi còn làm Phó ban sao không bàn đến “tự do” , về hưu rồi mơi…bàn ?  (!)”.
“Văn hoá tham luận” quả đã được phát huy cao độ tại Hội nghị, sau màn giáo sư Nguyễn Văn Hạnh bị tẩy chay đến lượt tham luận của nhà giáo Phạm Quang Trung (Đà Lạt) “Rất cần một hệ thống lý luận văn chương dành cho nhà văn” có tới 6 lần bị hội trường vỗ tay, hô lớn : “Thôi!”, “Thôi, xuống đi. Dưới này không phải là học sinh của ông ở Đà Lạt đâu…”.
Tội nghiệp hơn cả là nhà văn Bùi Bình Thi đang lớn tiếng đề nghị đổi tên Hội nhà văn thành “ Hội phu chữ” thì ở dưới nhà thơ Ngô Thảo nói lên:
“Thế thôi! ông mà còn phát biểu nữa là chúng tôi về đấy!”
Ông Bùi Bình Thi nói  xuống:
“thế lúc các ông lên nói thì tôi có cản đâu?”,
 cử toạ ồn ào:
“Thôi, về thôi”.
Và thế là từ lúc đó người “tham luận” cứ “tham luận” còn người nghe cứ “vô tư “ trò chuyện, hò hét hoặc bỏ ra ngoài. Được “chào đón” vậy mà các nhà văn, nhà phê bình vẫn tranh nhau “diễn đàn” bất chấp tham luận của mình có được nghe hay không ? Quả thật có được  chứng kiến các quý cụ run lẩy bẩy cầm giấy lên bục mới thấy…thương cho nền văn chương quốc doanh. Trước hết là các cụ “sáng tác”,  cụ Vũ Tú Nam - “Coi trọng dòng văn học tư liệu”, cụ Vân Long - “Nhà thơ và công chúng”; cụ Nguyễn Xuân Khánh -“Tâm sự của một nhà văn với lý luận phê bình”; cụ Lê Đạt - “Một văn hoá mới”; cụ Thi Hoàng - “Hai mươi năm đổi mới thơ bây giờ...”; cụ Hoàng Quốc Hải - “Những vướng mắc thường gặp trong sáng tác”;rồi tới các cụ phê bình :  cụ Phong Lê - “Hai mươi năm đổi mới nhìn từ lực lượng viết”; cụ Ngô Thảo - “Rất cần các nhà phê bình”; cụ Nguyễn Đăng Mạnh - “Mấy nhận xét về tình hình phê bình văn học hiện nay” vân vân và vân vân… tóm lại , toàn chuyện tầm phào, tào lao.
Tuy nhiên, bản tham luận nặng mùi “bảo vệ Đảng” nhất hội nghị chẳng ai ngờ lại của lão nhà văn Vũ Hạnh bay ra từ Saigòn. Sau mấy chục năm bị mấy anh nhà văn ở R về như Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Viễn Phương …chèn ép, nằm chết gí ở  hốc bò tó 81 Trần Quốc Thảo, Sàigòn, “đồng chí Người Việt cao quý” tưởng lần này ra trung ương sẽ có dịp bầy tỏ lòng trung thành suốt đời theo Đảng chứ không phải như mấy thằng bên Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh báo cáo láo, bởi vậy ông Vũ Hạnh  lớn tiếng chửi bới những cây bút “sa đoạ”. Ông nói:
“Những kẻ viết bôi nhọ Tổ quốc là lập tức được Đại sứ quán Mỹ mời đến ăn tiệc... Tôi đã cảnh cáo Đại sứ quán Mỹ... Còn về xuất bản thì sao, những cuốn sách trước 75 giờ đây được in lại rất nhiều, chỉ một vài cuốn chống cộng sản quá lộ liễu thì mới không, còn lại là in tất... Tôi được giao nhiệm vụ... nhưng không xuể với tình trạng xuất bản lậu hiện nay... Tôi không phải là đảng viên nhưng thấy cái gì... là tôi cũng báo cáo Thành uỷ...”.
Người thứ hai sau nhà văn Vũ Hạnh làm thiên hạ bổ ngửa chẳng ai ngờ lại là thi sĩ Hoàng Hưng vốn nổi tiếng về những chuyến  tây du rao giảng “ mô-đéc-nít” lại được đồng chí Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh biểu dương vào lúc tổng kết hội nghị rằng :” Ý kiến của Hoàng Hưng về quyền tự do, dân chủ trong sáng tác văn chương ở hội thảo này hoàn toàn đúng với tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10 vừa qua về văn học nghệ thuật…”
Oi trời ôi, nhà thơ rất ham có mặt trên các diễn đàn hải ngoại này “bầy tỏ” ra sao mà được chấm đầu bảng “hoàn toàn đúng với tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng10” – một phiếu “bé ngoan” mà ngay đến những tay maoít sừng sỏ ở Saigòn như Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn…có hô khẩu hiệu khản cổ cũng chẳng có được.  Hoá ra ông nhà thơ “mô điếc” mới được chia chút “bổng” giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội đã quên phứt những ngày oi ngột Cục 78 (công an văn hoá), Ban tuyên huấn đối với văn nghệ sĩ Hà Nội trong những vụ “ Đêm đợi tàu”, “Cây táo ông lành”, “ Vòng trắng”, nhóm thơ chân đất…để bênh vực chính sách “cộng sản thời chiến “ của đảng, đả phá những luận điểm về “nền văn chương minh hoạ”, “văn chương phải đạo” khi ông tham luận :
“Trong thời kỳ chiến tranh ái quốc, tự do của cả dân tộc đã là động lực và cứu cánh của văn học cách mạng, đa số người cầm bút khi ấy tự nguyện dẹp bỏ tự do cá nhân để sáng tạo vì tự do của tổ quốc. Vấn đề tự do sáng tạo lúc ấy hầu như không ai đặt ra, hoặc có thể bắt chước lối nói kiểu cách của một nhà văn nọ trong Thế chiến thứ Hai mà không ngượng mồm: "Tôi viết theo mệnh lệnh của trái tim tôi mà trái tim tôi thì thuộc về tự do của dân tộc tôi". ( Hoàng Hưng)”.

Vậy là văn nghệ sĩ “tự ý tước đoạt tự do của mình” chứ Đảng có bắt ép ai đâu ? Quả là không lời “bào chữa” nào hay hơn thế nữa trong việc bao che cho Đảng tước đoạt tự do sáng tác của văn nghệ sĩ . Quả là không ai khôn ngoan hơn Hoàng Hưng trong trò lập lờ đánh lận con đen tuyên truyền “văn nghệ sĩ trong nước không mất tự do sáng tạo” khi kể lể :

” Trong một buổi đọc thơ ở Pháp, có người hỏi tôi rằng: "Ở trong nước, ông có được quyền tự do sáng tác không?". Tôi đã trả lời ngay không cần suy nghĩ: "Người sáng tác chân chính bao giờ cũng có tự do, không chờ ai ban phát và cũng không để ai tước đoạt, trừ khi anh tự nguyện để cho người ta tước đoạt".

