Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Nhà văn Nhật Tiến : GIẤC NGỦ CHẬP CHỜN ( KỲ 4 )




                            (tiếp theo)


Bình băn khoăn:

- Tui trốn đi rồi, mai mốt trở về ông già ổng đập chết.

Há phá lên cười:

- Đ M. Coi thằng nói chướng anh ách. Tao biểu cho mày hay, mày đi đây là đi vì dân, vì nước, không phải mày đi chơi bời, ăn trộm, ăn cướp mà lo. Tới lúc mày về rồi đó nghen, mày le gấp ngàn lần ông già tía nhà mày đó. Ổng dám lôi thôi kí gì. Lôi thôi thì đem bắn bỏ, ăn nhằm gì đâu. Ổng phong kiến quá cỡ, tao biết mà!

Bình ngập ngừng:

- Mà điều còn má tui, tui thương bả.

Há cướp lời:

- Mày càng thương má bao nhiêu mày càng phải đi bấy nhiêu chớ! Mày thấy hôn, má mày hiện giờ đâu có sướng? Vài bữa một lần, tía mày đập cho thấy bà, thiếu điều ói máu ra mà chết, ăn nhằm kí gì. Nay mày vô vùng giải phóng, mai mốt mày về giải phóng cho má mày luôn, như thế còn ngon bằng mấy ở nhà phải nghe đánh, nghe chửi hoài mà có giải quyết được gì đâu. Tin tao đi. Tao kinh nghiệm cuộc đời rồi mà. Tới chừng mày trở về, tía mày không lót chiếu hoa đón mày, tao cứ đi bằng đầu. Thiệt đó, tao nói thiệt đó.

- Tôi bé thế nầy, người ta nhận chớ?

- Ý! Bé mới quí. Càng bé càng quí. Người ta chỉ cần mỗi cái có tinh thần cao thôi. Có tinh thần cao mần việc gì cũng tốt hết. Tới chừng mày ra, lại mang thêm được cây súng nữa đó nhen, ăn cái giải thi đua lập công là cái chắc. Người ta sẽ kiệu mày lên, hoan hô mày hết mình. Mày lại có cả giấy ban khen nữa. Le quá cỡ mà!

Bình hớn hở:

- Vậy để tôi lấy trộm súng của anh Thành. Ảnh cho tôi cầm súng của ảnh hoài.

Há vỗ tay:

- Vậy là số dách rồi! Tao thua mày luôn đó!

Ba hôm sau, quả nhiên thằng Bình chớp được khẩu garant và theo thằng Há trốn biệt ra khu. Báo hại bà già của nó khóc hết nước mắt.

Ít lâu sau thằng Bình trở về. Nó không được người ta trải chiếu hoa tiếp đón như viễn tượng tốt đẹp mà thằng Há đã vẽ từ hồi dụ nó ra khu. Con đường dẫn vô ấp Vĩnh Hựu xơ xác và tiêu điều hơn là ngày nó ra đi. Nhiều thân cây bị trốc rễ. Những bức tường xám lỗ chỗ vết đạn làm trơ ra từng mảnh vôi trắng xóa. Dấu vết của nhiều cuộc đụng độ còn đó và trong đám thanh niên, bên này hay bên kia, đã có nhiều kẻ ra đi không bao giờ trở lại. Trông thằng Bình bây giờ có vẻ già dặn hơn trước, mặt nó đanh lại, cặp mắt đục và sâu hơn trước, thân hình vêu vao còm cõi vì thiếu ngủ. Nhiều hôm ở trong khu, Bình nhớ nhà, không cầm lòng được, tu lên khóc. Báo hại thằng Há, có lúc quá bực mình đã phải văng tục một câu:

- Đ.M. Cách mạng cách mung như mày thì chết cha cả nước rồi còn gì.

Thằng Bình tủi thân khóc to hơn nữa. Há phải đổi giọng dỗ dành:

- Mày cù lần lắm biết không. Đi theo cách mạng mà còn đầy tính chất nít nhỏ lên hai, lên ba như vậy các đồng chí ấy cười cho thối mũi. Rồi mai nầy lên khu, theo lớp huấn luyện, họ vạch mặt chỉ tên mày ra: “ Có phải đồng chí phụ trách tiểu ban ngủ nhè ở Vĩnh Hựu về đó không?”. Đ.M. Khi đó mày ăn nói làm sao? Chèn ơi! Tao thì tao chun cha nó xuống hố cho rồi, nhục hết sức!

Ngừng một chút, Há tiếp:

- Mày chưa lên trển, mày chưa thấy đó chớ, có những thằng còn nít hơn mày mà tụi nó phục vụ cách mạng như điên. Có lần tao trông thấy một thằng nhóc bị máy bay Mỹ rượt, nó vừa chạy vừa dùng súng cá nhân chống trả. Mỗi lần máy bay xà xuống lia một loạt đạn là nó lại nằm ngửa ra, bắn lại một phát. Cứ thế suốt buổi, nó lia hết một băng tiểu liên. Hơn hai chục lần máy bay Mỹ chúi đầu xuống, hơn hai chục lần nó bắn lại, như bò điên.

Bình ngắt lời:

- Rồi có trúng được cái máy bay nào không?

Há la to:

- Chèn ơi! Trúng chớ sao không! Một mình nó hạ mười mấy máy bay Mỹ, được bao nhiêu là giấy ban khen ấy chớ!

Bình gặng:

- Mà điều chính mắt anh trông thấy chớ?

- Tao mà nói dối mày tao cứ đi bằng đầu! Mắt tao thấy! Tao thấy đàng hoàng mờ. Người ta in cái vụ đó vô sách đàng hoàng mờ. Bữa nào mày có dịp qua liên lạc bên kho B4, mày biểu mấy đồng chí bên đó kể chuyện Măng Tầm Vông trong bộ Cửu Long Cuộn Sóng của Trần Hiếu Minh cho mà nghe. Tao đâu có thèm bịa chuyện.

Ngừng một lát để cho sự tin tưởng ngấm sâu vào trí óc non nớt của thằng bé, Há lại tiếp tục nói:

- Dưới ánh sáng soi đường của cách mạng cái gì cũng có thể xảy ra được tuốt, cái gì cũng làm được tuốt, chớ ai lại tu lên khóc vì nhớ vú mẹ như mày! Rầu thúi ruột tao ra đó, Bình.

Thằng Bình cãi:

- Mà điều xa thì phải nhớ chớ. Vậy má anh, anh có nhớ không?

Há chỉ vào bụng mình:

- Tao nhớ mà điều tao để trong này! Tao đã thề rồi mờ! Hễ sự nghiệp cách mạng mà không thành, tao hổng có thèm về nhà nữa!

Bình trợn mắt:

- Rồi mình đi biệt như vậy, nhỡ bả chết thì sao?

