Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 31)

(tiếp theo)

Ý kiến của Nhà văn Phan Nhật nam :

Chúng ta có thể bàn qua người bạn kế tiếp,
Huynh Trưởng Hướng Đạo Sinh - Nhà Văn Nhật Tiến.




                                                     Nhà văn Phan Nhật Nam

Mạnh mẽ, rõ ràng hơn thái độ còn đôi chút ngập ngừng do “chưa” đi hết biển..” của Nguyễn Mộng Giác, sau câu hỏi ẩn ý thăm dò (kèm thoáng mỉa mai- pnn) của Trần Văn Thủy (“Thế thì anh hẳn gắn bó với nơi chốn nầy (đất Mỹ) lắm nhỉ?”), Nhật Tiến xác nhận: “Vậy mà không đấy. Về mặt tâm cảm, tôi chưa nhận nơi nầy làm quê hương. Nói một cách cụ thể: Tôi biết ơn nước Mỹ đã cưu mang toàn bộ dân tỵ nạn kể từ sau tháng 4 năm 1975, đã đem lại cho gia đình tôi đầy đủ cơ hội an cư lạc nghiệp. Nhưng nhìn lại cuộc chiến vừa qua, tôi vẫn thấy ám ảnh về sự bất hạnh đã áp đặt lên số phận dân tộc mình..”(TVT sđd, trg 68)
                                   
Với trả lời như trên của Nhật Tiến, Trần Văn Thủy rất nhanh nhạy “đạo diễn” ngay để có một câu hỏi khác theo mẫu mực “chống Mỹ cứu nước”: “Từ năm 1990, nghe nói anh vẫn có dịp thường về thăm quê nhà (Bạn đọc lưu ý, về thăm “quê nhà” chứ không phải cụm từ thông thường “về Việt Nam” khi trò chuyện - pnn)”(TVT sđd, trg 68).
            Nhưng không như Trần Văn Thủy “hy vọng”, Huynh Trưởng Hướng Đạo - Nhà Văn Nhật Tiến định giá “đất Mỹ” và “quê nhà” cùng một lần với chân thật và chính xác:
            “Nỗi ám ảnh (về sự bất hạnh) này đã khiến cho tôi cảm thấy luôn luôn là kẻ lưu vong, trên xứ Mỹ cũng như ngay trên cả quê hương mình..”(TVT sđd, trg 68)
            Đạo diễn Trần Văn Thủy hỏi: “Điều gì đã khiến cho anh (NT) cảm thấy mình bị lưu vong ngay cả trên quê hương mình?”(TVT sđd, trg 68).
Và đây là câu (thật) trả lời:
            “Cảm giác xa lạ, sự không thể hòa nhập được vào đám đông ở chung quanh mình và cái bầu không khí sinh hoạt văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật cũng như báo chí nói riêng, vẫn bao trùm một nền kiêu hãnh rằng: “dân tộc ta anh hùng, đã đánh cho Mỹ cút, cho Ngụy nhào”. Là một người xuất thân từ Miền Nam trước đây làm sao tôi có thể hòa nhập được..?”(TVT sđd, trg 68)
            Trần Văn Thủy hỏi tiếp (về cái “key” mà người Miền Nam thường tránh né (theo ý của người Miền Bắc) là do “mặc cảm thua trận”, như đã có người nói cùng học giả Nguyễn Hiến Lê): “Vậy cuộc chiến đã lùi xa, dưới cái nhìn của anh bây giờ, nó ra sao?”(TVT sđd, trg 69); hoặc vấn đề gây “đụng chạm” hơn: “Với anh (NT), tôi không ngại luận bàn những vấn đề chính trị tuy đã cũ nhưng cảm nhận của tôi có đôi chỗ khác anh. Nếu những người bộ đội, những người lính tham gia chiến tranh mà tới nay vẫn thực sự ý thức là họ hy sinh cho chính nghĩa, thì quả là điều đáng mừng. Nhưng tôi nghĩ, đối diện với cuộc sống hiện nay, tâm trạng thực trong cuộc đời thực, số đông không hoàn toàn như thế. Còn những người đã nằm xuống, tức là những người đã hy sinh như anh nói, chúng ta chẳng thể biết chính xác họ nghĩ gì khi xung trận”(TVT sđd, trg 69)

            Nhật Tiến không tránh né nhưng vào thẳng vấn đề trên một cách tự tin (cách của người tin vào Tính Thiện, Sự Thật):
            “Dĩ nhiên tôi không có thẩm quyền để phát biểu về tư duy của bộ đội miền Bắc trước 1975, nhưng nếu nói về những người lính VNCH đã nằm xuống, đã hy sinh mà bảo rằng chúng tôi chẳng biết chính xác về họ nghĩ gì khi xông trận thì không thể chấp nhận được. Đành rằng quân đội nào thì cũng có những mặt trái của nó như lính nhát gan, lính cướp bóc, lính đào ngũ.. nhưng với quân đội miền Nam, đó không phải là tính chất tiêu biểu..”(TVT sđd, trg 69-70)
            Câu trả lời của Nhật Tiến đã đề cập rất đầy đủ, không chỉ riêng đối với người lính, chiến tranh, mà phê phán đến cái gọi là “tinh thần dân tộc” của cả hai phe cầm quyền nơi miền Nam, lẫn miền Bắc thường nại ra để làm cớ sự giải thích cho lần tranh quyền, đoạt lợi của họ. Nhưng bởi anh không thuộc giới chuyên nghiệp quân sự nên tôi có thể bổ sung thêm những chi tiết: “Vâng, thưa ông đạo diễn Trần Văn Thủy, quân đội miền Nam có đủ tất cả những khuyết điểm (mà bất cứ tập thể quân đội nào trên thế gian nầy đều mắc phải - và cụ thể với lần thất trận vào năm 1975 - nên những khuyết điểm nầy đã trở nên hiện thực). Nhưng đấy là một quân đội gồm nhiều Người Lính Khắc Kỷ Hy Sinh và Cao Thượng Chịu Đựng hơn bất cứ người lính nào đã có mặt trong tập thể quân đội của các cộng đồng dân tộc trên thế giới - Và họ gánh chịu nỗi bất công uất hận nầy một cách có ý thức - Ý thức về Trách Nhiệm-Nghĩa Vụ với lòng Tận Tụy-Hy Sinh. Nếu ông được chứng kiến cả một thế hệ thanh niên Miền Nam (phần lớn là sinh viên của các phân khoa đại học chuyên nghiệp, đang được miễn dịch vì lý do học vấn) thay vì đến giảng đường, đã leo lên dãy GMC đậu dọc dài theo đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng 8, Sài Gòn) đến tận Ngã Sáu (Quân Vụ Thị Trấn) để đi lên trại Nhập Ngũ Quang Trung trong thời kỳ xẩy ra trận chiến Mùa Hè 1972.”
Với trình bày nầy có thể Trần Văn Thủy bảo chúng tôi đã “hư cấu và cường điệu” về sự kiện tuổi trẻ miền Nam “ý thức chọn nghĩa vụ người lính”, vậy tôi xin nhắc lại trường hợp điển hình: Phạm Huy Phong (con trai còn lại độc nhất của Ông Phạm Văn Bính, cựu Tổng Trưởng Thanh Niên, Thủ Hiến Bắc Việt, nội các Bảo Đại, 1949-52). Vốn đang là sinh viên cao học ở Sorbone, Pháp, Phong tự nguyện về nước nhập học Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức; đậu thủ khoa khóa sĩ quan, buổi mãn khóa có đủ hàng chục đơn vị thuộc tất cả các quân binh chủng để chọn lựa - Nhưng Chuẩn Úy Phạm Huy Phong đã tình nguyện về Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, và tử trận tại mặt trận Quảng Trị, Vùng I Chiến Thuật nơi đối diện với miền Bắc qua tuyến lửa phi quân sự. Tôi có thể kể ra danh tính hằng trăm, hàng ngàn người tuổi trẻ rất có ý thức để sống-chết với Quê Hương Miền Nam - Không nơi đâu xa, chỉ với đơn vị của chúng tôi - với mỗi Người Lính Nhảy Dù QLVNCH. Chúng tôi mong được lắng nghe về một trường hợp tương tự như của Phạm Huy Phong trong số đông những con em thuộc gia đình quan chức cộng sản ở Hà Nội. Hãy kể cho chúng tôi nghe tên về một người tuổi trẻ con của các quan chức lớn của Đảng Cộng Sản tình nguyện đi B (mặt trận Miền Nam), hay sau này khi phải đánh nhau với hai nước Cộng Sản láng giềng Trung Quốc và Cao Miên. Chỉ cần một người thôi.
            Trước khi từ giã người trung trực Nhật Tiến, chúng tôi nhận thấy cần đề cập đến một thái độ không mấy “fair play” của Trần Văn Thủy (để tiếp mở đầu cho phần tới). Đấy là, Trần Văn Thủy không bỏ lỡ một cơ hội nào để mở lối “tấn công chính trị (!)”, điển hình với cách đặt vấn đề: “Rõ ràng hòa hợp, hòa giải là cần, là “sinh lộ” cho dân tộc ta như anh (NT) nói, nhưng tôi không nghĩ nó là thần dược chữa bách bệnh như mất dân chủ, nghèo nàn, chậm tiến.. (rồi bỗng dưng chuyển qua).. Anh (NT) nghĩ sao về những “khuynh hướng cực đoan” trong cộng đồng VN ở hải ngoại như những chủ trương không du lịch về VN, không gởi tiền về trợ giúp thân nhân, cũng như các công tác từ thiện...”(TVT sđd, trg 71-72).
            Hai vấn đề (“Mất dân chủ ở trong nước” và “Khuynh hướng cực đoan trong cộng đồng người Việt - Không chịu về VN du lịch”) hoàn toàn không liên hệ gì với nhau cả. Mất dân chủ là do cơ cấu “Đảng lãnh đạo-Nhà nước quản lý-Nhân dân làm chủ”, còn “khuynh hướng cực đoan không muốn du lịch về VN” là của riêng những ông, bà nào đấy muốn “biểu diễn lập trường” với chính họ, hoặc vì một lý do nào khác, cụ thể như tự bản thân cá nhân - không thích thấy những ông công an hậm họe nơi phi trường. Những người có “khuynh hướng cực đoan” ấy không hù dọa, trấn áp được ai - kể cả những người thân cận trong gia đình (ngoại trừ những đứa nhỏ vị thành niên không được phép đi xa một mình, hoặc không đủ tiền mua vé máy bay). Thế nên đã có kết quả như lời Nhật Tiến rành rọt kể ra: 
            “Từ nhiều năm qua.. Tôi thấy du lịch về VN không còn là một điều phải giấu diếm (Ai giấu ai? Để làm gì? Tại sao phải giấu? pnn); các nhóm thiện nguyện đem tiền bạc và kỹ thuật về làm công tác từ thiện trong nước càng ngày càng nhiều.. Việt kiều hải ngoại gủi về mỗi năm lên tới hàng 2,3 tỷ đô-la thì đủ thấy người Việt hải ngoại gắn bó thế nào với quê hương, đất nước..”(TVT sđd, trg 73)
                                                                            (ngưng trích)