Hoàng Hưng quên phứt mất cái án hai năm “cải tạo” khi định đưa  bản thảo của Hoàng Cầm ra nước ngoài bị công an bắt quả tang, phải chăng hồi đó Hoàng Cầm  không phải  “ người sáng tác chân chính” nên công an “tước đoạt “ tự do 2 năm liền bóc lịch ?
Theo chân hai kiện tướng “bảo vệ Đảng” Vũ Hạnh, Hoàng Hưng phải kể tới “đồng chí” Nguyễn Hoà, chuyên viên “đánh hơi”, vừa được chuyển về báo Nhân Dân đã lập công dâng Đảng, phát hiện bài của nhà văn Nguyễn Quang Thân viết về cuốn “ Đi về nơi hoang dã “ của Nhật Tuấn trên mạng Nhân Dân điện tử. Lập tức Nguyễn Hoà mật báo Ban biên tập nên bài viết mới đưa lên được 15 phút đã bị gỡ xuống vì theo đồng chí Nguyễn Hoà “đó là cuốn sách nguy hiểm”.  Trong hội nghị này, Nguyễn Hoà cũng “tham luận”  đòi hỏi người lý luận phê bình khi viết phải “gắn với lý thuyết” – tất nhiên phải là lý thuyết văn học của đảng.
Một bất ngờ khác ít người  nhận ra là nhà văn Từ Sơn, con trai nhà phê bình Hoài Thanh , nguyên chuyên viên Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương đưa ra một đề nghị “động trời”, rằng ngoài Hội nhà văn, nên cho “hình thành, tổ chức những tập hợp, nhóm nhỏ theo khuynh hướng và tình cảm giữa những người viết để họ trao đổi và phát triển tài năng của nhau… Những nhóm này cũng có thể có cơ quan xuất bản của họ.” .
Ong nhận định :
“Đây là xu thế tất yếu, nếu nó chưa xẩy ra bây giờ thì chắc chắn sẽ xẩy ra trong vòng 5, 10 năm nữa, giống như cổ phẩn hoá trong kinh tế vậy”…
Tới ngày đó, Nhà nước chắc không còn nuôi “báo cô” các nhà văn, nhà phê bình, Hội nhà văn  sẽ báo tử và những hội họp vô tích sự , tốn kém như Hội nghị lý luận, phê bình Tam Đảo, Đồ Sơn vừa rồi chắc sẽ được đưa xuống…âm phủ để được   các bác Trường Chinh , Phạm văn Đồng, Tố Hữu trực tiếp huấn thị và chỉ đạo, hội nghị may ra mới thành công rực rỡ.

(còn tiếp)


Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 136 - Nếu vậy phải tru di…đồng chí nào đây ?




  

Cả tuần đêm nào quán cũng đông nghịt. “Uân Cấp” càng vào sâu càng tức cười . Ba “ông lớn” Anh, Ý, Bồ Đào Nha đá đấm loạc choạc như gà đi bộ. Tây Ban Nha vô địch EURO 2008, World Cup 2010, EURO 2012 , ứng cử viên số 1 cũng “xả láng sáng về sớm”.

Đêm qua cả quán lại xúm coi Nhật Bổn – Columbia tới gần sáng . Ai cũng ngáp lấy ngáp để, nhưng sáng nay vẫn tề tựu buôn chuyện đá banh. Cô Phượng cave buồn thiu, mặt chảy dài như bánh tráng trụng nước. Thằng Bảy xe ôm tò mò :

“ Phải chị Phượng buồn thằng Nhật Bổn đêm qua xơi 4 trứng thằng Columbia không ?”

Cô Phượng cave gắt :

“ Nhật Bổn mắc mớ gì tới tao…”

Thằng Bảy xe ôm vỗ đùi cái đét :

“ Hiểu rồi…hiểu rồi…chị buồn “hoàng tử của lòng em” chẳng đá được quả nào khăn gói về sớm rồi ? Đúng không ?”

Chị Gái hủ tíu bưng càphê tới thắc mắc :

“ “Hoàng tử của lòng em là ai vậy ?”

Gã Ký Quèn cười ré :

“ Phải Ronaldo, đội trưởng Bồ Đào Nha, chàng cầu thủ playboy, tay chơi, đẹp trai nhất hội không ?”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Trúng bóc, hèn chi mỗi lần chả xuất hiện chị Phương cave bị hút hồn nhìn lom lom như ma ám…”

Cô Phượng cacve đỏ mặt :

“ Cái thằng quỷ này bươi chuyện. Tao buồn là Uân Cúp kỳ này lại giống kỳ trước toàn những người văn minh lịch sự Anh, Ý, Tây Ban Nha… bị loại ngay vòng đầu…”

Gã Ký Quèn cười hô hố :

“ Lịch sự nhất là thằng Ăng lê, chưa đá đã huênh hoang tuyên bố với cả thế giới , giải đấu tại Brazil sẽ là cột mốc đánh dấu lịch sử phát triển mới của nền bóng đá nước này…he he…”

Cô Phượng cave đã cười trở lại:

“ Xui tận mạng là thằng Tây Bán Nhà, đã rớt cái bịch tại cầu trường, về gần tới nhà máy bay còn bị sét đánh…”

Ông Tư Gà nướng giờ mới lên tiếng :

“ Xưa nay tao ghét nhất cầu thủ mặc áo mầu đỏ…”

Ông đại tá hưu quát :

“ Mầu đỏ là mầu cộng sản sao ông lại ghét ?”

Ông Tư Gà nướng tỉnh bơ :

“ Bởi vậy đội tuyển Việt Nam mặc mầu cộng sản đá đâu cũng thua. Riêng trận rồi những con quỷ Bỉ mặc áo đỏ tao lại khoái …”

Chị Gái hủ tíu thắc mắc :

“ Sao vậy chú Tư Gà nướng?”

Ông Tư Gà nướng cười hề hề :

“ Là vì những con quỷ đỏ Bỉ đá gẫy răng con Gấu Nga bằng vả vào miệng thằng Putin vừa ăn cướp vừa la làng chẳng khác gì thằng Trung Quốc…”

Gã Ký Quèn gật gật :

“ Đúng đó, hôm nay thằng Trung Quốc đâm vỡ tàu ta mà lại la lên là Việt Nam gây hấn, quấy phá giàn khoan của nó…”

Vừa lúc đó cô Ba vợ ông đại tá hưu xồng xộc vào quán vứt lên bàn mảnh giấy la toáng :

“Ông coi đi…ông coi đi…sao tháng này lên tới 5 triệu…tổ sư bố thằng Sở điện… nó tăng giá thế này bằng giết người ta…”

Ông đại tá hưu vội vàng :

“ Bình tĩnh…mình cứ bình tĩnh..chuyện đâu có đó…”

Gã Ký Quèn cười hô hố :

“ Ba thằng Sở điện mua của tàu đắt gấp 3 lần nên nó tăng giá phải rồi…”

Cô Phượng cave thử dài sườn sượt :

“ Xăng tăng, ga tăng, điện tăng, cái gì cũng tăng trừ phát biểu chống Tàu của ba vị lãnh đạo là giảm…”

Ông đại tá hưu đập bàn :

“ Con Phượng cave kia, sao mày dám bảo tinh thần chống Trung Quốc của lãnh đạo giảm hả ?”