- Chết thì chôn! Người ta ai mà không có một lần chết. Mà điều chết như vậy có ý nghĩa hơn. Tuy già, bả không đi, nhưng như vậy cũng là một cách đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân đấy chớ. Còn hơn giữ dịt con cháu ở nhà để Mỹ về Mỹ ăn tươi nuốt sống à?

Thằng Bình trợn mắt:

- Trời đất ơi! Tụi nó ăn thịt người thiệt đó sao?

Há hoa chân múa tay:

- Ăn chớ sao không! Bộ không ăn thịt người thì làm sao mắt nó xanh, tóc nó vàng được. Mày thấy hôn, mắt mày, tóc mày đen quá cỡ mà! Bởi vì mày với tao là người chỉ ăn rau, ăn thịt bò, thịt heo, chớ có bao giờ ăn thịt người đâu.

Bình vùng lên:

- Thôi thế anh cho tui về, tui canh chừng má tui. Có khẩu súng này, gặp Mỹ là tui bắn bỏ!

Thấy luận điệu tuyên truyền của mình xoay sang một tình thế bất ngờ, thằng Há vội vàng nói:

- Mầy ngu như con chó vậy đó. Thịt má mày dai nhách, ai thèm ăn. Ăn là ăn mấy cổ kìa. Mấy cổ trắng ngần, thịt thơm thiệt là thơm.

- Thiệt hôn?

- Tao mà nói dối mầy tao cứ đi bằng đầu. Mày tin tao đi! Tao kinh nghiệm cuộc đời lắm rồi mờ.

- Nếu vậy tôi nhất quyết giết Mỹ lập công, vừa để trả thù cho mấy chị đó nữa.

Há vỗ tay:

- Hoan hô tinh thần cao! Phải cao như vậy mới được chớ. Bây giờ thì tao thua mày rồi đó, tao nói thiệt đó, nghe Bình!

Nhưng chỉ mấy tuần sau, thằng Há lại thay đổi lập trường. Nguyên do là vì ăn kham khổ quá, thằng Há thấy thèm một bữa thịt gà với măng tre. Nó xúi thằng Bình:

- Mày về thăm bả đi, coi bả có ốm đau gì hôn. Đi biệt cả năm, nghĩ cũng kỳ!

Bình sướng run lên:

- Thiệt hôn? Anh cho tui về thiệt hôn?

- Tao nói dối mầy tao cứ đi bằng đầu! Mà điều đi cho chóng, về cho nhanh. Tao lo giùm công tác của mày một hôm thôi. Mày về trễ, cấp trên khiển trách, mày ráng chịu.

Bình nhẩy cỡn lên:

- Tui về thiệt lẹ! Một buổi thôi cũng được nữa là một hôm. Chừng nào tui đi? Sớm mai, được hôn?

- Được chớ sao không. Nhớ nghen! Chọn lấy đôi gà thiệt bự mang vô đây anh em mình nấu cháo ăn chơi nghe mày!

- Dễ ợt mà.

- Ờ thì dễ. Mà điều nhỡ má mày không cho thì sao?

Bình cười hì hì:

- Chả cho thì tôi lấy.

Há vỗ lên vai thằng bé bồm bộp ra chiều thông cảm:

- Đúng vậy đó. Đúng vậy đó. Chả lấy thì để làm chi? Nay mai tụi Mỹ về làng, nó chớp mất còn uổng bằng mấy!

Thế là hôm sau thằng Bình trở về ấp. Đặt chân lên chốn cũ, nó thấy cửa đóng then cài, vách gỗ ẩm mốc, mạng nhện chăng lưới rậm rịt. Ba má nó đã dọn nhà lên tỉnh ở từ hồi tháng trước. Nhìn ra chung quanh, cỏ mọc đầy lối đi, vườn tược xơ xác, gà qué ngoài chuồng cũng trống trơn chẳng còn dấu vết sinh hoạt gì trên khoảng đất hoang vắng đó. Thất vọng, thằng Bình ngồi khóc một mình trên hàng hiên. Nước mắt của nó ướt đầm đìa hai bên má. Nó nhớ đến những kỷ liệm đã trôi qua. Những kỷ niệm chẳng lấy gì làm êm đềm, nhưng cũng khiến nó rạo rực và tiếc xót. Ở góc này, đã có lần tía nó xoắn tóc má nó vào bàn tay rồi lấy chân dận lên lưng má như người ta dầy xéo một con vật. Ở góc kia, đã có lần má nó ngồi khóc nỉ non ròng rã suốt một đêm trường. Trong lúc đó, tía nó chửi mắng mãi, mỏi mồm, nằm ngáy như sấm trên phản gỗ kê chắn ngang lối cửa ra vào. Ở trong nhà, Bình cậy vách nhìn ra, vừa nhìn mái tóc xõa xợi trên đôi vai gầy của mẹ, nó vừa thút thít khóc. Những kỷ niệm chua xót, não nề đó bỗng nhiên trở lại trong tâm trí của Bình như một cơn bão lốc. Nó chợt thấy tất cả những hành động vô lý của mình khi bỏ nhà ra khu ròng rã trong tám tháng trời, không một lần bén mảng trở lại thăm chốn cũ. Tía nó bây giờ ra sao? Má nó bây giờ thế nào? Ôi, chưa bao giờ thằng Bình thấy tiếng gọi của gia đình thiết tha và hối thúc cấp bách như lúc đó. Càng nghĩ nó càng rầu rĩ. Càng rầu rĩ nó càng khóc. Khóc chán nó mệt mỏi nằm lăn ra thềm đất ngủ vùi. Đến lúc nó tỉnh dậy thì có một bàn tay xương xẩu đang rờ rẫm trên mặt của nó.

Trời bên ngoài đang chập choạng tối. Dưới làn ánh sáng mờ mịt của thời gian tranh tối tranh sáng, nó thấy thân hình gầy guộc của lão Đối in rõ trong khoảng không gian mờ đục trước mắt. Nó hốt hoảng choàng dậy và nhớ đến thanh mã tấu ghếch ở chân cột. Thanh đao còn đấy, lưỡi sắc của nó sáng lên một cách lạnh lẽo. Đó là vật hộ thân của Bình được thằng Há dúi vào tay sau khi tước đi của nó khẩu súng. Há nói:

- Mày để súng lại kẻo một mình mày ở đó nhỡ có gì thì mất uổng. Phòng thân bằng thanh mã tấu nầy là đủ chán rồi. Mã tấu thứ thiệt đó, nghe em. Một mình nó cũng ăn sơ sơ ngót một chục cái đầu rồi đó!

Trong một giây hốt hoảng, thằng Bình nhoài ngay lại phía chân cột và bàn tay cầm lấy thanh đao. Nhưng lão Đối đã cất tiếng:

- Thằng Bình phải hôn?