                                       (còn tiếp)


Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

BAC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 77)




                                        (tiếp theo)





Cô gái dẩu mỏ :

“ Phức tạp…già rồi còn đòi ăn oái oăm…ăn cả đời còn chưa chán ?”

Hỏi han cặn kẽ cô gái mới chịu đi. Bác Ba Phi nhìn theo lè lưỡi :

“ Oi chết chết ..lại có cái thứ vợ tồi tệ đến vậy ? Ong già nào vô phước quá vậy ?”

Ong hoạ sĩ cười nhạt :

“  Già  còn chơi trống bỏi thì chịu vậy ? Kiểu này các cụ ta gọi trâu già gặm cỏ non đây .”

Hai người trở lại nhà ông hoạ sĩ. Ong bày ra bếp lỉnh kỉnh đủ thứ gây độ nhậu nhân lễ Tạ Ơn . Cũng gà tây, cũng bí đỏ, khoai tây nghiền, cua luộc…Hoá ra ông hoạ sĩ là đầu bếp thượng thặng chuyên nấu món Bắc. Ong không cho bác Ba Phí mó tay vào cái gì hết chỉ sai bóc hành, lột vỏ khoai tây.

Mãi gần trưa nấu nướng mới xong, thức ăn bầy chật cả một bàn trải khăn trắng. Ong hoạ sĩ khui ra chai rượu vang đỏ rót đầy hai ly lớn đưa cho bác Ba Phi rồi giơ lên  :

“ Nào ta cùng tạ ơn ông…thần khẩu…”

Bác Ba Phi nếm thử món gà tây hầm gật gù :

“ Cái món này kể cũng ngon thiệt nhưng so với gà thả vườn của ta vẫn không bằng. Thịt gà ta thơm và ngọt thịt hơn gà tây…”                     

Ong hoạ sĩ lắc đầu :

“ Bác so sánh vậy đâu có được..gà thả vườn ăn con sâu, cái kiến, suốt ngày đi lại trong vườn, còn con gà tây nuôi công nghiệp, ăn ngủ có giờ, có suất hẳn hoi. Bởi vậy thịt nó ngon sao bằng con gà thả vườn. Tôi nghe mấy anh bạn Việt kiều về nước đi  chơi miền núi kể còn có giống gà tre tuy ít thịt nhưng ngon thơm lắm. Rồi cái loại lợn Mán, còn gọi là lợn cắp nách , thả rông ngoài vườn nữa, thịt chắc chắn phải ngon hơn lợn nuôi theo lối công nghiệp…”

Hai người chén chú chén anh mãi gần chiều đánh ngã luôn chai vang đỏ rồi chai whisky. Ong hoạ sĩ say lắm, líu cả lưỡi, chân nọ đá chân kia, xiêu vẹo về phòng nằm lăn ra giường. Bác Ba Phi ngược lại, càng uống càng tỉnh queo.Thực ra cái thứ ruoụ tây này so với anh rượu  đế Gò Đen thì còn kém. Ở nhà bác ít nhậu nhưng đã nhậu thì quắc cần câu . Sương sương cũng phải 3 xị đế .Nếu có mấy ông bạn già lối xóm dứt khoát con vợ thằng Đậu phải xách can mua 5 lít còn là ít. Mà đồ mồi làm gì có thứ sang trọng như đây, vài trái cóc chấm khô quẹt, thêm vài miếng khô cá nướng lên là khá lắm rồi. Bởi vậy nửa chai ruoụ tây uống với ông hoạ sĩ chẳng nhằm nhò gì. Mặc cho ông ta say xỉn , bò về phòng, bác cứ ngồi nhấm nháp nốt chai rượu .

Tuy không say nhưng bỗng dưng bác thấy lòng nặng trĩu một nỗi buồn vu vơ nào đó. Không phải bác buồn chuyện cô Ut ăn lễ Tạ Ơn ở nhà  còn bỏ đi. Với bác chuyện đó không là cái gì. Ở bên Mỹ này, ngày lễ Tạ Ơn là dịp gia đình đoàn tụ, gặp gỡ, bởi cậy cô Ut phải về nhà chồng là chuyện đương nhiên, cho dù đã lỡ hẹn với bác nhưng cũng không thể trách cô .

Vậy bác buồn nỗi gì ?

Chắc chuyện vợ chồng thằng Đậu chờ tiền bác gửi  về nuôi ba ba ? Không hẳn vậy. Xa nhà khá lâu, đôi khi bác thấy nhớ nhà, nhớ vợ chồng thằng Đậu, nhớ chòm xóm . Nhưng cũng không là nỗi buồn đang xâm chiếm lòng bác.

Càng uống bác Ba Phi càng buồn phát khóc được. Đó là chuyện xưa nay chưa hề thấy.Mọi khi ở nhà bác nhậu say quắc cần câu, hứng lên có thể ê a vài câu cải lương, quát tháo vợ chồng thằng Đậu,  hoặc đi ra ngoài ngõ ngồi chồm hổm ngay giữa đường làm thằng Đậu phải cõng về. Say thì say  cũng chỉ tới mức thế, chứ tuyệt nhiên không buồn.Vậy mà hôm nay, càng uống càng buồn chứ đâu đã hết cơn ?

Vậy bác buồn cái gì ?

Cũng có thể bác buồn vì những điều ông hoạ sĩ Tụng nói về tình hình đất nước. Nào cái lưỡi bò thằng Trung Quốc vạch trên biển Đông muốn nuốt hết cả lãnh hải Việt nam. Nào Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá và giết ngư dân Việt Nam trên biển. Nào đại công trường khai thác bauxite Tây Nguyên có nguy cơ bùn đỏ chảy xuống sông Đồng Nai ô nhiễm cả mấy tỉnh Đông Nam bộ. Nào nguy cơ mất nước vì bọn bán nước cam tâm dâng đất nước cho Trung Quốc để được giữ ghế, bảo toàn mạng sống, vinh thân phì gia . Nếu đúng như lời lão hoạ sĩ nói thì cái mảnh đất hình chữ S này coi như sắp lọt vào tay thằng Trung Quốc, lặp lại một thời kỳ Bắc thuộc mà kỳ này không những nó chỉ tàn phá tài nguyên đất nước mà tiêu diệt toàn thể dân tộc Việt Nam.