Cô Phượng cave vênh mặt :

“ Thỉ ông Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng chẳng nói với thằng Dương Khiết Trì :” Đảng, Nhà nước  quý trọng và làm hết sức mình để tăng cường tình hữu nghị giữa  Việt Nam-Trung Quốc”, ông Nguyễn Tấn Dũng ôm hôn thắm thiết thằng Trì, ông Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nói quan hệ Việt Nam Trung Quốc rất tốt, đây là chuyện trong nhà, còn ông Chủ tịch quốc hội thì chưa dám ra tuyên bố phản đối Trung Quốc mà chỉ ra thông báo thôi. Thông báo thì nhằm nhò con  mẹ gì ?”

Bà Tổ trưởng cao giọng :

“ Cô Phượng cave ăn nói linh tinh, quốc hội đã ra thông báo đòi Trung Quốc rút giàn khoan còn gì ?”

Gã Ký Quèn hùa theo :

“ Cô Phượng cave chưa nhắc tới ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ông này nhắc lại lời của vua Lê Thánh Tông nói với triều thần: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!”.  

Thằng Bảy xe ôm la hoảng :

“ Ối…ối..nói vậy nguy quá …nguy quá…”

Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn:

“ Mày bảo nguy chỗ nào hả Bảy…”

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Nếu vậy mất Gạc Ma, mất ải Nam Quan, mất thác bản Giốc sẽ tru di…đồng chí nào đây ?”

Cả quán cười ồ. Bà tổ trưởng nhìn ông đại tá hưu có ý chờ ông trả lời nhưng ông im lặng, cắm mặt xuống bàn.



25-5-2014



 




Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ - KỲ 115



                                   (tiếp theo)




Chị Kelly Thi cười khì khì :

“ Ông thì nói làm gì…máu của ông mang đi xét nghiệm thì chắc chăn là thuộc nhóm CC…”

Bác Ba Phi ngớ người

“ Tôi tuởng người ta chỉ có hai nhóm máu A hay B thôi chứ, lại có cả nhóm C C nữa sao ?”

Chị Kelly Thi cười ngất :

“ Máu nhóm CC  là máu Chộng Cộng đó bác.”

Bác Ba Phi vỡ lẽ :

“ Hoá ra vậy . Nhưng tôi thông cảm với ôg vì ông mất mát quá lớn…”

“ Lão già” lắc đầu :

“ Chẳngt phải vì mất mát lớn mới phải căm thù cộng sản . Cái chính là nó tàn ác xấu xa quá . Bất kỳ ai một khi đã nhận ra chân  tướng thì đều căm ghét nó cả…”

Bác Ba Phi vỡ lẽ :

“ Nếu vậy Việt kiều Mỹ đều thuộc nhóm máu CC cả…”

“Lão già” lắc đầu :

“ Không hẳn vậy đâu. Cũng còn khối anh chưa thoát được cái bệnh “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”, Anh thì khăng khăng treo ảnh Hồ Chí Minh ngay giữa phòng khách, anh thì về nước lên tivi đánh võ mồm bày tỏ tinh thần yêu nước để được VISA đi đi về về còn làm ăn mánh mung…”

“ Lão già” đột ngột hỏi :

“ Thế còn bác ? Bác có máu CC không ?”

Bác Ba Phi chậm rãi :

“ Tôi sang đây mới thấy nói nhiều tới cộng sản, còn ở trong nước, nói thực tôi chỉ thấy hai chữ cộng sản trên các khẩu hiểu, biểu ngữ treo ngày lễ ngày Tết . Í chết quên, trên tivi cũng hay nói tới nữa nhưng tôi đâu có coi , tivi cứ chiếu mít tinh, đại hội là tôi chuyển ngay sang nghe ca nhạc, coi phim. Bởi vậy nói cho ngay, có biết công sản mặt ngang mũi dọc ra sao đâu mà chống ?”

Chị Kelly Thi lắc đầu :

“ Cứ lơ tơ mơ như bác thì cộng sản tha hồ tham nhũng, tha hồ bán nước cho tàu là phải rồi. Nhưng tôi chưa hiểu người như bác ở Việt Nam có đông không ?”

“Lão già” chen ngang :

“ 90 phần trăm dân số là như vậy. Ay là tôi còn lạc quan đấy, điều tra chi ly cụ thể thì chắc phải tới 99 phần trăm là “ mặc kệ Đảng” như bác Ba Phi này…Chính vì vậy đảng cộng sản mới ngồì lên đầu lên cổ dân tộc lâu đến vậy…”

Bác Ba Phi tính cãi nhưng lại thôi. Giờ mà tranh luận chuyện chính trị chính em thì có đến mai chưa hết cãi nhau.Thôi, vậy cũng đủ hiểu tinh hình bên này rồi.Mấy ông đảng cứ kêu gọi hoà hợp, hoà hợp thật tức cười ! Hoà hợp sao mà hòa hợp ?

Giả tỉ bây giờ mời “lão già” với chị Kelly Thi về nước nói chuyện chính trị  với ông bà tổ trưởng tổ phó dân phố coi, không cãi nhau như mổ bò ấy à ?  Ngay đến dân với dân thôi cũng còn vậy, đừng mong gì hoà hợp, nói gì đến Việt kiều hoà hợp với Đảng và Nhà nước ? Còn lâu ạ, mà chắc là chẳng bao giờ. Trừ khi cái Đảng này giải tán và lập Nhà nước mới thì may ra. 

Bữa cơm chia tay bà chủ quán chỉ toàn các món Việt Nam. Canh chua cá lóc, cá trê kho tộ, đậu hũ chiên, thịt quay ăn với củ kiệu muối. Buổi tối bà chủ cho bắc ghế ra vườn ngồi uống cà phê, ngắm trăng. Bác Ba Phi ngửa cổ lên nhìn ông trăng tròn vạnh, lơ lửng trên trời cao trong vắt. Hình như trăng ở Mỹ tròn, lớn và sáng hơn trăng ở nhà thì phải. Bác Ba Phi nhớ những đêm rằm, bác với vợ chồng thằng Đậu cũng bắc ghế ra sân ngắm trăng. Thằng Đậu ôm cây ghi ta lõm gảy lừng phừng giữ nhịp cho con vợ nó hát mấy câu vọng cổ nghe thiệt mùi . Những lúc cao hứng vậy thế nào cũng phải có ba xị đế con khô mực.Mọi sự đời như bị đuổi hết ra ngoài cửa, ba ông cháu cứ thế là ngồi ngất ngưởng chén chú chén anh đến tận khuya.

Những buổi ngắm trăng quê nhà khác xa với ở đây. Không ai uống rượu cả, họ chỉ nhấm nháp ly càphê với bánh ngọt đựng trong một cái hộp sắt có hình sặc sỡ và bao bì rất công phu. Không ai nói với ai, chỉ chìm đắm vào bầu không khí tràn ngập ánh trăng để thụ hưởng những giây phút hiếm hoi . Sau cũng “lão già” lên tiếng hỏi bác Ba Phi :

“ Ở quê có những đêm trăng sáng và tròn như thế này không ?”

Bác Ba Phi gật đầu :

“ Có chớ…trăng rằm bao giờ cũng tròn và sáng trưng thế này…”

“ Lão già” lắc đầu :

“ Tôi cho rằng trăng Việt Nam không tròn và lớn thế này đâu. Cái chính là không khí ở Việt Nam  ô nhiễm khá trầm trọng, không thể trong và sạch như  ở Mỹ vì vậy nó ngăn cản làm ông trăng bớt tròn và sáng . “

Mọi người không ai nói gì, hình như vẫn còn đangchìm đắm trong ánh trăng làm “lão già” phải hỏi gặng :

“ Tôi nói vậy có đúng không ?”