Bình rụt rè:

- Tôi đây!

- Chèn ơi! Mầy coi trời bằng vung! Dân vệ mà vô tới thì rồi đời mầy rồi còn gì.

Bình cãi:

- Tụi họ ở “ ngoải”, có vô đâu mà lo.

- Hừ, cấp này không giống như hồi xưa đâu con! Họ đi tới, đi lui, rỏn trong đây hoài hà.

Thấy thằng Bình im lặng, lão tiếp:

- Mầy nhớ thằng Thành hôn?

Bình gật đầu:

- Nhớ!

- Hồi trước mầy lấy súng của nó phải hôn?

Bình im lặng không đáp, lão tiếp:

- Nó phải bán ba sào đất lấy tiền đền cây súng, lại chạy chọt mãi mới khỏi đi tù. Nó hứa gặp mày là nó cắt gân, đừng coi thường, con ạ!

Thằng Bình nghe nói lạnh buốt xương sống. Nó e ngại nhìn ra chung quanh. Nó tưởng như hình dáng to lớn phục phịch của gã đàn ông đang hiện ra trong bóng tối, giương cặp mắt đỏ ngầu lên nhìn nó. Bàn tay của nó nắm chắc lấy cây đao. Tuy thế, hình như những tóc gáy của nó cũng đang bắt đầu dựng ngược lên. Bầu không khí bỗng trở nên đầy đe dọa. Một lát, lão Đối nói:

- Đi qua bên đây. Chắc mầy chưa ăn gì phải hôn?

Bình lầm lũi đứng dậy. Nó theo lão Đối băng qua con đường đất nhỏ và tiến về phía căn nhà của lão ẩn sau một lùm cây. Vào giờ ấy, sự sinh hoạt trong ấp Vĩnh Hựu như chìm lắng hẳn đi. Sau khi khêu ngọn đèn đất lên cho vừa đủ sáng, lão Đối lụi hụi đi lấy cơm cho thằng Bình ăn. Nó nhai nhóp nhép trong bóng tối. Tuy đói cồn cào nhưng miệng nó vẫn đắng lại. Những cọng dưa trong mồm gây cho nó cái cảm giác như mình đang nhá một mớ cỏ. Trong lúc đó, lão Đối vừa ngồi ngắm nó ăn, vừa im lặng hút thuốc phì phèo. Lâu lắm lão mới nói:

- Bây giờ mầy ở đâu?

- Tuốt mé trỏng!

- Có cả thằng Há ở đó chớ?

- Dạ, ở cùng chỗ mà bác.

- Nó mạnh không?

- Ảnh khỏe như voi.

- Nó làm gì ở trỏng?

- Huấn luyện viên quân sự .

- Le dữ! Còn mầy?

- Liên lạc lăng nhăng!

- Đi như vậy mà không tìm cách lén về thăm má mầy vài lần. Tội nghiệp bả, chẳng hôm nào bả không khóc vì mầy.

- Bây giờ bả đâu bác?

- Lên tỉnh rồi. Cả tía mầy bây giờ cũng làm ăn lớn lắm ở trển.

- Làm gì?

- Chung thầu với ai cái gì đâu, làm sao tao biết.

- Mơi cháu tìm lên trển, được không bác?

Lão Đối giật mình:

- Mầy tính bỏ hàng ngũ rồi lên đó hả?

- Bỏ!

- Bộ chán rồi sao?

- Không biết nữa. Mà điều cháu muốn gặp má cháu.

- Coi chừng đó. Mầy lên tỉnh không có giấy tờ, người ta bắt được, điều tra ra cái vụ ăn cắp súng thì lôi thôi to.

- Cháu con nít thế này, ai mà bắt.

- Thì phải lo xa như vậy chớ.

- Mà điều bác biểu có nên không?

- Nên chớ sao không. Tao còn mừng! Để tính coi có cách nào đi thoát chặng cột cây số không. Thằng Thành bây giờ lập thêm vọng canh ở đó.

- Cháu chun vô bồ, bác gánh đi được không?

- Mầy nói dễ nghe, Tự nhiên tao khiêng bồ đi đâu, làm chi? Nó nghi tất nó khám chớ.

- Hay cháu đi vòng quanh mé đồng, bọc lối Đầm Tròn bên quốc lộ. Sáng sớm mai bác đón cháu ở quán bà Quới, được không?

- Bộ mầy tính tao phải dẫn mầy lên tỉnh sao?

- Cháu năn nỉ bác đó. Cháu đi một mình người ta nghi. Có bác bảo đảm, ai xét giấy làm chi.

- Vậy cũng được.

- Sớm mai, nghe bác. Bác đi càng sớm càng hay.

- Còn mầy?

- Bây giờ cháu lên đó. Đêm thế này, dễ luồn lọt ngõ ngách, bác à.

Lão Đối không đáp dụi mẩu thuốc lá cuối cùng vào cột gỗ rồi ngồi trầm ngâm. Trời bên ngoài không trăng sao. Nền trời tối đen như mực Thỉnh thoảng ở trong khoảng mênh mông mù mịt đó lại vọng lên tiếng động cơ của những chiếc máy bay nặng nề đi ngang qua ở độ rất cao. Quanh quất trong những vũng mương gần đó, đôi lúc lại có tiếng ếch nhái quậy nước làm vang lên những tiếng lũm bũm. Âm thanh tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm khuấy động cả một khoảng không im lặng nặng nề, như một sợi dây đàn căng thẳng chỉ cần một sự đụng chạm rất khẽ cũng đủ rung lên những tiếng chát chúa.

Căn phòng của lão Đối như hẹp thêm lại, khoảng ánh sáng leo lét của ngọn đèn yếu đuối không với tới mấy cái chân cột. Chỉ còn những mảng vàng vọt đục lờ in trên vách gỗ làm nổi bật lên bóng dáng của hai ông cháu được phóng to gấp ba bốn lần. Ngồi im một lát thằng Bình đứng dậy. Nó nói:

- Thôi cháu đi. Hẹn ông sáng sớm ngày mai nhé, ông Đối.

Lão Đối khẽ gật đầu. Lúc thằng bé lách qua cánh cửa, lão mới nói với theo:

- Cẩn thận đó, nghe con.



                         (còn tiếp)

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

HẺM BUÔN CHUYỆN (KỲ 117) : Mùa thu rồi …ngày 23…



             
                                                        Hình minh họa
        
  Mấy hôm nay Sàigòn ăn theo mùa thu Hànội, trời âm u, mát mẻ . Từ sáng ông đại tá hưu đã đánh bộ quân phục, huân huy chương đeo đỏ lòm cả  ngực, cộp cộp bước vào khiến cả quán tròn mắt.