Liệu có phải chuyện thời thế như ông hoạ sĩ Tụng nói đó gây nên nỗi buồn nặng trĩu trong lòng bác Ba Phi lúc này ? Có thể như vậy bởi lẽ bây giờ cứ nghĩ tới quê nhà nơi quê cha đất tổ, chôn nhau cắt rốn, bác Ba Phi lại thấy chán chường ghê gớm. Không lẽ quê hương đất nước lại đang chìm đắm trong nguy cơ mất cả lãnh thổ  lẫn mất cả dân tộc ? Vậy thì cuộc sống của bác, của vợ chồng thằng Đậu, của bà con chòm xóm còn có ý nghĩa gì  ? Tất cả sẽ lại sống dưới ách đô hộ ngàn năm của thằng Tàu và lần này không giống như hai lần trước, cha ông còn giữ được bản sắc dân tộc , lần này bản năng quật khởi của dân ta đã bị bào mòn, hết cả ý thức chống trả. cạn  cả dòng máu chống ngoại  xâm, bởi vậy lần Bắc thuộc này chắc chắn dân tộc bị tuyệt diệt.

Những ý nghĩ đó cứ như những mũi kim châm vào lòng bác Ba Phi. Những cảnh báo ghê gớm của ông hoạ sĩ Tụng không phải là không có căn cứ. Cứ nhìn vào sử cũ, thằng Trung Quốc có lúc nào là không lăm le muốn nuốt sống đất nước Việt Nam vốn do hoàn cảnh địa lý đã chẹn  giữ sự bành trướng của bọn Đại Hán xuống phía Nam.

Càng nghĩ bác Ba Phi càng  cảm thấy tuyệt vọng và lại càng uống dữ. Cho đến khi hai mi mắt bác bỗng trở nên nặng trĩu, sụp xuống, bác ngủ gục trên bàn ăn. Trong mơ bác thấy mình trở về nhà. Bà lối xóm đứng hai bên đường dẫn vào nhà vỗ tay rầm rầm hoan hô bác Ba Phi trở về. Từ trong nhà con vợ thằng Đậu chạy ra miệng cuống quít  :

“ Í nội ơi nội…nội có mang tiền về cho tụi con nuôi ba ba không ?”

Thằng Đậu cũng từ đâu chạy về :

“ A..nội đây rồi…nội đi đâu lâu dữ vậy ? Sao nội bảo cho con mượn tiền nuôi ba ba kia mà ? Vậy tiền đâu ?”

Bác Ba Phi cứ cuống cả lên không biết nói sao. Bà con lối xóm vây chặt mỗi lúc một đông.Vợ chồng thằng Đậu thì cứ giữ chặt đòi tiền. Bác hoang mang chưa biết nói sao bỗng đâu như từ trên trời rót xuống ba bốn ông cảnh sát, ông nào cũng đằng đằng sát khí, cầm dùi cui giơ lên đe doạ :

“ Giải tán…giải tán ngay..ai cho phép tụ tập đông người  hả ?”

Con vợ  thằng Đậu bỗng giơ nắm tay lên cao, hô to :

“ Đả đảo khủng bố…đả dảo ..đả đảo..”

Thằng Đậu cũng không phải tay vừa , nó cũng nắm tay giơ lên hét toáng :

“ Đả đảo bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lược Việt Nam…đả đảo..đả đảo…”

Tấtg cả bà con trong xóm đều đồng thanh hô lớn theo “

“” Đả đảo…đả đảo…”

Đám cảnh sát điên cuồng vụt dùi cui xuống đầu mọi người. Bác Ba Phi đứng giữa đám đông ngơ ngác như chưa hiểu chuyện gì xảy ra, thế rồi như có cái gì xui khiến, bác  cũng hô lớn theo mọi người :

“ Đả đảo bọn bành trướng Bắc Kinh giết hại đồng bào ta trên biển Đông…”

Bất chợt có tiếng đập túi bụi lên người làm bác Ba Phi hoảng hồn. Hoá ra không phải dùi cui cảnh sát mà là ông hoạ sĩ Tụng tỉnh đậy lúc nào, đang đập tay tới tấp vào người bác.

“ Dậy…dậy…dậy..vào giường mà nằm chứ sao ngồi đây ?”

Bác Ba Phi hoàn hồn, hoá ra đang ở nhà ông hoạ sĩ bên Mỹ chứ không phải đám cảnh sát đang huơ dùi cui giải tán đám bà con trong xóm.





Định thần mãi bác Ba Phi nhận ra ông hoạ sĩ Tụng đứng trước mặt. Ong ngó lom lom vào mặt bác quát to :

“ Bác đả đảo ai mà hô lớn vậy ?”

Bác Ba Phi ngớ ra :

“ Ong nói tôi đả đảo cái gì kìa ?”

Ong hoạ sĩ Tụng cười cười :

“ Thì chính tôi đang hỏi ông đó. Ong đang nằm mơ sao đó mà miệng cứ hét “đả đảo…đả đảo “ ai đó…”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Chịu…tôi cũng không biết nữa…cũng chẳng biết có nằm mơ thấy gì không, tỉnh dậy là quên sạch…”

‘ Chắc bác phải nằm mơ thấy chuyện gì phẫn nộ lắm bác mới đả đảo dữ vậy ?”

Bác Ba Phi cau trán cố nhớ coi mình đã nằm mơ thấy gì . Láng máng trong đầu hình ảnh vợ chồng thằng Đậu và bà con xóm giềng. Rồi còn gì nữa nhỉ, bác lắc đầu :

“ Chịu..tôi không nhớ ra được mình nằm mơ thấy cái gì ?”

Ong hoạ sĩ khuyến khích :

“ Bác thử nhớ lại coi…có phải bác nằm mơ thấy bà con trong xóm đang tập trung đi khiếu kiện đòi đất không ?”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Không phải khiếu kiện đòi đất mà hình như…hình như …phản đối cái gì ở biển Đông đó…”

Ong hoạ sĩ reo lên :

“ Vậy thì đúng rồi phản đối Trung Quốc giết hại ngư dân ta ở biển Đông…đúng rồi…”

Bác Ba Phi như có cái gì sáng loé ở trong đầu bác nhớ lại giấc mơ trong đó có ba ông cảnh sát vụt dùi cui lên đầu bà con trong lúc bác cũng hùa theo hô to “ đả đảo Trung Quốc giết ngư dân Việt Nam ở biển Đông…”. Bác kể :

“ Tôi nhớ ra rồi, tôi nằm mơ thấy mình trở về nhà, bà con ra đón đầy đường. Thế rồi chẳng hiểu sao lại có 3 ông cảnh sát ở đâu hiện ra lăm lăm cái dùi cui để dẹp bà con…”

Ong hoạ sĩ vui vẻ :

“ Tại  tôi đấy…tại tôi nói cho bác rõ tình hình trong nước hiện nay nên bác mới nằm mơ như vậy…”

Bác Ba Phi ngẩn ngơ :

“ Chẳng lẽ những điều ông nói là thật à ?”

Ong hoạ sĩ trợn mắt :

“ Thật chứ sao không ? Tôi nói cho bác biết chỉ 10 năm nữa là thằng Trung Quốc lại đô hộ nước ta thôi…”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Tôi không tin…Ong ở tận bên Mỹ này chắc toàn coi báo với nghe đài Mỹ thôi nên mới bi quan vậy. Dân mình không dễ chịu mất nước vào tay thằng Tàu đâu.”

Ong hoạ sĩ cười  lắc đầu :

“ Thôi được..thôi được…còn tôi còn bác..giờ bác ở nhà tôi chạy ra siêu thị kiếm mồi chiều nhậu tiếp cho hết cái ngày lễ tạ ơn này đi nhé !”

Ong hoạ sĩ đánh xe đi rồi, bác Ba Phi mới nằm duỗi dài người  trên chiếc ghế bố bằng gỗ gụ bóng loáng. Chẳng bù cho lúc nãy mắt cứ ríu lại ngủ gật, lúc này nằm thoải mái trong hơi mát máy lạnh bác nhắm mắt lại định ngủ tiếp mà không được, cứ chập chà chập chờn. Không phải vì câu chuyện về hiện tình đất nước ông hoạ sĩ rót vào tai – chuyện đó  bác chỉ tin  một phần chẳng gây tác động bao nhiêu. Vả lại xưa nay bác không quan tâm  tới chuyện chánh trị, chánh em. Mở tivi cứ thấy mặt ông lãnh đạo Đảng Nhà nước là bác chuyển kênh coi ca nhạc hoặc cải lương. Nói cho ngay, bác chẳng phân biệt được ông nào với ông nào. Ngày xưa bác còn biết Tổng Thống là đứng đầu cả nước, ngang vua hoặc hoàng đế. Còn bây giờ, tuồng như có những 3, 4 ông vua lận. Ong nào nói cũng hay, toàn những chuyện trời ơi đất hỡi tận đẩu tận đâu chẳng ăn nhập gì tới công việc sinh nhai của bác nên chẳng quan tâm. Bác còn nhớ có lần cả nhà coi tivi cảnh ông Tổng Bí thơ đi thăm các nước được đội lính danh dự bồng súng chào ,  con vợ thằng Đậu thắc mắc :

“ Ong này là ông nào sao người ta phải xếp hàng cầm súng chào vậy cà ?”