Chị Kelly  Thi bật cười :

“ Xưa nay người ta thường nói yêu nhau thì củ ấu cũng tròn, bồ hòn cũng ngọt , mà đã ghét nhau thì…Ong này căm thù cộng sản vậy nên nhìn trăng quê nhà cũng thấy nó mờ và nhỏ hơn trăng Mỹ…”

“Lão già” lắc đâu, cãi :

“ Không không…tôi ghét cộng sản thôi , đâu có ghét quê hương đất nước Việt Nam. Vả lại trăng là của toàn dân Việt chứ của riêng Đảng đâu mà tôi ơhải ghét cả trăng…”

Chị Kelly Thi cười cười :

“ Nghe nói ngày xưa cộng sản bắt ngồì tập trung để ngắm trăng …tập thể. Chuyện đó có thực không ?”

Bác Ba Phi ngạc nhiên :

“ Ngắm trăng tập thể là thế nào ? Từ bé tới giờ tôi chưa nghe nói tới…”

Chị Kelly Thi giải thích :

“ Ngắm trăng tập thể là buổi tối có trăng ông tiểu đội trưởng bộ đội cụ Hồ tập trung cả đơn vị lại ngồi giữa sân. Chờ khi trăng lên thật cao , nom thật lớn, thật tròn, ông tiêu đội trưởng mới hô :” Toàn đơn vị chuẩn  bị…ngắm trăng…ngắm…”

Bà chủ cười  phát sặc :

“ Kỳ quái đến vậy kia à ? Nhưng tôi không tin …chắc là mấy ông văn sĩ bịa ra để chửi Đảng đấy thôi…”

“Lão già” trợn mắt :

“ Bịa sao được ? Chị phải đặt mình vào cái thời cải cách ruộng đất kìa. Thời đó vai trò tập thể được đưa lên ngang ông trời. Cá nhân bị dìm xuống đất đen. Bởi vậy mới có ăn cơm tập thể, làm đám cưới tập thể, sáng tác tập thể…cái gì cũng tập thể vậy thì ngắm trăng tập thể là chuyện bình thường thời đó chứ có gì lạ…”

Chị Kelly Thi thắc mắc :

“ Tôi không hiểu làm sao mà lại sáng tác tập thể được nhỉ ?”

“Lão già” trợn mắt :

“ Có chớ sao không ? Giả dụ như bốn chúng ta ngồi đây sáng tác một bài thơ tứ tuyệt chẳng hạn. Tôi sẽ làm câu thứ nhất, bác Ba Phi làm câu thứ hai, chị Kelly Thi làm câu thứ ba, câu thứ tư giành cho bà chủ…”

“Lão già” cười ha hả tự thưởng cho ví dụ hài hước của mình rồi nói tiếp :

“ Nhưng mà ta mới nói giả dụ vậy thôi, chứ trong thực tê sáng tác tập thể phải thấm nhuần quan điểm giai cấp nữa kìa…”

Chị Kelly Thi tròn mắt :

“ Đã sáng tác tập thể lại còn  đòi quan điểm giai cấp nữa kìa…”

Lão già hăng hái :

“ Chớ sao…cái đó gọi là tính giai cấp đó…Thí dụ bác Ba Phi thành phần cố nông, vậy phải ưu tiên bác đi trước, làm câu thơ mở đầu, rồi đến bà chủ đây là bần nông, xin mời làm câu thứ hai, chị Kelly Thi là trung nông, làm câu thứ ba, còn tôi là phú ông được làm câu thơ cuốí cùng , còn nếu tôi là địa chủ hả ? Đi chỗ khác chơi, không cho tham gia vào tập thể sáng tác thơ này…”

Bác Ba Phi rụt rè :

“ Tôi thấy…tôi thấy mấy cái chuyện đó là chuyện đời xưa rồi…ngày nay đâu có còn ba cái thứ phân biệt giai cấp với cả sáng tác tập thể vậy nữa…”

Lão già gật đầu :

“ Bác Ba Phi nói đúng…cái thời phân biệt nông dân với địa chủ, công nhân với tư bản đã qua rồi…Bây giờ chỉ còn sự phân chia người có tiền và người không có tiền thôi…Khổ nỗi người có tiền phần lớn là do ăn cắp, tham nhũng, buôn gian bán lận, tức là những đồng tiền dơ dáy, bởi vậy đa số là bọn bất lương, còn người không có tiền hầu hết sống bằng bán sức lao động rẻ mạt, bị bóc lột, đàn áp và coi rẻ như loại người hạng hai. Cái sự “phân biệt giai cấp” ngày xưa nay đã biến thái thành ra như vậy đó…Nếu thời cải cách ruộng đất, bọn “bần cố nông” tức bọn khố rách áo ôm được Đảng đôn lên thành phần ưu tú, công dân tin cậy, chỗ dựa của Đảng thì ngày nay kẻ có  tiền được cả xã hội chứ không riêng gì đảng trọng vọng nể vì…”

Chị Kelly Thi chen ngang :

“ Vậy thời nay là của đồng tiền ngự trị ?”

“Lão già” gật đầu :

“ Đúng thế …chính cộng sản ngoài miệng luôn tỏ ra thù ghét “tư bản” nhưng trong bụng lại rất thèm khát tiền bạc. Chúng không từ một thủ đoạn nào để đục khoét công quỹ, moi tiền dân chúng. Chúng biến đồng tiền thành một thứ “bái vật giáo”, đưa đồng tiền lên vị trí cao nhất trong thang giá trị. Chính ở vị trí chúa tể vậy đồng tiền đã huỷ hoại mọi giá trị xã hội . Từ những giá trị tinh thần như sự cao cả, lòng vị tha, lương tâm, danh dự , tính tự trọng, sự trung thực cho đến những giá trị đạo đức thiêng liêng như tình mẫu tử, tình thày trò, tình bạn, tình yêu…tuốt luốt đều bị đồn tiền huỷ hoại. Sự thật bị vây đuổi khắp nơi để chỗ cho sự dối trá sinh sôi  tràn lan…”

Chị Kelly Thi lên tiếng :

“ Vậy thời này là cái thời gì ? Thời đồ đá, thời đồ đồng hay thời đồ đểu…”

“Lão già” lắc đầu :

“ Không có chữ nào nói được chính xác về cái cái thời này. Từ hồi mới ra lò, cộng sản đã huênh hoang đây là cuộc cách mạng “long trời lở đất”, đây là cuộc cách mạng “đào tận gốc trốc tận rễ”. Mới đầu cứ tưởng nó bốc phét, ngờ đâu càng ngày chứng kiến những tội ác tày trời của nó, mình mới thấm thía. Đúng là một cuộc  cách mạng “long trời lở đất” thật, không những nó phá nát cương thường đạo lý, phá nát những truyền thống tốt đẹp của cha ông mà rõ nhất là tinh thần bất khuất chống ngoại xâm mà còn phá nát cả môi trường tự nhiên như phá rừng, đào bới tài nguyên, gây nên hiểm hoạ bùn đỏ khi cho Trung Quốc vào khai thác bâuxite Tây Nguyên…”

Bác ba Phi đã nghe đầy tai những lời kết án, vạch trần chân tướng của cộng sản, tuy không hẳn tin vào những lời lẽ đầy hằn học của “lão già” nhưng trong bụng bác cũng bán tín bán nghi, không lẽ bao công lao của Đảng và Nhà nước lại bị sổ toẹt tuốt luốt như lời lão già sao ?