Cô Phượng cave trầm trồ :

“ í trời …hôm nay ngày gì chú đại tá hưu đóng bộ đồ lớn nom oách quá ta…”

Ong đại tá hưu ưỡn ngực tự hào :

“ Cái con Phượng cave này …mày là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không biết hôm nay là ngày gì ư ?”

Gã Ký Quèn cười hô hố :

“ Hôm nay là ngày  mồng thất tháng mồng cửu , tra sách tử vi thì hôm nay đúng là ngày sao quả tạ chiếu “

  Ông đại tá hưu quát :

“ Thằng này láo, tử vi chỉ có sao Thiên cơ, sao Thái Dương, sao Thiên Đồng, sao Vũ Khúc, sao Liêm Trinh…làm gì có “sao quả tạ”.

Cô Phượng cave cười ngặt nghẽo :

“ Í trời …chú Ba đại tá hưu là người cộng sản mà cũng rành tử vi quá ta . Mà hôm nay là ngày gì vậy chú Ba...”

Ông đại tá hưu ưỡn ngực hát to :

“ Mùa thu rồi …ngày 23 …ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…”

Chị Gái hủ tíu sốt ruột :

“ Vậy là sao ? Vậy là cái ngày gì ?”

Ông đại tá hưu quát:

“ Tụi bay cứ mải làm ăn không chịu trau dồi tư tưởng chính trị. Hôm nay là ngày Nam Bộ kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp còn không biết sao ?”

Cô Phượng cave cười rinh rích :

“ Hèn chi anh Ký Quèn nói ngày sao quả tạ chiếu là đúng rồi …”

Ong đại tá hưu lại quát :

“ Con Phượng cave to gan, sao mày dám nói ngày Nam Bộ kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp là ngày sao quả tạ chiếu hả ?”

Cô Phượng cave vênh mặt :

 “Thì nếu không đánh đuổi Pháp ngày nay nước ta đâu có ra cái nông nỗi này ?”

Ông đại tá hưu tức quá trỏ mặt cô Phượng cave quát :

“ Con cave này phản động. Đánh thắng hai đế quốc to Pháp và Mỹ là sự nghiệp thần kỳ kinh thiên động địa của đảng ta sao mày dám nói giá như không đánh đuổi thực dân Pháp là sao ?”

Ong Tư Gà nướng lên tiếng :

“ Cô Phượng cave nói cũng có phần đúng đó. Nếu không đánh đuổi Pháp thì ngày nay nước ta đâu có quốc nạn tham nhũng , nông dân đâu có bỏ ruộng, công nhân đâu có thất nghiệp, con gái đâu phải bán thân cho Đại Hàn, Đài Loan …”

Ông đại tá hưu tức quá tính quát nữa, ngoài cửa quán có tiếng léo nhéo. Thì ra cô Ba, cô vợ trẻ của ông mới từ Hà Nội bay vào, xách có mỗi cái ví đầm hàng hiệu, vừa đi vừa rít lên chửi :

“ Mả cha thằng mặt thịt …mả bố thằng mặt dầy …bầy đặt quản lý…quản lý cái mả bố nó làm khổ bà …”

Ông đại tá hưu vội nhảy phốc ra khỏi quán chạy theo cô vợ vẫn  vừa đi vừa chửi.  Cô Phượng cave nhìn theo lè lưỡi :

“ Í trời ơi…cô Ba chửi ai mà chửi độc vậy ta ? “

Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :

“ Thì chửi cha thằng mặt thịt , chửi bố thằng mặt dầy  đấy thôi..”

Cô Phượng cave vẫn thắc mắc :

“ Nhưng thằng đó là ai ? Là ai mà lại bầy đặt quản lý làm khổ cô Ba nhỉ ? Mà quản lý cái gì ?”

Gã Ký Quèn đoán già đoán non :

‘ Thôi đúng rồi…trong chiến dịch kiềm chế lạm phát hiện nay Thủ tướng ra lệnh cấm mua xe công đắt tiền…”

Cô Phượng cave lắc đầu :

“ Cấm mua xe công đắt tiền thì ảnh hưởng gì tới cô Ba mà cô chửi dữ vậy ?”

Gã Ký Quèn lại đoán :

“ Biết đâu cổ đang có mối nhập xe từ Mỹ, môi giới cho các cơ quan ăn chênh lệch giá. Giờ Thủ tướng cấm nhập cổ mất ăn nên cổ chửi chớ sao ?”      

Mọi người còn đang bán tin bán nghi không biết cô Ba chửi ai ông đại tá hưu đã quay vào quán gọi thằng Bảy xe ôm :

“ Mày chở cô Ba đi công chuyện kìa…lẹ lên….”

Thằng Bảy xe ôm đi cả tiếng đồng hồ mới quay về,  cô Phượng cave sốt ruột hỏi :

“ Mày chở cô Ba đi đâu mà gấp quá vậy ?”

Thằng Bảy xe ôm cười cười :

“ Đi đổi đôla chứ đi đâu ?”

Cô Phượng cave thắc mắc :

“  Sao cổ không đổi ngoài Hà Nội mà lại vào  Sàigòn đổi ?”

Thằng Bảy xe ôm :

“ Ngoài đó bắt đổi tại ngân hàng, đổi chợ đen nó rình bắt được thì mất sạch . Cô Ba đang cần đổi 10 ngàn đôla đóng học phí cho cậu Ut du học bên Mỹ nên phải bay vội vào đây tìm mối quen mới đổi được …”

Gã Ký Quèn cười hô hố :

“ Hèn chi cô Ba cứ chửi cha thằng mặt thịt, chửi bố thằng mặt dầy làm khổ bà…”

Cô Phượng cave lại thắc mắc :

“ Thằng mặt dầy , thằng mặt thịt là thằng nào ?”

Thằng Bảy xe ôm cười ha hả :

“ Là cái thằng ra lệnh cấm đổi đôla chợ đen tức thằng Bình ruồi chứ còn thằng  nào ?”

Cả quán cười ầm ầm. Riêng ông đại tá hưu mặt hầm hầm bước ra khỏi quán .