Thằng Đậu ra vẻ hiểu biết :

“ Hỏi gì hỏi ngu ? Ong này là Tổng bí thơ , lớn nhất nước sang đó tụi nó phải dàn hàng mà chào chớ ?”

Con vợ thằng Đậu bị mắng là ngu nổi cáu :

“ Ai ngu ? Có mình ngu thì có ? Lớn nhất nước là ông Thủ tướng  chớ . Chẳng vậy mà tối nào cũng thấy mặt chả trên tivi …”…”

Rồi nó quay sang bác Ba Phi cầu cứu :

“ Phải vậy không nội ? “

Bác Ba Phi chẳng biết phân giải sao bởi bác cũng có biết gì đâu. Thằng Đậu cướp lời :

“ Phải Tổng Bí thơ lớn nhất nước không nội ? Cha này cũng lên tivi dài dài chớ bộ  ?”

Bác Ba Phi lắc đầu :

“ Tao cũng đâu có biết…cha nào với cha nào ?”

                                         ( còn tiếp)












Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

V.A. Bailey :Búp bê và bông hồng bạch


Nguyên  tác: The Doll and a White Rose của  V.A.Bailey 



                                                      Đỗ Phương Khanh dịch




Tôi vội vã chạy tới một cửa hàng bách hóa để quơ đại vài món quà Giáng Sinh vào giờ cửa tiệm sắp đóng. Nhìn đám người ùn lên phía trước, tôi vừa bực bội với sự trễ nải của mình vừa cố gắng xấn xổ vượt qua được đám đông chen chúc trong cái gian hàng đồ chơi trẻ con này. Giá mà tôi lăn kềnh được ra đây, ngủ thiếp đi, tỉnh dậy để phát hiện ra rằng ngày Lễ Giáng Sinh đã qua rồi thì hay biết mấy!

Bỗng nhiên, tôi nhận ra tiếng của chính tôi đang lẩm bẩm đọc giá tiền những món đồ chơi bày trên kệ và tưởng tượng cảnh mấy đứa cháu được ôm những món đồ chơi đó trong lòng. Thuận chân, tôi tiến về khu bán búp bê. Phía xéo với tầm mắt, tôi thấy một em bé trai trạc 5 tuổi đang ôm một con búp bê xinh xắn. Đứa bé nâng niu món đồ chơi trong vòng tay, còn tay kia thì cứ vuốt mãi lên mái tóc mềm như tơ của con búp bê. Tôi không thể dời mắt khỏi quang cảnh đó mà cứ chăm chú nhìn cậu bé, trong lòng thắc mắc không biết cậu ta giữ con búp bê đó cho ai vậy. Rồi tôi thấy cậu ta quay qua phía một phụ nữ đứng bên cạnh mà hỏi:

- Cô có chắc là số tiền của cháu không đủ để mua con búp bê này không?

Người cô trả lời, giọng có vẻ sốt ruột:

- Cháu biết là cháu không đủ tiền mua nó mà.

Rồi cô ta dặn cháu đừng đi đâu cả, phải đứng tại đó chờ cô ta đi mua mấy món đồ, sẽ trở lại trong vòng vài phút. Nói xong, cô đi khuất khỏi tầm mắt chúng tôi.

Cậu bé vẫn đứng đó tay ôm con búp bê. Ngập ngừng một chút, tôi cất tiếng hỏi cậu định mua con búp bê cho ai. Cậu bé trả lời:

- Đây là con búp bê mà em cháu thích được tặng vào dịp Giáng Sinh này lắm. Em cháu biết chắc ông già Nô-en sẽ mang tới cho em.

Tôi bảo cậu bé:

- Có lẽ ông già Nô-en  sẽ mang tới cho em cháu thật đấy.

Cậu bé lắc đầu:

- Không, ông già Nô-en không thể tới được nơi em cháu  ở hiện nay. Cháu phải đưa con búp bê cho mẹ cháu để mẹ mang tới cho em.

Tôi hỏi:

- Vậy em cháu ở đâu?

Cậu bé nhìn tôi bằng cặp mắt thê thảm nhất, trả lời:

- Em cháu đã về với Chúa. Bố cháu nói rằng mẹ cháu cũng sắp phải đi với em rồi.

Tim tôi thót lại. Cậu bé nói tiếp:

- Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là mẹ đừng đi vội. Cháu dặn bố cháu nói với mẹ là hãy chờ cháu về.

Rồi cậu bé hỏi tôi có muốn coi hình cậu ta không. Tôi nói tôi rất muốn. Cậu ta lôi ra mấy tấm hình cậu mới chụp ở ngoài cửa tiệm, nói:

- Cháu muốn mẹ cháu đem theo mấy tấm hình này để mẹ không bao giờ quên cháu. Cháu yêu mẹ cháu lắm. Cháu ước gì mẹ cháu sẽ không phải rời bỏ cháu. Nhưng bố cháu nói rằng mẹ cháu cần phải đi với em cháu.

Tới đây, cậu bé lặng lẽ cúi gục đầu xuống. Trong khi cậu không thấy, tôi thò tay vào ví lôi ra một nắm tiền giấy cuộn trong lòng bàn tay rồi đề nghị:

- Này, hay là chúng mình đếm lại tiền của cháu một lần nữa coi sao?

Cậu bé có vẻ phấn khởi:

- Dạ, cháu biết chắc là phải đủ mà.

Thế là tôi nhẹ nhàng tuồn nắm tiền trong lòng bàn tay tôi nhập vào  tiền của cậu bé và bắt đầu đếm. Dĩ nhiên là bây giờ thì số tiền dư sức để mua con búp bê. Cậu bé nhìn lên cao, cất tiếng nhẹ nhàng:

- Xin cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền mua búp bê.

Rồi cậu nói với tôi:

- Cháu vừa mới cầu xin Chúa cho cháu đủ tiền mua con búp bê này để mẹ cháu  đem theo cho em cháu. Chúa đã nghe thấy lời cầu xin của cháu. Cháu đã muốn xin đủ tiền để mua được hoa hồng bạch cho mẹ cháu nữa mà cháu lại không hỏi. Vậy mà Chúa lại cũng cho cháu đủ tiền để mua được cả búp bê cho em cháu và hoa hồng cho mẹ cháu nè. Mẹ cháu thích hoa hồng bạch lắm, cô à.

Người cô của cậu ta đã trở lại. Tôi cũng đẩy xe đồ của tôi đi luôn. Đầu óc tôi cứ bận bịu với hình ảnh cậu bé trong khi tôi tiếp tục mua sắm, nhưng tinh thần tôi bây giờ không giống như trước khi tôi gặp cậu ta. Tôi bỗng nhớ tới  câu chuyện đăng trên báo mấy ngày trước , chuyện về một người say rượu lái xe, tông vào xe kia làm một cô bé chết ngay và mẹ cô  bị thương nặng. Gia đình người bị nạn đang bối rối trước quyết định có nên tháo bộ máy trợ sinh ra khỏi cơ thể bà ta chăng. Nhưng dĩ nhiên là cậu bé này chẳng liên quan gì đến câu chuyện đó cả, tôi tự nhủ thế.

Hai ngày sau tôi đọc báo thì biết được rằng gia đình người đàn bà trong tai nạn xe hơi đã quyết định tháo máy trợ sinh và bà ta đã chết. Tôi vẫn chưa quên câu chuyện cậu bé và cứ thắc mắc không biết hai chuyện có liên quan gì đến nhau không.

Chiều hôm đó, không nhịn được nữa, tôi đi mua mấy bông hoa hồng trắng và đến nơi quàn xác người đàn bà.

Thì ô kìa, nằm lặng lẽ trong bộ áo cuối cùng của cuộc đời, người đàn bà trẻ ôm trong tay một bông hồng bạch cạnh con búp bê xinh xắn và trên ngực là tấm hình cậu bé chụp trước cửa tiệm bách hóa.

Tôi ra về với đôi mắt đẫm lệ, cuộc đời tôi thay đổi từ lúc đó. Tình yêu mà cậu bé thơ ngây dành cho em nhỏ và mẹ cậu ta mới thiêng liêng sâu sắc làm sao! Một tình yêu bao la như thế, đằm thắm như thế, mà chỉ trong thoáng chốc, một người say rượu, lái xe trong tình trạng tâm trí không sáng suốt, đã xé tan nát trái tim cậu bé ra thành từng mảnh. 