                                 (còn tiếp)










Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Nhà văn ĐỖ QUYÊN - Chuyện tổ quốc moving bất thành - Truyện ngắn







“Văn học, lịch sử của tương lai.”
Dịch ra tiếng ta, moving trong tiếng Kanada là dọn nhà, chuyển chỗ ở... Dân chúng Kanada cho từ này tung tăng trên làn môi ánh mắt, chứ không lưu trữ đáy dạ dày như ở châu Âu - quê hương tiên tổ của họ trước khi di dạt đến đây như những công dân văn minh Nam bán cầu đầu tiên. Cả một câu chuyện dài mà bí mật của nó đang chôn vùi trong các núi băng rừng tuyết… Thỏa chí tang bồng, họ thường chuyển đổi nơi ở hơn cả thay đồ lót. Đất rộng, người thưa, khí hậu giá lạnh, lười ngại sinh con, ham viết truyện cực ngắn. Thế nên moving được xem như một phong cách sống - phong cách Kanada.

Thi sĩ Vương Phủ vốn là người nước Nam. Theo cách nói bình dân hoặc lối viết văn hoa. Chứ trong giấy tờ, trên bản đồ thì thi sĩ thuộc về dân tộc Việt, đất nước của thi sĩ có tên Đại Việt. Nhờ thời toàn cầu hóa, trái đất hết là tam giác kim tự tháp với người da nâu, thôi là hình vuông bánh chưng với dân da vàng. Với tất cả, là con quay. Quay quay thế nào đó khiến Phủ moving từ thương cảng Gia Định sang định cư tại Hongcouver, một thành phố duyên hải của nước Kanada. Gọi là định cư cho đúng thủ tục hành chính, còn theo tập tục Việt, loại người như Phủ là tạm cư đất khách. Điều tạm đau đớn hơn cả, đó là Vương Phủ không còn được làm thơ viết trường ca nữa! Riêng tại quốc gia này công dân có tới 34 thứ quyền - kỷ lục trong thế giới đương đại - nhưng lại thiếu hai thứ: thi ca quyền và chiến tranh quyền.

+

Người đang chát trên mạng cùng Vương Phủ là Nhà văn.

“Có chi mới?” - “Châu chấu đã bu đầy một phần ba đảo Gạc Ma! Nhiều gấp bốn, năm lần hôm qua, thi sĩ ơi!” - “Biết rồi, tin từ CNN, AFP, Reuters, DPA, TTO... Tá lả! Chỉ chưa thấy gì về Trường Sa.” - “Tôi sắp phải ăn sáng…” - “Ăn lẹ? Sẽ chờ...”

Kể từ ngày 2 tháng Năm, đã một tháng rồi. Nhiều lần chịu không nổi, họ gọi phôn hàng tiếng, hàng tiếng... Cảnh sát biển, kiểm ngư hao tổn tính mạng, sức lực, tinh thần. Họ, năm bảy cái cạc viễn liên bõ gì. Hai người cảm và hiểu nhau. Mỗi khi cái nốt ruồi rung rung nơi cằm Phủ, y như rằng có điện thư của bạn gửi từ quê nhà. Còn lúc chiếc răng hàm trên bên trái của Nhà văn ê ê đau trở lại, ấy khi chuông điện thoại đổ dồn.

“Biên tập tiếp giùm đoạn vừa thảy vô hộp thư? Bổ sung hồ sơ gửi Liên minh hòa bình toàn Bắc bán cầu. Không phải bài đăng báo đâu! Cảm ơn.” - “OK. Đang đọc… Đang đọc…”

“… Xứ sở lúa nước, dân Đại Việt đa phần theo đạo Bút, thờ thơ ca và côn trùng. Mỗi khi nạn châu chấu từ nước Trung tràn sang, chúng tôi chỉ còn biết ca câu ‘Tránh châu chấu chẳng xấu mặt nào’ và gọi gió bão đến xua đuổi. Năm thế kỷ trước, châu chấu nhằm dịch tả mà kéo sang. Lo cứu người, không ai kêu gió cầu bão được. Cực chẳng đã, phải dùng người còn chút sức khỏe diệt châu chấu. Âu cũng độc nhất một lần cả đạo cả nước chịu tiếng phạm giới. Tâm linh tê liệt, mùa màng kiệt quệ mất mấy đời... Nói cho ngay, tự thời xa xưa chiến trường thuần trên đất liền, hai quốc gia từng có ngót trăm cuộc chiến lớn nhỏ người đối người mà dân Việt thường là kẻ rút gươm ra sau và tra gươm vào vỏ trước. Cũng đã có năm, sáu lần chúng tôi chẳng còn gươm cùng vỏ. Đất mất là mất hết. Chỉ còn những đêm trường nô lệ ngàn năm… Dịp đại lục ấy đạt dân số hai tỷ trùng với một cuộc xâm phạm biên giới thảm khốc, viên đại tướng soái người Trung nói với thuộc cấp: ‘Hai tỷ người chúng ta chỉ cần đồng loạt nhảy lên một cú, cả trái đất này sập; hai tỷ người chúng ta chỉ cần đồng thanh hắt xì hơi, cả rẻo đất Nam kia văng ra biển.’ Châu chấu là quân tiên phong khi người đang bày binh bố trận. Duy nhất có được non nửa thế kỷ, châu chấu là bạn là tình là hoa là gạo... Thế rồi châu chấu vui chẳng tày gang. Suốt thập niên qua, vượt eo biển Đông, hàng năm châu chấu lại xâm ra lấn vào khắp hai đảo cửa ngõ của nước Đại Việt là Trường Sa và Gạc Ma án ngữ biển Thái Bình Dương. Đảo Hoàng Sa thì đã bị cưỡng chiếm từ mười năm trước đó. Với kiểu hải chiến châu chấu lắt léo khó lường hơn châu chấu cạn, đạo Bút của chúng tôi đang phải cải biến gấp để sinh tồn trong thời hậu hiện đại. Họa mất đất mất nước đến tầm tay rồi! Từ xưa dân tộc Trung đã có thói quen lạ trong giấc mơ: ngủ dậy có người ngỡ mình hóa thành bướm, số này thường thích thơ phú và kinh doanh; có kẻ tỉnh dậy thấy biến thành châu chấu, đa số họ ham truyện chưởng và gây sự loạn xị ngậu với bất kể ai xung quanh, vô tình hay hữu ý…”

+

Từ khi moving khỏi trời Nam, những ý nghĩ trong mơ của Vương Phủ trở nên siêu việt. Dạo còn ở trong nước, người ấy dành trọn các giấc mơ cho thơ và trường ca; thì cũng như chán vạn người thơ khác mà thôi.
Có lần đang điện thoại chúc tân niên Nhà văn bỗng hỏi:
“Tôi chưa hiểu rõ việc thi sĩ từng mơ thành Trạng sang nước Trung để cứu Đại Việt khỏi nạn châu chấu nước?”

Phủ bèn bảo Nhà văn chuyển qua dùng điện thư. Người viết bây giờ được thế là trúng số, vừa “tám chuyện” vừa có bài báo ngay tức thì hoặc làm nguồn bài vở về sau.