24-9-2013


Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

nhà văn NHẬT TIẾN : HÀNH TRÌNH CHỮ NGHĨA (KỲ 20)

QUAN ĐIỂM CỦA NHẬT TIẾN
VỀ VẤN ĐỀ GIAO LƯU VĂN HÓA
…….
Tình nghĩa bà con hàng xóm vẫn còn y nguyên, vâng điều đó đúng, tuyệt đối đúng, nhưng theo tôi, nó mới chỉ là một nguồn ánh sáng le lói ở nơi này, mà vẫn còn chìm khuất ở nơi kia, chứ cha thể chan hòa, thắm đượm , tràn đầy trên quê hương. Mà để thực hiện được sự chan hòa. Thắm đượm hay tràn đầy này, sẽ cần phải một thời gian rất dài và sự nỗ lực của nhiều phía trong đó vai trò của văn hóa sẽ vô cùng quan trọng. Vấn đề giao lưu văn hóa, trong mục tiêu đó, và chỉ trong mục tiêu đó vì thế mới được đặt ra. Nhưng giao lưu văn hóa không có nghĩa là thỏa hiệp với cường quyền hay bạo lực để tiếp tục kéo dài mãi tình trạng suy sụp như hiện nay. Giao lưu văn hóa cũng không phải là một sự kết hợp một cách bừa bãi giữa tất cả mọi người cứ mệnh danh là cầm bút .Thực chất của sự giao lưu không phải như vậy. Nó không có chỗ cho những ngòi bút vẫn còn tiếp tục ca ngợi bạo lực hay thỏa hiệp với bạo lực. Nó cũng không có chỗ cho những ngòi bút tiếp tục khơi mãi vết thương của dân tộc mà không cho thấy một lối thoát nào có thể coi là con đường thích đáng nhất đem lại được sự hàn gắn vết thương mà không phí phạm thời gian. Giao lưu văn hóa thật ra chỉ là một sự chấp nhận cùng là bạn đồng hành của những người làm văn hóa, không phân biệt quá khứ hay điều kiện địa dư, miễn là họ biết cùng nhìn về một hướng trong mục tiêu tối hậu là khôi phục lại được tất cả những giá trị nhân bản của con người và những giá trị cổ truyền của dân tộc
(trích bài phát biểu của Nhật Tiến tại San Diego ngày 22 Tháng 10 năm 1995, trong buổi ra mắt tác phẩm " QUÊ NHÀ BỐN MƯƠI NĂM TRỞ LẠI " của Phan lạc Tiếp )


                                        *************


CHƯƠNG 9


Sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật ở hải ngoại
 Thời điểm  năm 2002
****
                            SỔ TAY VĂN HỌC-VIỆT TIDE SỐ 67
        CHUYỆN  CHẲNG  ĐẶNG  ĐỪNG
NHẬT TIẾN

Mục Sổ Tay Văn Học được độc giả các nơi tiếp nhận như thế nào, tôi không được rõ, nhưng với các bạn trẻ  ở bên Đông Âu thì sau mỗi kỳ báo, tôi đều  được nghe những tín hiệu phản hồi. Một vài kỳ của  Sổ Tay đã được photo copy để gửi tay mang về trong nước, có lần có bạn nồng nhiệt hơn, còn gọi điện thoại thẳng về V.N đọc cho người trong cuộc nghe một vài trích đoạn ( ông Trần Đăng Khoa chắc rõ chuyện này).

            Phải nêu vấn đề như vậy để độc giả hiểu rõ sự lúng túng của người viết khi bị các bạn ở xa nước Mỹ chất vấn về chuyện có hay không có tự do sáng tác? Âm thanh chát chúa nghe trong điện thoại vẫn còn như vang vang trong đầu:

            - Anh nói làm sao ấy chứ, sống ở Mỹ mà lại không có tự do! Khi hỏi đến anh thì anh lại né, lấy cớ là nói  không được!

            Ui cha, vấn đề như thế mà gay go đây. Không lẽ lại bao cho anh bạn trẻ tiền vé máy bay qua đây sống chừng vài tháng, một năm để anh có cơ hội tiếp xúc với thực tế, chứ giải thích vài lời qua điện thoại thì làm sao mà giải quyết nổi cái thắc mắc vô cùng chính đáng đó.

            Thôi thì, nếu tôi nói không được thì cũng may đã có người khác nói. Bài viết này vì thế xin trích một vài đoạn văn của những người trong ngành, coi như một lời phúc đáp riêng đối với  các bạn trẻ bên Đông Âu mà một trong những anh em này đã nói với tôi qua điện thoại : “ Đọc xong số báo tuần rồi, chúng em rất buồn. Chúng em không thể nghĩ được rằng ở xứ  Mỹ mà các anh lại không có tự do cầm bút !”.
Người đầu tiên tôi muốn nhắc đến là nhà văn Hoàng Khởi Phong, một ngòi bút vẫn gợi lại trong tôi nhiều cảm kích khi anh đã nhận lời viết tựa cho một  cuốn sách của tôi vào giữa thời kỳ tôi đang gặp khó khăn nhất.

            Đó là thời kỳ của những năm 1987,88, 89 khi tôi cho in một loạt những truyện ngắn như Người tù cuối năm, Chuyện bên lề, Những sự thực cần được nói ra, Cánh cửa, Gặp gỡ ngày cuối năm.... Trong suốt hơn ba năm ròng rã, đã có biết bao nhiêu bài báo nổi lên phê phán kịch liệt quan điểm sáng tác của tôi trong những truyện này, đặc biệt là truyện Gặp gỡ ngày cuối năm, đó là không kể tới rất nhiều bài báo viết lách một cách thấp kém, không đáng coi là của giới cầm bút.