                                                             


Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

YÊU THỜI ĐỒ ĐỂU ( KỲ 98)

                                 (tiếp theo)

              

Bà vợ trừng mắt :
“ Ông nói gì lạ thế ? Hai mẹ con tôi đang trò chuyện vui vẻ sao ông bảo mai kia nó mới về. Ông đi ngủ trước đi, mặc mẹ con  trò chuyện …”
Rồi bà cười khanh khách :
“ Có phải thế không con . Mới chập tối bố đã bắt mẹ đi ngủ. Già rồi ngủ làm gì cho lắm…”
Ong đành ngồi cạnh bà, đau đớn nhìn vợ trò chuyện với con gái trong tưởng tượng . Mãi tới lúc mệt quá, bà thiếp đi ở bên bàn, ông mới cõng bà về buồng ngủ. Suốt đêm bà nằm không yên, tay chân cứ vật vã, có lúc bà còn đòi sang phòng con gái ngủ với nó cho đỡ nhớ. Ong lại  phải khuyên giải một hồi bà mới chịu nhắm mắt ngủ.
Sáng hôm sau vừa mở mắt dậy bà đã hỏi “con Vân đâu rồi?”. Nhìn vẻ mặt vợ, ông hiểu bà vẫn đang trong cơn loạn thần kinh. Ong đành nói dối vợ con gái đã đi làm  nhưng bà không tin, cứ khăng khăng đòi gọi nó về. Nhìn bà khóc lóc vật vã ông muốn kêu trời. Cái số của ông không hiểu phạm vào chuyện gì mà đen quá là đen. Nào con gái mất tích, nào án kỷ luật treo trên đầu, giờ lại thêm bà vợ thần kinh. Cùng lúc bao nhiêu hoạn nạn ? Bất giác ông nhớ lại lời gã thầy bói : “ Quẻ này đại hung nhưng mà lại đại cát. Cô gái ra đi mang theo đại hạn cho cả nhà. Cứ chờ bảy ngày nữa sẽ có tin. .”.
Bảy ngày nữa có tin, ông cười nhạt, tính từ hôm ông ra bờ hồ gặp gã thầy bói tới hôm nay là đúng bảy ngày đây. Sau khi cho bà uống mấy viên thuốc ngủ, ông cứ quanh quẩn ra vào có ý ngóng đợi . Sáng, trưa rồi đến  chiều qua đi chẳng thấy tin tức gì . Ông bỗng thấy mình thật ngớ ngẩn tin vào lời lừa bịp  của gã thầy bói chờ đợi vu vơ.
Hôm nay là hạn cuối ông hoàn thành bản kiểm điểm sáng mai đọc trước Ban nội chính thành uỷ. Mặc dầu ông đã khéo léo chọn lựa ngôn từ . Nào cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn nhược điểm chưa đi sâu đi sát  cơ sở phát huy tiềm năng cán bộ đảng viên. Nào phát huy được nguồn lực  địa phương đẩy mạnh công tác văn hoá văn nghệ nhưng còn chưa sáng tạo trong phương pháp công tác nên chưa kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc…Nhưng ông biết bản báo cáo chỉ là hình thức có tính chất thủ tục, còn bản án được quyết định ở đâu đó rồi. Với những chứng cớ xoay quanh việc ông nhận tiền bảo kê của hệ thống nhà hàng và khách sạn, nhất là vụ đổ bể khách sạn Hằng Nga và vụ in lậu trong Công ty in, nặng thì có thể khởi tố hình sự mà nhẹ được xử lý nội bộ thì cũng phải về hưu “hạ cánh an toàn”.
Giữa lúc ông cán bộ thành uỷ đang cân nhắc từng câu từng chữ trên bản kiểm điểm thì tiếng chuông gọi cửa đâm nhói tim ông. Ai đến thế ? Có phải người mang tin tức về con gái ông đúng như lời gã thày bói nói. Nếu đúng vậy  gã là thần bói  chứ chẳng chơi.
Ong lật đật mở cửa và dụi mắt kinh ngạc vì cái người đang bấm chuông thật không thể ngờ đó lại là …bà Trưởng ban Kiểm tra thành uỷ. Chưa lần nào bà đặt chân tới nhà ông, nay bà hạ cố tới thăm trong lúc ông đang chịu án kỷ luật treo trên đầu chắc có việc gì ?.  Bà Kiểm tra bước nhanh vào phòng như sợ ai bên ngoài nhìn thấy. Ong thành uỷ cứ trố mắt lên   quên cả mời khách ngồi khiến bà bật cười :
“ Anh lạ lắm phải không ? Sao cứ đứng đực  ra vậy ?”
Ong nói líu cả lưỡi :
“ Mời…mời ngồi…cô tới…có chuyện gì mà đột ngột thế ?”
Bà Kiểm tra vẫn cười :
“ Có gì đâu…nghe tin cháu bỏ đi khỏi nhà, tôi tới hỏi thăm, được  chưa ?”
Ong thành uỷ giật mình :
“ Cô có tin gì của cháu không ? Tôi đang sốt ruột như lửa đốt đây. Bà nhà tôi còn lên cơn thần kinh nữa kìa..”
“ Làm sao tôi biết được…nghe nói anh cũng chạy các nơi nhờ tìm kiếm khiếp lắm ? Lại còn nhờ cậy cả bên an ninh trật tự nữa phải không ?”
Ong thành uỷ tròn mắt :
“ Sao cô biết ? “
Bà Kiểm tra cười  khẩy :
“ Tôi còn biết cả thằng Bằng , Trưởng phòng trật tự trị an đã nhận tiền của anh rồi phải trả lại nữa kìa…”
Ong thành uỷ như phát hiện ra điều gì, đăm đăm nhìn bà Kiểm tra :
“ Cô tới đây thay mặt cho ai đó để dằn mặt tôi phải không ?”
Bà Kiểm tra không chịu kém, cũng giương mắt  nhìn lại rồi cười cợt :
“Tôi tới không phải dằn mặt mà mang niềm vui cho anh đây …”
“ Niềm vui cho tôi ? Niềm vui lớn nhất với tôi lúc này là tìm thấy con gái, chị có mang tới cho tôi được không ?”
Bà Kiểm tra lắc đầu :
“ Tôi đã bảo tôi không biết gì về chuyện con gái anh mà. Nhưng tôi tưởng anh còn nỗi lo khác không kém gì chuyện con gái bị mất tích, đúng không ?”
Ong thành uỷ lắc đầu :
“ Toi chẳng có chuyện gì phải lo ngoài việc con gái tôi mất tích …”
 Bà Kiểm tra đổi hẳn thái độ, nghiêm giọng :
“ Thế còn bản kiểm điểm anh đang viết ? “
Ong thành uỷ giật nảy người :
“ Cô tới gặp tôi về chuyện đó ?”
Bà Kiểm tra cười  rất tươi :
“ Có vẻ anh lấy lại bình tĩnh . Chắc anh hiểu tôi tới đây có việc gì rồi chứ ?”
Ong thành uỷ giả vờ:
“ Tôi chẳng hiểu gì hết . Tại sao cô lại tới mang niềm vui cho tôi. Chuyện gì vậy ?”
Bà Kiểm tra chậm rãi :
“ Anh đã viết  xong bản kiểm điểm chưa ? Nghe nói sáng mai thường vụ họp nghe anh đọc phải không ?”
Ong thành uỷ tái mặt :
“ Đúng rồi, tôi viết xong rồi, không hiểu thường vụ sẽ quyết định kỷ luật thế nào ? Tôi hy vọng chỉ xử lý nội bộ thì may cho tôi quá. Cô ở bên Kiểm tra chắc đã biết trước rồi chứ ?”
Bà Kiểm tra nghiêm mặt :
“ Vụ này là vụ án điểm do thường vụ trực tiếp chỉ đạo vì nó ảnh hưởng tới uy tín cán bộ  lãnh đạo vừa làm xấu bộ mặt  thành phố nên chắc là không có chuyện xử lý nội bộ đâu ?”
Ong thành uỷ kêu lên :
“ Không xử lý nội bộ thì truy tố tôi ra Toà à ?”
“ Chắc chắn rồi. Còn mức án sao thì còn phải chờ thường vụ họp  quyết định “dự kiến án”.”
Ong thành uỷ rền rĩ :
“ Trời ơi…trời ơi…phải chịu án tù giam  giết tôi đi còn hơn…”
Bà Kiểm tra cười :
“ Chẳng ai muốn giết một cán bộ như anh, có người còn muốn xé bản kiểm điểm anh đã viết, xoá án cho anh và còn dự kiến  anh ở lại ban chấp hành thêm một khoá mới nữa kìa…”
Ong thành uỷ hiểu ngay người đó là ai rồi. Chỉ có ông Sáu Thượng  mới đủ quyền uy và quan hệ thực hiện những việc tầy đình vậy. Và ông lớn gia ơn chẳng qua muốn ông im lặng để chìm xuồng cái vụ  con gái ông mất tích mà lúc này ông đoán chắc nhất định có  bàn tay của thằng Hàm con trai ông .  Tuy nhiên ông vẫn giả vờ không biết :
“ Ai thế ? Ai tốt bụng với tôi thế ?”
Bà Kiểm tra cười khẩy :
“ Có thực không biết không ? Tôi tưởng anh biết quá rõ người đó là ai rồi chứ ?”
Ong thành uỷ ngồi ngây đơ, mặt sa sầm không nói nửa lời. Vậy là quá rõ rồi, bà Kiểm tra tới gặp anh chắc chắn do ông Sáu Thượng phái tới thương lượng đánh đổi việc xoá án và đề bạt ông lấy việc ông im lặng không làm ầm ĩ vụ con gái ông mất tích . Bà Kiểm tra đứng dậy :
“ Thôi tôi về để anh vào săn sóc cho chị ấy. Có thế nào anh cho biết quyết định sớm. Cuộc họp ngày mai sẽ lui lại một tuần để anh có thời gian suy nghĩ…”
Sáng hôm sau, đúng giờ hẹn ông có mặt tại trụ sở thành uỷ để đọc bản kiểm điểm trước thường vụ theo kế hoạch được thông báo từ tháng trước. Lạ thay, như có phép thần, khi ông vừa bước vào hội trường, ông chánh văn phòng đã chạy tới thông báo cuộc họp hoãn tới tuần sau vì có ba đồng chí trong thường vụ bận việc đột xuất. Ong chánh văn phòng còn cáo lỗi vì gấp quá nên không kịp báo ông . Ong thành uỷ thở hắt ra, vậy quá rõ rồi, mọi chuyện diễn ra đúng y như lời bà Kiểm tra tối qua. Nếu ông im lặng trước sự mất tích hoặc rất có thể trước cái chết của con gái ông, mọi chuyện dính dáng tới vụ kỷ luật ông sẽ được bỏ qua, thậm chí ông còn được ở lại thành uỷ thêm khoá nữa, còn không….tai ương sẽ dồn dập đổ lên đầu , ông sẽ mất hết và ngay cả con gái cũng mất tích luôn. Ong đã nghe quá nhiều chuyện về những người rơi vào hoàn cảnh có “liên quan” tới sếp lớn như ông, có người mất chức, có người tù tội, thậm chí có người chết bất đắc kỳ tử một cách bí mật.
Rời trụ sở thành uỷ, ông thả bộ dọc theo phố phường rồi vui chân ông trở lại gốc cây bờ hồ nơi gã thầy bói vẫn ngồi. Gã đang liến láu với một cô gái chắc đang nhờ gã bói quẻ cầu duyên :
“ Mệnh cô là Tang đố Mộc. Sao chủ mệnh là Tham lang. Sao chủ thân là Linh Tinh. Vợ chồng tài cán, đảm đang, danh giá, vợ có tính hay ghen không biết kiềm chế sẽ tan cửa nát nhà…”
Vừa nhác thấy ông thành uỷ , gã ngừng phắt , xua xua :
“ Thôi thôi, bói cho cô thế đủ rồi, cần hỏi thêm, mai quay lại nhé…”
Rồi gã rối rít ấn ông thành uỷ ngồi xuống một cái ghế gỗ :
“ Em biết chắc thế nào bác cũng trở lại … linh nghiệm thế đấy…”
Ong thành uỷ cười cười :
“ Tôi cứ tưởng bữa trước công an nó lôi cậu đi mút mùa rồi …”
“ Mười thằng công an chẳng làm gì được em. Bữa đó nó làm ra vẻ hùng  hùng hổ hổ bắt mình về tội  hành nghề mê tín dị đoan. Ai ngờ ngược lại. Hoá ra đồng chí Trưởng phòng điều tra xét hỏi nghe danh em đã lâu, lại đang lo cô vợ ở nhà lăm le cắm sừng vì quanh năm suốt tháng cứ vác cặc đi phá án . Bởi vậy đồng chí mới cho bắt em về chỉ để…bói riêng cho đồng chí thôi  ..”
Ong thành uỷ trố mắt :
“ Lại còn thế nữa kia..”
“ Chứ sao ? Bởi thế bói cho đồng chí xong em mới  được thả ra tức khắc và lại còn ung dung ngồi đây  hành nghề nữa chứ. ĐM đồng chí hỏi đi hỏi lại cả buổi sáng mà đéo chi cắc nào. Nhưng không sao, có công an bảo kê rồi cố nội  thằng nào dám động tới em…Ba thằng cảnh sát vòng vòng qua đây nhìn thấy em cứ tảng lờ như không thấy. Bác thấy em oách chửa ?” 
Ong thành uỷ gật đầu thán phục :
“ Cậu thế mà giỏi thật. Bữa đó tôi thấy tụi nó lôi tuột cậu lên xe thật quá bằng bắt phản động…”
“ ĐM. chúng nó chứ, chỉ được cái bắt nạt dân là giỏi. Thế …thế chuyện của bác ra sao rồi ? Đã có tin gì con gái chưa ?”
Ong thành uỷ chắp tay vái :
“ Tớ cứ tưởng cậu tán nhăng tán cuội ngờ đâu lại đúng mới chết …”
“ Vậy phải thưởng cho thầy đi…”
Ong thành uỷ sốt sắng móc ra tờ một trăm dúi vào tay gã thầy bói :
“ Tớ đang có việc phải phân vân, nghĩ ngợi . Cậu bói cho tớ một quẻ coi nên thế nào ?”
“ Bác định đổi nhà, mở Công ty hay là chuyển công tác ?”
Ong thành uỷ lắc đầu :
“ Chuyện đó không nói được, chỉ biết có người đang đề nghị tớ một điều rất hệ trọng, cậu  bói cho tớ  nên nhận lời hay từ chối ?”
Gã thầy bói nhìn ông chăm chú rồi chỉ ra ngoài vỉa hè :
“ Ong ra đứng chỗ  kia chọn bất kỳ chiếc ô tô nào chạy qua rồi đọc cho tôi số xe…”
Ong thành uỷ  tròn xoe mắt :
“ Sao lạ thế ? Chọn xe con, xe taxi hay xe buýt ?”
“ Xe nào cũng được…ông cứ ra đó rồi chọn xe nào là tuỳ ông…”