“Trạng thời nay chỉ là thuyết khách với tư cách cá nhân. Nếu như người nước Trung hứa, bằng văn bản quốc tế, rằng tối thiểu 500 năm không động chạm địa phận và hải phận Đại Việt thì Phủ này sẽ cống hiến mật kế bảo đảm nội tình đại lục trở lại yên hòa, cũng 500 năm tối thiểu.”

Nhà văn nhổm lên, chẳng còn ngồi rung chân được nữa. Và vẫn không bỏ được tật lép bép những câu đệm hư vô.

“To chuyện? To chuyện rồi!”

Ngón út ve ve nốt ruồi cưng, “Trạng thời nay” dè dặt gõ máy; thật ra là đổ chữ nghĩa từ trong lòng ra bàn phím.

“Ai cũng biết Tận Thủy Hoàng là vị vua đầu tiên sau vài ngàn năm nội chiến đã thống nhất đế chế Trung. Vậy mà tưởng như không ai biết một điều rằng, bộ óc của đệ nhất hoàng đế hiện vẫn còn được bảo lưu rất kỳ bí! Phủ mơ thấy mình tìm được nơi cất giữ bảo vật. Vấn đề ở chỗ bộ óc Thủy Hoàng Đế bị dính một chú châu chấu! Nó chạy nhung nhăng trong đó khiến hồn phách ngài bất an. Tự ngàn xưa qua ngàn sau… Não của kẻ bạo chúa thuộc hàng phi phàm, có đặc chất nuôi côn trùng bất tử. Địa điểm bảo lưu ‘trái tim châu chấu’ không tại nơi lăng tẩm hoành tráng với đội quân đất nung huyền thoại mà lại ở một địa điểm quần chúng. Phải dùng kinh Dịch bát quái để giải mã bức mật đồ. Éo le thay, trong vụ này kinh Dịch chỉ thiêng khi được chính người Việt nào đó sử dụng. Chưa hết… Phủ mơ truy cập địa chỉ bức mật đồ đang tản mát trong nhân gian. Phần giữa bức mật đồ do một người Đài Loan giữ truyền đời; cũng như thế phần trái và phần phải bức mật đồ trong tay một người Tân Cương và một người Tây Tạng. Từ đó, Phủ vững tin nước Trung sẽ thương thảo được mâu thuẫn trăm năm về cương vực với những sắc tộc ở các khu tự trị Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng để mọi bên cùng hưởng lợi. Bí quyết an hòa cho quốc gia Trung nguyên là vậy!”

Nhà văn cảm thấy nghèn nghẹn, vội cẩn thận chuyển điện thư vào tệp bài mới mở. Truyện ngắn mà độc giả đang đọc được ra đời từ lúc đó…

“Tiếc, chỉ là đang mơ! Cứ dịp rằm các tháng Giêng, Tư, Bảy, Tám, Mười và Chạp thì Phủ lại mơ... Mười năm có lẻ. E sẽ không nên chuyện. Viển vông! Trí óc Phủ càng lúc đã lú lại thêm loạn (Chưa biết chừng đang có vài cô châu chấu trong đó?!) Không làm sao thấu suốt kinh Dịch. Đọc quẻ Đoài lộn qua quẻ Khôn. Vậy, Phủ cứ kể hết ra cho Nhà văn tùy nghi. Cầu trời đất tổ tông tìm ra vị độc giả cao cường nào có chí có trí để mơ tiếp. Cho nước Nam gặp vận may, mà Trung nguyên cùng các xứ ngoại vi có cơ hội yên bình. Nhà văn nhớ ghi cho tỏ: Phi Kinh Dịch Bất Truy Tận Thủy.”

+

Không còn thời gian tự oán trách mình bỏ cuộc kinh Dịch, Phủ vào ngay phương án moving toàn bộ đất nước Đại Việt sang xứ Kanada. Ước mơ của ban ngày. Trước Phủ, cũng có một số tổ chức chính phủ và phi chính phủ, cá nhân ở trong và ngoài Đại Việt bàn thảo rồi xúc tiến thăm dò. Không hiểu sao chỉ khi tay Phủ xô đẩy vào, mọi sự trơn tru hơn. Cả một câu chuyện dài mà bí mật của nó đang chôn vùi trong hình chữ S vòng vo bên biển Đông cuộn sóng. Không ít điều còn vùi chôn ở các cường quốc liên đới.
Góp phần nối kết hai nhà nước trở lại đại sự và nhất là tìm chuyên viên lập loại thuật toán moving chưa từng có, với Phủ thật ra không khó hơn thảo một bản trường ca năm vạn chữ. Thế rồi, kết cục không thành! Nhưng lần này lỗi không ở thi sĩ Vương Phủ.

Dưới đây là một ít thông tin được Nhà văn soạn lại từ các hồ sơ và dư luận công chúng Đại Việt và quốc tế, nhất là các tài liệu, tranh luận trong Quốc hội nước Đại Việt:

Tít hút miệt dưới, Kanada là quốc gia hiện đại hình thành đầu tiên, là chủ nhân ông đương nhiên và vĩnh viễn của nửa địa cầu phía Nam. Vì khiêm nhường, nhà nước này không khuyến khích việc gọi tên dân dã của châu lục là châu Kanada; chuẩn phải là châu Cực Nam. Chính sách “Moving tứ hải giai huynh đệ” đã nhanh chóng biến nơi băng giá thành chốn tình nồng với nền kinh tế, văn hóa, công nghệ, an sinh xã hội vọt lên hàng đầu thế giới. Khiến từ miệt trên Bắc bán cầu các cường quốc có bề dày dân chủ phải vị nể, các nhược quốc thiếu dân chủ luôn ngưỡng mộ.

Châu Cực Nam hiện đã có cả tá quốc gia, bang tự trị. Tất cả đều được thành lập bằng các dân tộc, sắc dân, cộng đồng đến từ mọi châu lục khác. Mỗi hồ sơ moving, mỗi lý do. Lý do “bị xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải; đe dọa an ninh” cũng không ít. Là quốc gia chính chủ, Kanada giành độc quyền quyết định thu nhận thành viên mới thông qua Hội đồng các quốc gia, bang tự trị toàn Cực Nam. Điều gì là huyền bí ở sự quản trị của nhà nước Kanada trên mọi lĩnh vực, trong đó số một là vấn đề an ninh, phi quân sự của toàn cõi Nam bán cầu? Đó chính là nguồn tư vấn từ Tổng bang tộc chủ - một cơ chế bất khả tư nghị, gồm các bậc trưởng thượng của những thổ dân có mặt hàng thiên niên kỷ tại lục địa heo hút này như những con người hiện đại đầu tiên. May! Tâm, tầm, tài vẹn toàn của chính chủ khiến mọi sự trong “xóm nhà lá” đều suôn sẻ; đâu có tùm lum tanh bành như bốn châu lục mạn ngược kia. Vả, xứ sở gì mà lạnh lẽo thấy ông bà ông vải; chẳng ai còn muốn sinh sự cho phí công… moving.