Khi tôi gom một số truyện ngắn lại để in chung trong một tập lấy tên là Cánh Cửa, thì nhà văn Hoàng Khởi Phong đã  nhận lời viết Tựa cho tác phẩm này. Đối với tôi, đây vừa là một nhã ý vừa là một hành vi dũng cảm của Hoàng Khởi Phong mà tôi không bao giờ quên được, mặc dù ông đã từng là một Đại uý trong QLVNCH, một con tem cần thiết, theo lối suy nghĩ của tôi, để dán lên mỗi bài viết vào thời kỳ đó. Xin trích vài đoạn trong bài Tựa này :
            “Viết với ông bây giờ chính là khơi động tiếng lòng của ông để gửi tới những tiếng lòng khác, kêu gọi sự đoàn kết, chống sự chia rẽ, kêu gọi lòng nhân ái chống lại bạo lực, mở một hướng suy nghĩ mới chống lại sự trì trệ, bế tắc, hiện đang là những tảng đá trong lòng mỗi người. Do đó truyện của ông bây giờ trước hết nó là những suy nghĩ đầy ắp chính trị, và ông đã thể hiện những suy nghĩ này dưới dạng thức truyện ngắn, truyện dài bởi ông hiểu được cái lợi khí của văn chương dễ truyền đạt đến lòng người hơn là những tuyên cáo, tuyên ngôn, truyền đơn là những bản văn chỉ có thể khích động nhất thời rồi tan biến đi trong những đống quảng cáo thương mại. Đó cũng là nhược điểm duy nhất trong những tác phẩm gần đây của ông, bởi vì ông đã không còn đến với văn chương thuần vì văn chương nữa. Bởi lẽ chính trị, một nhu cầu bức thiết nhất đã len vào chẳng những là văn chương mà mọi chốn mọi nơi, từ nơi tôn nghiêm thờ phượng, tới nơi buôn bán lọc lừa.”
....................    Nơi xứ người ông chìm đắm trong cuộc sống cuồng nộ và gậm  nhấm nỗi cô đơn của ông nhưng ông không bao giờ thấm mệt dẫu cho tiếng gào thét ông nhiều lần đã chìm trong những tiếng la ó hỗn loạn của những con người hoặc quay lưng với quá khứ phủ nhận mọi cái cũ để hội nhập với vùng đất mới hay tệ hại hơn nữa là những con người ôm khư khư lấy quá khứ dẫu quá khứ là một đống bầy nhầy những đố kỵ lọc lừa, giả trá, chia rẽ và thù hận. Ông khác người ở chỗ chiêm nghiệm quá khứ để làm lại cho tương lai, ông cố đặt một vài viên gạch cho căn nhà mới trong lúc mọi người hoặc là quay lưng lại với ngôi nhà ngút khói chiến tranh, hoặc là tranh giành, đánh lộn nhau để giành được cái chủ quyền trong lúc ở xa căn nhà vẫn mịt mờ khói lửa. Do đó, trước kia tôi yêu văn chương ông qua Thềm Hoang, Chim Hót Trong Lồng và giờ đây tôi kính trọng thái độ, nhân cách ông qua “Cánh Cửa”, qua “Mồ Hôi Của Đá” dầu những tác phẩm này toàn vẹn về cái nhìn trước những đổi thay quá nhanh, quá lớn, quá bất ngờ và đôi lúc làm phiền ông bởi những tấm lòng đá tảng nghìn cân đang giành chủ quyền của căn nhà bốc cháy, và khôi hài hơn nữa đang áp đặt những suy nghĩ cũ kỹ già nua từ một thế kỷ cũ, đang phùng má trợn mắt bắt những nhà văn phải viết thế này, phải viết thế nọ, đang ở thật xa chỗ lửa cháy rát mặt người và ra tuyên cáo, tuyên ngôn, đang chỉ trích, đang hội họp... đang phân chia chức vụ... đang thành lập chính phủ... lưu vong.
            Nếu “Thềm Hoang” là tác phẩm xác định vị trí của Nhật Tiến trên diễn đàn văn chương thì “Mồ Hôi Của Đá” là tác phẩm xác định vị trí của ông trước những thay đổi của thời đại. Ông là người tiên phong muốn xóa bỏ lằn ranh Quốc Cộng bởi vì quốc hay cộng trước tiên hết cũng là Người Việt, đều là nạn nhân của một ý thức hệ sai lầm từ bản chất, đã tạo nên một guồng máy cai trị phi dân tộc, cực kỳ phản động và cực kỳ dối trá. Cùng với mọi người, Nhật Tiến nhìn được một điều: không phải chỉ có miền Nam và những người thua trận là nạn nhân, mà chính họ, những kẻ đóng góp máu xương cho biến cố 75, chính họ: những người Cộng sản cũng là những nạn nhân của chiến thắng, nhưng chỉ có Nhật Tiến dám nói lên ước mơ một tập họp mới suốt từ Bắc tới Nam bất cứ ai ý thức được cái quyền làm người của mình, ý thức được cái thân phận còn thua cả những nông nô của thời trung cổ, ý thức được bạo lực và dối trá không thể nào ngự trị mãi trên đất nước ta, nơi mà tiền nhân ta đã lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo, nơi mà một thế kỷ trước cha ông ta đã dùng gậy tầm vông cùng với vũ khí là trái tim quả cảm lao vào súng giặc, để đòi cho được nền tự chủ của dân tộc chứ không phải để giành chỗ cho một tập đoàn cai trị bạo lực hơn, bóc lột hơn, ngu xuẩn hơn, dối trá hơn, vô luân hơn đã đưa dân tộc ta trở lùi lại hàng thế kỷ so với nhân loại.
                        Để làm công việc này, Nhật Tiến không những đã can đảm đi ngược lại với mọi người nhất định tô đậm lằn ranh quốc cộng nhất định, cổ võ một trận chiến khác trong lúc thực tế những người lưu vong như chúng ta không thể nào tạo được một sức mạnh quân sự, và trên lãnh vực chính trị, người Việt ở hải ngoại là một hình ảnh tiêu biểu của một bó đũa đã bị tách rời và rải rác khắp nơi, tôi muốn đề cập tới những người yêu nước thật sự và hoạt động chính trị thật sự chứ không đề cập tới những người hoạt động chính trị để thỏa mãn những mục đích khác.
                        Ba năm trước đây không một ai trong chúng ta dám nghĩ tới một Đông âu như hiện tại, một bức tường ở Bá linh bị phá hủy, một chủ tịch Ceausescu bị xử tử, thế mà mọi việc xảy ra dồn dập như sóng vỗ bờ. Do đó gần ba năm trước đây Mồ Hôi Của Đá khi xuất hiện, lập tức ông là đề tài cho một số những ngòi bút khác công kích, ông trả lời cho những công kích này bằng một truyện ngắn “Gặp Gỡ Ngày Cuối Năm” và liền sau đó là những bài viết có tính cách mạ lỵ, chụp mũ và những dư luận không tốt vây bủa quanh ông. Đã đến lúc nhà văn phải đi suốt qua những hệ lụy này. Đã đến lúc những nhà văn phải gióng lên những tiếng kêu cứu đích thực, những suy nghĩ cần thiết đến số phận đất nước.
                        Đã đến lúc những nhà văn phải nói lên những tiếng nói chân thực, phải lắng nghe những ước mơ của quần chúng và ghi lại, khuếch đại những ước mơ thầm lặng này. Do đó đối với tôi, Nhật Tiến là một nhà văn can đảm, ông lặng lẽ lên đường, là bỏ ngoài tai những công kích ác ý, và can đảm nhất là ông dám hy sinh cả phần văn chương của một nhà văn để nói lên những suy nghĩ, những mơ ước của ông trong tương lai đất nước.
........................................
                                                                            Hoàng Khởi Phong
           (Tựa cuốn Cánh Cửa, tập truyện của Nhật Tiến
do Thời Văn xuất bản-1990)

            Xin cám ơn nhà văn Hoàng Khởi Phong về sự hỗ trợ tinh thần kể trên trong thời kỳ khó khăn ấy.
               ****
Tôi muốn trích dẫn thêm một bài của người viết thứ hai , nhà văn nữ Ngọc Anh trong tác phẩm mà  bà vừa cho ấn hành gần đây. Số là, cách đây vài năm, nhà văn Ngọc Anh  thuộc Trung Tâm Văn Bút Nam Cali đảm nhận trách nhiệm sưu tập bài vở của các ngòi bút đã từng góp phần trong siunh hoạt sáng tác trong 25 năm tại hải ngoại để ấn hành một tuyển tập do Văn Bút Nam Cali thực hiện. Vốn cũng là một hội viên cũ, tôi được Ngọc Anh ngỏ lời mời tham dự vào tuyển tập này. Tôi sốt sắng nhận lời ngay và trao cho Ngọc Anh một truyện ngắn vô thưởng vô phạt đã in trên nhiều báo trước đó, truyện Bông Hồng Nào Cho Mẹ.
         