                       (còn tiếp)

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 14 )



                                    (tiếp theo)


Thấy Đực, mặt Vấn vụt tươi lên. Nàng nhoẻn một nụ cười rạng rỡ rồi xòe bàn tay ra đón gã. Đực dựng cây súng vào vách rồi ngồi xuống nệm cỏ. Gã nắm lấy tay nàng bóp chặt như muốn truyền sang nàng tất cả nỗi nhớ thương chồng chất từ bao nhiêu năm tháng. Vấn mỉm cười, cặp mắt của nàng long lanh như chất chứa vẻ cảm động. Nàng ngắm nghía Đực một lát rồi nói:
- Trông anh vẫn thế. Còn Vấn, anh có thấy khác gì không?
Đực bùi ngùi:
- Có vẻ xanh hơn. Mà sao đi mất biệt đâu, không nhắn giùm cho tôi một câu.
Vấn mỉm cười:
- Giận lắm hả?
Đực không đáp nhưng gã nắm chặt tay nàng hơn nữa. Gã muốn nói thật nhiều nhưng rồi lại không nói được gì cả. Vấn cũng im lặng để kéo dài giây phút cảm thông sâu xa đó. Mãi một lát sau nàng mới lên tiếng:
- Vấn gọi anh tới để báo cho anh một tin vui. Mà điều không biết có phải là vui với anh không đây?
Nói rồi nàng rút bàn tay ra khỏi tay Đực, nằm ngay ngắn lại và kéo tấm mền ra khỏi mình. Đực giật mình khi trông thấy cái bụng to của Vấn mà từ lúc vào gã không đề ý. Gã nhìn Vấn bối rối, rồi bỗng thốt lên:
- Vấn. Vấn...hả?
Vấn gật đầu nhẹ nhàng:
- Con anh đó. Rầu hay vui?
Đực cảm động đến nghẹn ngào:
- Sao lại rầu kia chớ. Trời ơi! Thực không ngờ...
- Không ngờ thiệt hả?
- Thiệt chớ. Ai mà ngờ cho được.
- Anh nhận nó không?
- Ôi cha! Sao lại không. Hỏi chi mà kỳ cục vậy. Con tôi mà!
Câu trả lời của Đực làm Vấn hài lòng. Nàng trở nên thân mật và gần gũi với gã hơn. Một tay của nàng níu lấy vai gã. Cánh tay kia quàng qua cổ gã một cách nồng nàn. Nàng nũng nịu:
- Vậy mà em cứ lo. Phải rồi. Con anh đó. Nếu là con trai nó sẽ giống anh như đúc.
Đực ngả lưng xuống nằm xuôi bên cạnh nàng. Bàn tay của gã đặt lên bụng nàng. Gã có cảm giác như đứa bé đang cựa quậy trong đó. Lòng gã dâng lên một niềm xao xuyến, rung động như gã đã vừa hoàn tất một việc tốt đẹp nhất trên đời. Giây lâu, gã nhìn nàng dò hỏi:

- Bây giờ tính sao nhỉ? Có về với tôi không ?
Vấn không trả lời ngay câu hỏi của gã mà lại giận dỗi một cách nũng nịu :
- Sao anh cứ xưng tôi hoài, dễ ghét quá. Từ nay em là vợ anh rồi
- Phải đấy. Anh sẽ giới thiệu em với tía.
- Bao giờ?
- Ngay ngày mai.
Vấn lắc đầu:
- Anh không thấy sao. Bụng em lớn thế này đi đâu nổi.
Đực ngẩn ra nhìn Vấn. Rồi gã lại cúi xuống ngó kỹ bụng nàng hơn. Một lát gã buột miệng:
- Ừ nhỉ.
- Em đã nhờ Yút rồi. Em sanh con ở đây.
- Đâu có được, ở đây đâu có thuốc men gì.
- Đó là điều khiến em nghĩ tới anh. Anh phải lo cho em đầy đủ đấy nhé.
- Tất nhiên rồi.
- Những thuốc nào cần mua em đã ghi ra cả ở đây rồi.
Vừa nói Vấn vừa trao cho Đực một mảnh giấy bằng bàn tay viết kín những chữ. Đực đón lấy rồi nói:
- Anh sẽ nhờ tía lên chợ Lùng. Ở đó không có thì lên tỉnh. Nhất định là phải đầy đủ mà.
Vấn ngập ngừng:
- Nhưng rồi tía sẽ nghĩ sao. Có giận mình không?
Đực khua tay:
- Ôi, ăn nhằm gì. Thấy anh có vợ con đàng hoàng, ổng còn mừng.
Vấn nhìn Đực một giây rồi nói tiếp:
- Còn một điều này nữa, em cũng phải nói hết cho anh biết. Anh thấy là mình đang hoạt động để hoàn thành sự nghiệp lớn lao của dân tộc chớ.
- Thấy.
- Cho nên mình phải đặt quyền lợi tổ quốc lên trên quyền lợi cá nhân.
- Rồi sao?
- Cho nên vấn đề gia đình đặt ra bây giờ chưa đúng lúc, phải không?
- Nghĩa là...
- Nghĩa là em sanh con rồi, chưa về sống với anh đâu. Phải chờ đến lúc cách mạng thành công đã.
Mặt Đực buồn hẳn đi, gã bối rối:
- Mà điều thỉnh thoảng cũng gặp nhau chớ.

- Dĩ nhiên rồi. Sau mỗi lần công tác hoàn tất em sẽ tìm anh. Chả mong gặp anh thì gặp ai.
Nói rồi Vấn lục sắc lấy một tấm ảnh trao cho Đực:
- Đây em tặng anh tấm ảnh này để anh nhớ mãi tới em.
Mắt Đực sáng lên. Gã đón vội lấy bức hình và giơ lên ngắm nghía. Bức ảnh chụp Vấn ngồi vắt vẻo trên một cành cây. Nàng bận áo sơ mi cổ bẻ, thắt lưng da buộc ngang bụng, ống quần bó ở gấu và đi dép Bình Trị Thiên. Vấn giảng giải:
- Hình này em chụp từ hồi còn ở Học-sinh-đoàn trong Quảng Bình. Anh thấy có khác bây giờ không?
Đực đáp:
- Không khác bao nhiêu. Khi đó em có vẻ học trò hơn.
Vấn cười:
- Thì học trò chụp hình làm sao lại không giống học trò được. Nhưng nói vậy chớ, cũng cực lắm nghe. Hồi đó phong trào phát động lên rồi, tất cả bọn này tình nguyện theo hết. Lúc tập trung ở Xuân Hội, tổng số dễ lên tới năm trăm người. Nhà nước gửi bọn này cho đồng bào địa phương, cứ ba bốn đứa một nhà, ăn chực nằm chờ gần một năm mới khai giảng lớp học. Trong thời gian chờ đợi, tụi em phải trồng rau, chăn vịt, làm đồng, nghĩa là chủ nhà cần gì thì mình làm nấy. Về sau cực quá, tụi nó trốn hết, tới ngày khai giảng chỉ còn ngót nghét có hai trăm.
 Mặt Vấn đang vui bỗng buồn hẳn đi. Cặp mắt long lanh bỗng trở nên xa vắng. Nàng bồi hồi xúc động như vừa va phải những kỷ niệm nhớ thương nào trong dĩ vãng. Hồi đó Vấn yêu một anh cán bộ miền Bắc tên Dương. Hai người hợp thành một cặp đẹp đôi nhất Xuân Hội. Khi mãn khóa, Vấn tiếp tục theo Dương đi công tác khắp vùng cao nguyên, và gần hai năm sau, họ làm lễ cưới ở trại Kim Đồng. Đám cưới cử hành thật giản dị và có ban văn nghệ giúp vui. Vấn nhớ chương trình hôm đó có tới hai vở kịch cùng qui về một vấn đề hôn nhân.
Vở thứ nhất diễn tả một anh chồng phải lên đường chiến đấu ngay trong ngày cưới. Đêm tân hôn anh ta nằm ngoài vòng rào kẽm gai của đồn địch. Rồi sau đêm giao chiến, anh ta tặng vợ một chiến công để làm quà động phòng.
Vở thứ hai nói về “nhiệm vụ người ở nhà” của một cô vợ có chồng phải lên đường chiến đấu. Đến lúc nghe tin chồng tử trận, cô nàng không những không khóc lóc mà còn giơ tay thề thốt sẽ noi gương chồng để phục vụ cho cách mạng. Câu chuyện khuôn thước, một chiều, phản tâm lý, tình cảm đến thế mà hồi đó Vấn cho là hay, là có ý nghĩa sâu sắc.
Ba tháng sau ngày cưới, Dương phải từ giã Vấn để đi công tác dưới đồng bằng, rồi biệt tích luôn ở dưới đó. Có người báo tin là Dương đã chết trong một trận đánh lớn ở miền Hậu giang. Vấn đau khổ tưởng có thể chết được. Nàng nằm liệt một chỗ và bỏ công tác hàng tháng trời. Ý nghĩa của những vở kịch trong đêm liên hoan ngày cưới bây giờ đã trở thành những hình ảnh mỉa mai, chua chát. Lý thuyết với thực tế quả thật đã khác nhau một trời một vực.
Trong những ngày đau khổ, Vấn được gần gũi với Phú, một gã làm ở văn phòng Bí thư Khu ủy. Thái độ mềm mỏng, dịu dàng của Phú khiến nàng nguôi được nỗi đau buồn để có thể đứng dậy tiếp tục làm việc. Một hôm, Phú yêu cầu nàng đi theo công tác trên sóc Thượng. Phú tổ chức uống rượu cần và Vấn đã say bí tỉ ngày hôm đó. Lần đầu tiên sau khi Dương biệt tích, Vấn tìm lại được nụ cười. Nàng thấy men rượu đưa mình vào một thế giới khác, thế giới bồng bềnh của lãng quên, của sự dìu dặt, nâng niu tâm hồn của mình bay bổng trên từng cao. Rồi đêm hôm đó hai người không về. Vấn không còn nhớ mình đã làm những gì trong suốt quãng thời gian còn đứng vững được trên căn nhà sàn đang bắt đầu xoay tròn chung quanh. Chỉ đến sáng hôm sau tỉnh lại, Vấn mới thấy mình lõa lồ trong chăn ấm của Phú. Thế là nỗi khổ đau cuối cùng của nàng đối với Dương cũng đã bị tước đoạt nốt. Vấn đã nghiến răng nhìn Phú hằn học:
- Anh khuyến khích tôi uống rượu để lãng quên và tìm lại nghị lực phục vụ cho đoàn thể. Sự phục vụ ấy là đây có phải không?
Phú im lặng không nói. Con người thật của gã đã trở lại qua ánh mắt sắc như dao, cặp môi mím chặt lại đầy vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn. Trên đường về, hai người im lặng. Tiếng lá khô giòn vỡ nát dưới chân, Vấn nghe như lòng mình cũng đang vỡ nát.
Nhưng chỉ ít lâu sau, Phú hết sức ngạc nhiên khi thấy Vấn lại tự ý rủ mình đi uống rượu cần. Chuyến này Vấn say sưa quá độ và lột xác hoàn toàn. Nàng cho Phú hết mình trong lúc say sưa, nhưng đến lúc rã rượu, nàng lại trốn Phú như lẩn trốn một con trùng độc. Sau, Phú bị hạ tầng công tác và bị đổi xuống đồng bằng. Hôm chia tay, Phú nói:
- Tôi không bao giờ quên được em.
Vấn nhún vai lạt lẽo:
- Đừng nói chuyện tình nghĩa. Cả hai chúng ta cùng là phương tiện của nhau đó thôi.
Rồi Phú ra đi nhẹ nhàng như một chiếc lá khô lìa cành. Vấn ở lại, hăng hái lao đầu vào công tác như một tín đồ trung kiên với đoàn thể. Cuộc sống của nàng bỗng ồn ào như một cơn lốc mạnh. Làm việc hết lòng, phục vụ quá mức, tình nguyện bất cứ một nhiệm vụ nào, như một cánh bướm rã rời tung tẩy nốt những phấn hương còn lại trước khi nằm ép trên nệm cỏ cô đơn chờ bị hủy diệt.