Tổ quốc moving? Hồ sơ Đại Việt được xem như trường hợp quốc gia khởi đầu có thể moving toàn bộ - con người và thể chế, nhà cửa và sông núi, phong tục và phong thủy, linh hồn và mồ mả, vân vân và vân vân… Cả hình chữ S khổng lồ cùng các đảo sẽ tới đây. Thống nhất đất nước, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Thông cảm với một dân tộc mang trên mình 5500 năm cám cảnh ngoại xâm, Kanada sẽ cho nước Đại Việt mới an tọa tại bang Orange, nơi hoàn toàn bỏ không với những bình nguyên cam vô chủ. Các quốc gia, bang láng giềng đều là của các bác bản địa suốt ngày đêm hát múa, vẽ tranh tạc tượng rồi uống bia Sék, hút thuốc cuốn sau khi kiếm được chút lương thực đủ cho một tuần.

Cũng có vài tiền lệ rút lại hồ sơ. Đáng nể và đáng kể là dân tộc Do Thái. Từng bị đế quốc Đức triệt hạ già nửa số dân, tính bản thiện họ chỉ ham thích bán buôn và làm toán. Thế nhưng từ buôn bán dẫn đến chiến tranh, từ làm toán chuyển sang làm thơ gần nhau vô cùng. Không kiềm chế, đếm tiền sẽ thành bóp cò. Không tự chủ, hai cộng hai sẽ bằng năm trong nghệ thuật lãng mạn. So đi tính lại, cộng đồng Do Thái đành xin lỗi các vị hảo tâm phương Nam khi quyết định hủy hồ sơ. Việc đền bù lệ phí thì không là gì so với tài lực của họ, quan trọng là chịu mất hẳn quyền moving theo luật hiện hành. Bài học: thà không lãnh thổ, không tổ quốc, cư ngụ tản mát trên hàng trăm quốc gia để sống mái với loài người Bắc bán cầu trong mọi lĩnh vực; chứ không chịu tụt xuống miệt dưới an phận mất bản sắc người Do Thái!

Tại sao luật lệ châu Cực Nam, khắt khe nhất là nước Kanada, lại khiếm khuyết thi ca quyền và chiến tranh quyền? Là vùng đất hứa, họ lập luận thế này... Nhân chi sơ con người ta - đại biểu là ở Bắc bán cầu - thường yêu thơ ca và mê súng gươm. Tức là yêu hoa và mê máu. Một thi hào của đại dân tộc Nga ngự trị đỉnh cực Bắc từng tuyên ngôn: “Nếu không là thi nhân/ Ta sẽ thành tướng cướp”. Nam bán cầu muốn xóa bỏ các tệ nạn của Bắc bán cầu. Để tiến hóa theo kiểu khác, phải dùng thật nhiều nhân quyền khác bù đắp cho thi ca quyền và chiến tranh quyền. Thôi đành, luật vô thập toàn.
Sách tiểu học vùng đất mới có truyện cổ tích tân thời như: “Ngày xửa ngày xưa, có tác giả nọ mới chỉ gieo một vần thơ là con mắt trái rụng xuống, vón lại làm dấu chấm hết. Ông còn cố viết xuống hàng theo nhịp điệu, tức thì mắt phải cũng rụng và thành vòng tròn đen loang khắp trang thơ”. Và như, “Ngày nọ, chàng Don vừa cầm lên khẩu súng; tay cầm súng bị nhão ra. Don kịp chuyển qua tay kia và bóp cò bắn đối phương; tất nhiên tay kia bèn chảy thành bột.” Bù lại, khí hậu hàn đới ở đây lại có những tuần nóng cháy đột ngột, rất tiện cho viết và nghe truyện cực ngắn. Năm kia, lần đầu tiên giải thưởng văn chương danh giá Alfred Bernhard về tay một công dân Kanada, Alice Lee - bậc thầy của phong cách truyện cực ngắn.

“Độc đáo nhất trong hồ sơ đến Kanada của nước Đại Việt là chương trình phần mềm chưa từng có...” - Mời độc giả xem tiếp đôi dòng trích từ trả lời phỏng vấn của tỷ phú Kevin Gates; người Kanada gốc Mỹ; cựu sĩ quan phản chiến trong chiến tranh Mỹ-Việt; đương kim Giám đốc MicroNonHard (MNH). -
“… Vâng, điều nhà báo hỏi cũng như các câu hỏi chúng tôi từng nhận được. Thuật toán moving tổng thể một quốc gia luôn là đỉnh cao mà MNH phải tới. Bởi đó là mong muốn hiển nhiên trong chính sách của Kanada. Nhưng - dùng hình ảnh của người Việt - đó là bài toán con trâu và cái cày. Khoa học công nghệ có cái đỏng đảnh của nó, không phải lúc nào cũng xăng xái chạy trước nhu cầu sống còn của con người. Dù chưa thực hành thành công, vì Hồ sơ Đại Việt đang chờ xác quyết lần chót từ phía Đại Việt. Song tôi có thể tiết lộ: trong biết bao nhiêu là năm, MNH đã hao tốn tới một phần ba vốn liếng cho các nghiên cứu phát minh Thuật toán moving quốc gia; và chỉ khi “con trâu Việt” chính thức vào cuộc thì “cái cày MNH” mới hoàn thiện công trình này về lý thuyết. Tôi muốn khẳng định với các công dân và đất nước mà mình chịu ơn rằng, từ hồn vía tổ tiên tộc Việt tới các món ăn quốc hồn quốc túy dân Việt đều có thể giữ nguyên ý nghĩa (dù tính chất sẽ bị “lạnh” đi!) khi moving tới địa chỉ tái sinh là Kanada. Điều đã khiến chúng tôi tin tưởng không hẳn vì ưu việt của sản phẩm mang tên MNH - Công ty điện toán lớn thứ hai trên thế giới, mà còn bởi tính thích nghi của bản sắc người Việt. Xưa kia, ‘tam giáo’ phức hợp và đa điệu đến thế mà vẫn được ‘đồng nguyên’ tốt lành trong văn hóa Việt cơ mà?”
“Tôi có những duyên nợ nào với con người và đất nước Việt ư? Tôi từng được quân đội Đại Việt cứu sống khỏi trại đào binh Mỹ. Tôi có cậu con trai Aeren 13 tuổi từng tự nhận mang ba dòng máu Mỹ, Kanada và Việt, trong khi mẹ cháu là người thuần chủng Kanada, còn cha cháu - thề có Chúa! - chưa hề “động chạm” một người phụ nữ Việt nào. Và, tôi là bạn của thi sĩ Vương Phủ.”

Cuối cùng là lược trích nghị quyết - biên bản số 2855HD/981-QH8 của Quốc hội Đại Việt, Ban đặc nhiệm Chương trình moving đến Kanada:

“Tiếc cho một dự án sinh tử của dân tộc đã không thể tiếp tục thực thi; ngay cả trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực không nhiều diễn biến phức tạp; ngay cả không xảy ra xung đột biên giới phía Bắc tại các tỉnh thành Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn và xâm lấn, chiếm đoạt hải phận Biển Đông tại ba đảo tam giác dầu Trường Sa - Hoàng Sa - Gạc Ma.”