  
Nhưng tôi, cũng như Ngọc Anh đã không nghĩ rằng dù ngay đến cả Hội Văn Bút V.N Hải Ngoại, vào thời điểm đó, cũng có chủ trương xâm phạm vào tự do của người cầm bút. Ban Chấp hành Văn Bút khi đó, không phải là tất cả mọi người, nhưng hẳn cũng là đa số nên mới có đủ số phiếu quyết định để gạch tên tôi ra khỏi tuyển tập này.                  

Tôi suy nghĩ như thế vì tôi không thể tưởng tượng được cái tình cảnh chỉ một mình ông Viên Linh lại có thể có khuynh loát được cả một Ban Chấp hành. Còn nếu sự thực xẩy ra đúng như nhà văn Ngọc Anh đã viết dưới đây thì ....thật là quá thảm! Nhà văn Ngọc Anh có vẻ rất áy náy vì chính bà là người đã đề nghị in một truyện của tôi. Cho tới mãi gần đây bà mới có dịp công khai biện bạch bằng một bài viết in ở chương sau cùng của tập truyện“ Thương Tiếc” của chính bà, vừa xuất bản.
            Xin trích lại vài đoạn để bạn đọc hiểu thêm sự việc và nhân thể, trả lời thêm cho những thắc mắc của các bạn trẻ bên Đông Âu.
                    ******


                                                          (còn nữa)

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

BÁC BA PHI ĐI THĂM MỸ ( KỲ 66 )



                                    (tiếp theo)



Ông hoạ sĩ Tụng bật cười :

“ Ông này lại ăn quả lừa nữa rồi. Khối ông về Việt Nam bỏ vợ , rước bồ  nhí sang đây , ở được vài năm  nó kiếm được anh trẻ hơn, giàu hơn thế là nó đá cái rụp. Anh chồng tỉnh ra thì đã mất vợ, mất cả nhà.Hoá ra chẳng phải mấy bác H.O phản đối chuyện về Việt Nam mà chính mấy cô sợ chồng về rồi mất chồng luôn...”

Bác Ba Phi gật gật :

“ Hèn chi tôi ghé chỗ đại lý vé mày bay, các cô nhìn tôi đi có một mình, cô nào mặt cũng như cái tủ lạnh...”

Ông hoạ sĩ Tụng chăm chú nhìn bác Ba Phi rồi vui vẻ :

“ Bác chịu khó ngồi tôi vẽ bức chân dung nhé !”

Bác Ba Phi kinh ngạc :

“ Vẽ tôi...tôi có đẹp gì đâu mà vẽ ?”

Ông hoạ sĩ Tụng giải thích :

“ Không cứ gì phải vẽ người đẹp. Từ lâu tôi định vẽ chân dung “ông già Nam bộ” mà tìm chưa ra ...”

Bác Ba Phi kêu lên :

“ Vẽ ông già Nam Bộ thiếu gì ?”

Ông hoạ sĩ Tụng lắc đầu :

“ Không ...ông già thì không thiếu ...nhưng ông già còn giữ được  chất Nam bộ mới  thật hiếm ...”

“ Chất Nam Bộ là chất gì ?’

Ông hoạ sĩ Tụng than  vãn :

“ Khó nói lắm..giống như ông già trong vở cải lương “Dạ cổ hoài lang” hoặc như ông già Văn Thiên Tường đó...”

Bác Ba Phi chối đây đẩy :

“ Cái đó tôi không dám đâu...cái đó chỉ người  xưa mới có thôi...”

Ông bác sĩ Tụng gật đầu :

“ Bác nói đúng , ông già Nam Bộ thời xưa ai cũng “trọng nghiã khinh tài”, tính cách ngang tàng chứ chả như bây giờ suốt ngày say xỉn, nói năng như thằng sảng. Chán lắm...”

Bác Ba Phi thắc mắc :

“ Tôi cũng vậy có thua gì đâu ?”

“ Không không, có thể bác vẫn nhậu nhẹt nhưng bác khác họ...khác thế nào thì tôi chịu, tôi chỉ cảm thấy nó để mà..vẽ thôi...”

Bác Ba Phi  hy vọng nhờ ông hoạ sĩ này bán được bức tranh bác vẽ nguệch ngoạc mà giá những 3000 đôla nên vui vẻ nhận lời :

“ Vậy tôi có  phải thay đồ không ? Ông vẽ tôi ngồi hay đứng ?”

Ông hoạ sĩ nghĩ một hồi mới trả lời :

“ Hôm nay bác về nghỉ rồi báo cô Út biết tôi giữ bác mấy hôm ở bên này. Sáng mai tôi tới đón bác sang đây bắt đầu vẽ...”

Tối hôm đó bác Ba Phi hí hửng khoe  cô Út :

“ Hôm nay tía chỉ ngoáy ngoáy cái tay là có ngay 3000 đôla ...”

Cô Út ngạc nhiên trợn tròn cả mắt :

“ Oh My God...tía làm gì mà ngoáy tay có tiền...tất nhiên là không móc túi thiên hạ chứ ?”

Bác ba Phi nổi giận :

“ Chị nghĩ tía chị thế nào mà phải đi móc túi ?”

Cô Út vội vàng dàn hoà :

“ Không không là con nói ví dụ thôi. Chứ tía sao mà đi móc túi ai ?”

Bác Ba Phi hãnh diện :

“ Đúng rồi...tía mày “trọng nghĩa khinh tài” , có cho thiên hạ thì có chớ không bao giờ lấy của ai  đồng xu cắc bạc nào hết...”

Cô Út gật đầu :

“ Chuyện đó con tin tía rồi nhưng con hỏi tía làm gì mà chỉ ngoắc tay  đã có những 3000 đôla ...”

Bác Ba Phi vênh mặt :

“ Tao vẽ chứ còn làm gì ?”

Cô Út muốn nhảy lên vì kinh ngạc :

“ Tía vẽ ? Tía vẽ được 3000 USD. Tía có mơ ngủ không đấy ?”

“ Con nhỏ này kỳ nhỉ ? Bộ không tin vào khả năng tía sao ?”

Cô Út bật cười :

“ Giá tía cấy lúa một vụ thu hoạch được  3000 đô la con còn nghe được , chứ  tía cầm cọ vẽ nghe đã khó tin rồi, lại vẽ được bức tranh bán được những 3000 đô la thì thật ngang chuyện ông Hai Lúa ở quê mình tậu máy bay ...”