Thấy Vấn im lặng hồi lâu, Đực liền đặt tấm ảnh vào tay nàng và nói:
- Cho anh mấy chữ vào đây chớ.
Vấn mỉm cười:
- Anh muốn ghi cái gì nào?
- Gì cũng được.
Vấn lấy bút ra hí hoáy viết:
- “Tặng anh để nhớ em mãi – Vấn”
Đực coi đi coi lại nhiều lần với đầy vẻ cảm động, rồi gã bỗng hỏi:
- Cái gì Vấn đây. Kỳ thật. Sắp có con cái với nhau rồi mà tên họ của nhau cũng chưa rõ.
Vấn lại mỉm cười lấy bút ghi thêm chữ Dương ở trước chữ Vấn. Đực thắc mắc:
- Không có tên đệm sao?
- Không.
- Kỳ cục quá há.
Đực vừa nói vừa mỉm cười nhìn Vấn. Gã trịnh trọng đặt tấm ảnh vào túi áo trên rồi hứa hẹn:
- Anh sẽ mang nó trong mình suốt đời.
Vấn hỏi:
- Anh yêu em thật sao?
Đực ngạc nhiên:
- Sao lại hỏi gì kỳ cục vậy?
Vấn không đáp ngả người vào lòng Đực. Nàng hôn Đực một cách nhiệt thành. Lần đầu tiên hôn một người trai khác, Vấn không thấy có hình ảnh của Dương chen vào. Nhưng giây phút quí báu ấy trôi qua như một sợi chỉ rất mỏng manh. Dương biến đi rồi lại hiện ra. Khuôn mặt khôi ngô của chàng chồng chất lên vẻ mặt chất phác của Đực. Rồi cả hai hình ảnh ấy nhòe đi hết. Trên gò má của Vấn hai giọt nước mắt chẩy xuống long lanh.

                                  * *
                                   *
Trong cơn thức ngủ chập chờn, Đực mơ thấy nửa vai trần trắng nhễ nhại của Vấn nóng bỏng dưới làn môi của mình. Gã gọi tên Vấn cuồng nhiệt. Nhưng Vấn bỗng vuột đi rất xa và tiếng gọi của Đực chỉ trở thành tiếng ú ớ. Gã cố gắng vùng vẫy để thoát khỏi cái cảm giác khô đắng ở họng thì lão Đối hiện ra ở đầu giường. Giọng lão hoảng hốt:
- Cái gì vậy Đực. Mầy làm sao thế?

Đực choàng tỉnh hẳn và nhận thức được cơn mê sảng của mình. Gã bẽn lẽn ngồi dậy, vươn vai thật dài. Lão Đối nhìn gã một giây nữa rồi vừa quay đi, vừa nói:
- Cháo ếch xong rồi đó. Có dậy mà ăn không?
Đực hỏi:
- Mấy giờ rồi tía?
- Dễ quá nửa khuya rồi.
Đực chép miệng:
- Vậy mà tôi cũng ngủ được một giấc dài. Sống ở ngoài đó, nhiều khi đói, nhưng đói ngủ là thường nhất.
-Hay ngủ tiếp đi, để nồi cháo đó tới mai.
Đực mỉm cười:
- Thôi, chờ đợi làm chi mất công. Tôi đói, ngủ không được.
- Ngủ không được mà mớ, la như la làng.
- Ủa! Tôi la lắm hả. Tôi la cái gì tía nghe rõ không?
- Tao đâu có để ý. Nghe đâu như mầy gọi thằng nào tên Vấn.
Đực ngập ngừng một giây rồi nói:
- Không phải thằng nào đâu. Con gái đó.
Lão Đối ngạc nhiên:
- Con gái nào nhỉ?
- Để vừa ăn cháo tôi vừa kể cho tía nghe. Bữa nay tôi về ngủ đêm ở nhà là vì chuyện đó đó.
Một lát sau, Đực thổ lộ cho lão Đối tất cả tâm sự thầm kín của mình. Rồi gã kết luận:
- Các thứ thuốc cần dùng có ghi cả trong mảnh giấy đó. Tía cố lo mua giúp giùm tôi. Chợ không có thì lên quận, mà quận không có thì lên tỉnh.
Lão Đối hậm hực, vặc lên:
- Tổ cha nhà mầy, mầy làm như tao phải chịu tội đi hoang cho mầy không bằng.
Đực giận dữ:
- Hoang cái gì chớ. Bộ tía tưởng tôi coi nó như loại người mèo tha, quạ mổ ngoài giữa lộ sao. Nói cho tía hay, tôi lấy nó làm vợ đó.
- Mầy lấy ai thì mặc cha mầy, mà điều đừng có ỉ eo gì tới tao.
- Thì dẫu sao nó cũng là con dâu của tía mà.
- Dâu với dia gì. Mầy ưng nó, mầy ngủ với nó, mầy có hỏi tao lấy một tiếng không?
- Thì bây giờ tôi hỏi đó!
- Rồi nếu tao không ưng thì mầy tính sao?

- Chèn ơi! Thời buổi này mà tía làm như hồi tía còn xuân xanh không bằng. Chuyện vợ chồng thì chỉ một mình tôi ưng là đủ thôi chớ.
- Ừ, thì mầy ưng mầy cứ ưng. Tao đâu có thèm xía vô. Mà điều đừng có bắt tao lặn lội xuôi ngược để lo những thứ đồ mắc dịch này.
Đực bực bội đứng dậy:
- Cái đó tùy tía. Nó không có thuốc uống lúc hộ sinh, rồi mệnh hệ nào thì tôi oán tía tới già.
Nói rồi Đực bỏ ra ngồi hút thuốc ở ngoài hiên, sau khi ném lại mẩu giấy xuống cạnh nồi cháo còn nghi ngút khói. Lão Đối ngồi chết trân bên ngọn đèn dầu lù mù. Một nỗi chán chường dâng lên làm lão muốn được yên nghỉ như những người đã an phận nằm xuống để khỏi phải dính líu đến chuyện quê hương, chuyện xóm làng chuyện những người thân thích, ruột thịt. Nhưng rồi cuối cùng lão cũng phải nhặt mảnh giấy lên, soi nghiêng vào ánh đèn. Mảnh giấy kín mít những chữ. Lão chỉ lõm bõm đọc được một vài tiếng Việt như dầu nóng, bông gòn, kim băng, dép quai...còn tựu chung toàn là những tên thuốc tây ngót nghét cũng tới mười mấy thứ.
Ngắm nghía mãi chán, cơn hậm hực đã nguôi nguôi được chút đỉnh lại trào lên. Lão nói bâng quơ:
- Bằng đây thứ, có làm ông hoàng cũng chả có tiền mà mua cho đủ.
Đực nói vọng vào:
- Có cái gì mà ông hoàng bà chúa.Vài ba thứ thuốc trụ sinh, đồ Mỹ rẻ như bèo.
- Rồi còn bông gòn, còn dép quai...
- Mấy cái đồ bỏ ấy mà tía cũng kể là ăn nhằm. Không biết lúc bình an tía lo cưới vợ cho tôi, tía tính bỏ ra bao nhiêu đây?
- Vậy ra là mầy nhắm vào tiền cưới hỏi đó hả? Tao nói cho mầy hay, nếu tao có làm đám cưới cho mầy, tao chỉ có một bữa kỳ nhông mời bà con cô bác tới chứng kiến mà thôi. Thời buổi chiến tranh mà, giết ai ra tiền đây?
- Thôi tía đừng có nói nhiều. Tía không bằng lòng mua thì thôi. Không phải vì thế mà tía rỉa róc. Nói tía hay, tía không cho thì chẳng phải vì thế mà tôi không có những thứ đó đâu.
Nói rồi Đực ngồi bật dậy, ném điếu thuốc đang hút dở vào bóng đêm mù mịt. Gã hùng hổ đi vào, khoác cây súng lên vai. Phản ứng dữ dằn của gã làm lão Đối chột dạ. Lão đứng án ngữ ở ngay chỗ ra vào rồi hỏi Đực:
- Mầy đi đâu?
- Tôi đi đâu mặc tôi. Tía đã coi tôi không ăn nhằm gì tới tía thì can gì tía phải hỏi.
- Giờ nầy mầy xách súng đi ngơ ngơ ở ngoài đó, lính phục kích nó bắn chết cha mầy.

Đực chua chát:
- Đó là tía muốn vậy chớ đâu phải tại tôi.
- Tổ cha nhà mầy. Muốn mua cái gì thì cũng phải bán dăm con gà, con qué rồi mới có tiền, chớ bộ hô một tiếng là phải có ngay cho mày sao?
Vẻ mặt của Đực đang lạnh lẽo bỗng vui lên một chút. Gã nhìn sững ông già một giây rồi đổi giọng dịu dàng:
- Thì ai bắt tía phải có ngay mà tía la. Nhờ tía, nó mẹ tròn con vuông rồi thế nào tôi cũng đem cả mẹ con nó về cho tía thấy mặt một lần.
Lão Đối vẫn hậm hực:
-         Tao hổng có ham!


                                    (còn tiếp)