 “Hội nghị Diên Hồng vi mô đã phủ quyết quốc sách ‘Tránh voi chẳng xấu mặt nào’; song cũng không có quyết định gì bảo đảm cân đối giữa Chủ quyền bất khả xâm phạm và Hữu nghị bất khả từ nan, trong Nạn châu chấu giữa hai nước Việt-Trung. Quốc hội đề nghị Chính phủ tập trung định hướng chỉ đạo tăng tính ổn định, bảo đảm sự đồng điệu sao cho duyên dáng mà vững chãi của thế chân vạc an ninh, kinh tế và xã hội; nhằm tiến tới Hội nghị Diên Hồng vĩ mô; ngoài ra, không loại trừ Hồ sơ moving được tái xét với hiến luật mới của nước Kanada và châu Cực Nam trong 150 năm tới.”

“Kết luận về lý do ngừng Chương trình moving: i. Luật cấm làm thơ sẽ có thể dẫn đến sự giảm năm mươi phần trăm dân số Đại Việt; và hầu hết các gia đình có nguy cơ chia lìa. (Thành viên kém làm thơ trong gia đình sẽ đi theo Chương trình; thành viên giỏi thơ sẽ có thể phải tự tìm quốc gia khác xin cư trú theo những chương trình văn học); ii. Luật cấm chiến tranh - dù là chiến tranh tự vệ - chắc chắn sẽ làm mất gần như trăm phần trăm tinh thần dân tộc Việt. (Với não trạng bị đe dọa đô hộ và xâm lược, người Việt mình rất khó làm quen với niềm tin ‘Tổ quốc không thể bị lâm nguy’ của xã hội Nam bán cầu. Nên, nhiều câu hỏi không viển vông đã nảy ra: Nước bạn Kanada liệu có bảo đảm châu chấu sẽ không thể vượt biển Thái Bình Dương tràn xuống miệt dưới? Dân Việt chúng ta biết còn moving tới đâu nữa, nếu như một bộ phận nào đó của nước Trung trong một ngày xấu trời nào đó sẽ moving sang Kanada và - lịch sử lặp lại! - là láng giềng của nước Đại Việt mới?; iii. Lý do quyết định là vấn đề quốc sỉ: Đại Việt sẽ tạo tiền lệ xấu nếu tiên phong trong chương trình ‘Tổ quốc moving’ vì lý do ngoại xâm. (Đã đành cũng sẽ nêu tấm gương tốt khi dẫn đầu quy trình moving cả một đất nước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa; đặc biệt mở bước ngoặt cho tiến trình hòa bình hóa toàn cầu mà nhà nước Kanada và châu Cực Nam đeo đuổi một cách hào hứng và cô đơn.)

+++

… Truyện về thi sĩ Vương Phủ với việc moving bất thành của nước Nam chỉ có vậy.

Ngay sau khi biết truyện vừa được gửi đi bốn biển năm châu, nửa đêm theo giờ Hongcouver, Phủ điện thoại cho tôi. Thế mới hay chuyện “răng biết hát” là có thật: từ chiếc răng hàm trên bên trái của tôi bỗng phát ra ca khúc Hồn Thi Tử Sĩ mà tôi kịp nhờ nhạc sĩ Lưu Phạm sáng tác phòng khi phải tiễn biệt bạn hiền. Đêm qua bản thảo truyện được sửa sang lần chót trong những âm điệu bi hùng...
Căng thẳng chờ Phủ nói kế hoạch về nước để tự thiêu, tôi nghe rõ cả cái chữ mà cô ca sĩ hát ngọng... “Nửa đã cháy và xương đã đỏ, soi sáng tỏ biên cương”…
Thế nhưng, đến tai tôi lại là thông tin tốt đẹp và hoàn toàn mới lạ: một vị quan chức hồi âm cho biết sau thời gian xem xét cẩn trọng kiến nghị của Phủ, Quốc hội Đại Việt đã quyết định trong vòng tháng tới thế nào cũng phải có kỳ họp mở rộng bất thường; đang còn lựa chọn tên chính thức cho hội nghị.
Mấy lần tôi toan ngắt lời Phủ mà không được. Phủ từ tốn bảo không nên coi ý nghĩa của sự kiện như Hội nghị Diên Hồng, rồi nhấn mạnh:

“Chỉ thuần túy về hình thức bảo vệ, kỹ thuật phòng thủ. Hội nghị sẽ thông qua để giao cho Chính phủ thực hiện ngay việc dùng cột đồng Mã Viện làm mẫu thay thế tất cả cột biên giới hiện hành khắp lãnh thổ Đại Việt; còn trên lãnh hải, cũng dùng phao đồng thay cho phao đang có tại các tọa độ cần thiết. Phản-cột-đồng-Mã-Viện mà lị!” - Tới lúc này Phủ mới cười. Phủ cười… Cười trong vài chục giây thôi mà được chuẩn bị chục năm trời. Không còn là điệu cười bằng hữu từng thân thuộc với tôi từ thời trung học. Phủ cười một điệu cười giang sơn, từ đây.

“A …a… Hồi hộp… Hồi hộp…” - Tôi kêu thật nhanh, cũng là xả cơn đau răng vừa dứt.

“Sẽ bàn thảo nhiều việc, như: Bổ đầu hơn trăm triệu dân Việt, bất kể ai ở độ tuổi lao động đều có quyền lợi và nghĩa vụ đóng góp một cột hay phao bằng đồng, trên đó có ảnh, tên tuổi, quê quán của mình; Với Việt kiều, như Phủ chẳng hạn, nếu không đồng quốc tịch Đại Việt thì được quyền lợi, miễn nghĩa vụ; Anh hùng, liệt sĩ trong các trận chiến bảo vệ biên cương, hải đảo của suốt 5500 năm dựng nước và giữ nước sẽ được ghi danh tại những trụ cột, phao trọng yếu mà trụ cột, phao đó do nhà nước đảm nhiệm hoặc được coi như phần vinh dự dành cho cá nhân, hội đoàn nào xứng đáng.”

“Hồi hộp… Hồi hộp…” - Tôi còn biết kêu gì hơn.

“Sẽ còn bàn thảo nhiều việc lắm, như: Với ai không làm được điều đó thì sao? Theo ý Phủ, trước hết, tự họ hạ mình xuống hàng công dân hạng bét rồi. Muối bỏ bể. Khỏi cần dư luận, quy chế. Mà thôi, Nhà văn ơi, truyện ngắn đâu phải làm nơi tỏ tường cái trọng đại của tổ quốc. Mỗi truyện ngắn, một điều thường của cá nhân. Dừng tại đây! Stop here! À, đó là câu tiếng Ăng Lê từng được giữ nguyên văn trong một truyện dịch từ tiếng Phú Lang Sa. Lời một quý bà da trắng lệnh cho thằng nhỏ da đen bản xứ kéo xe. Phủ đọc khi cũng là một đứa bé, bằng tuổi nó.”

“Hồi hộp… Hồi hộp…”

Tôi còn biết làm gì hơn là buông thả tiếng kêu vào những cơn sóng gió đang vờn ngoài khơi, để nhao lên mạng tìm xem truyện của mình được tung hoa hay bị ném đá ra sao. Bên kia biển Thái Bình Dương, nhân vật chính của truyện cũng đang vậy. Dừng tại đây. *)


Vancouver, Canada (hoàn thành 2/6/2014; bản mới 22/6/2014)
Đỗ Quyên


--------
*) Trong bản mới này, hầu hết các tên riêng được nhuận sắc so với bản đã đăng trên damau.org, vanchuongviet.org,… 
 Nguồn : Tác giả gửi trực tiếp