“ Ấy thế mà Hai Lúa không những tậu máy bay mà còn chế tạo được cả máy bay trực thăng nữa kìa ...”

“ Chuyện viễn tưởng hả tía ?”

Bác Ba Phi trợn mắt :

“ Chuyện thiệt đó chớ ? Cha này ở Tây Ninh chế tạo được máy bay lên thẳng bay được mấy trăm mét lận ...”

Cô Út cười ngặt nghẽo :

“ Oh My God...chế tạo máy bay mà chỉ bay được có mấy trăm mét thì chế tạo làm gì ?”

“ Thì chế tạo để lấy ...tinh thần, chứng tỏ người Việt đằng mình cũng thông minh sáng tạo lắm chớ bộ ?”

“ Tía ơi ...thế giới ngày nay người ta chỉ cần hàng hoá, sản phẩm thật tốt, giá thật hạ thôi , cần gì “chứng tỏ” với “tinh thần”...”

Bác Ba Phi đã có kinh nghiệm chớ tranh luận với đàn bà cho dù con gái mình, nên nói ngay sang chuyện khác :

“ Ông hoạ sĩ Tụng muốn vẽ chân dung tía nên từ sáng mai tía sang ở bên đó vài ngày...”

Cô Út chợt nhớ ra, bật cười :

“ Thế còn bức tranh tía mới vẽ trị giá những 3000 đô la đâu rồi  ?”

“ Sắp triển lãm rồi...khi nào triển lãm tía bảo ông hoạ sĩ gửi giấy mời con tới coi...”

Cô Út tròn mắt :

“ Lại cả triển lãm nữa kia à ? Nhưng có một bức sao mà triển lãm ?”

Bác Ba Phi ngẩn người :

“ ừa há..có mỗi một bức sao triển lãm được há...để mai tía hỏi lại ông hoạ sĩ Tùng...”

Cô Út cố nhịn cười để khỏi làm bác Ba Phi mất vui.

Sáng hôm sau, cô Út dậy sớm trang điểm cho bác Ba Phi làm “người mẫu vẽ” cho ông hoạ sĩ. Cô lấy keo xịt tóc trải đầu , lại kiếm cái cravate đẹp nhất của anh chồng Mỹ thắt cho bác rồi khoác lên bô comlê loại đắt tiền khiến nom bác như một business man chẳng có tí gì là nông dân Nam bộ. Cô Út khoái chí quá cười  rinh rich :

“ Oh My God … nom tiá “bô “ trai quá...cứ gọi là trẻ ra 20 tuổi...còn khối cô mê...”

Bác Ba Phi  phì cười :

“ Con nhỏ này trớt quớt...tía sắp thò cả hai chân vào mồ rồi còn bồ bịch gì ?”

Vừa lúc đó có tiếng xe hơi ông hoạ sĩ Tụng tới. Cô Út chưa kịp ra đón ông đã xăm xăm vào phòng. Vừa nhìn thấy bác Ba Phi ông đã la lối :

“ Oh My God...sao lại đóng bộ vậy ?”

Cô Út nhanh nhẩu :

“ Ấy ấy...trang điểm để hôm nay hoạ sĩ vẽ chân dung tía em mà ...”

Ộng hoạ sĩ cười ngất :

“ Oh My God..tôi vẽ là vẽ bác Ba Phi vẽ ông già Nam bộ chứ đâu phải vẽ ông thương gia  thế này. Thôi được rồi, cứ tới nhà tôi rồi ta sửa soạn lại...”

Cô Út giơ tay ngăn :

“ Khoan đã...không mấy khi nom tía bảnh vậy...để con chụp cho tía pô hình làm kỷ niệm chuyên đi Mỹ , gửi về cho vợ chồng thằng Đậu nó coi cho nó nhảy cà tưng lên ...”

Nói rồi cô Út chay vào phòng lấy ra cái máy hình chụp nhoay nhoáy. Cô bắt bác Ba Phi đứng ngồi đủ tư thế khiến ông hoạ sĩ Tụng cười  bò :

“ Thế này thì bác Ba Phi thành diễn viên cải lương của đoàn Minh Tơ chứ đâu còn ông già Nam bộ “dạ cổ hoài lang” nữa...”

Cô Út chụp xong lại mở máy cho bác Ba Phi  coi thử :

“ Tiá coi nè...”bô” trai chưa ? Về Việt Nam còn khối cô theo...”

Bác Ba Phi nhìn thấy mình trong hình hoàn toàn khác, nom trẻ ra  như thanh niên, tóc tém trải ốp hết bù xù, ngăn nắp chứ chẳng rối bù sợi nọ sọ sợi kia, nên khoái chí lắm, bác đòi cô Út in ra mấy tấm để bác gửi  về cho vợ chồng thằng Đậu mang đi khoe lối xóm. Bác nói :

“ Chuyện tía đi Mỹ đã đồn ầm cả lối xóm vậy mà khối đứa không tin, có đứa đã tới tận nhà nói thẳng với vợ chồng thằng Đậu :

“ Đi Mỹ gì lâu dữ vậy ? Bộ ở lại luôn hả ? Hay là đi...Mỹ Tho dưới miệt Cà Mâu ?”

Vợ chồng thàng Đậu tức ói máu không biết nói sao ? Nay có hình chụp thắt cavát mặc còmlê đứng trong nhà cô Út vậy thì đúng là đi Mỹ thiệt rồi...”

Bác Ba Phi nói rồi cười ha hả làm ông hoạ sĩ và cả cô Út ngạc nhiên, nhấm nháy nhau coi như  mới phát hiện ở bác một nét gì đặc sắc lắm. Cô Út thấy bố khoái chí với bộ đồ lớn nên vui vẻ đề nghị :

“ Hay tía cứ mặc luôn bộ đồ này đi, cả cravate lẫn giày nữa, coi như anh Tommy tặng tía làm quà kỷ niệm chuyến tía đi Mỹ...”

Ông hoạ sĩ Tụng vội vàng :

“ Ấy ấy...chuyện  đó để sau, sáng nay bác cứ ăn mặc như mọi khi để tôi vẽ chân dung cái đã....”

Nói xong ông hoạ sĩ kéo thốc ngay bác Ba Phi lên xe, phóng vội về nhà ông. Trong lúc ông hoạ sĩ cất xe, bác Ba Phi để ý tìm bức tranh bác vẽ dự kiến bán được những 3000 đôla chẳng hiểu ông hoạ sĩ cất đâu . Bác lục tung cả đống tranh ông hoạ sĩ xếp trong góc phòng, lại mở cả chiéc rương lớn trong đó xếp toàn tranh là tranh mà cũng chẳng thấy bức đó đâu. Quái, hôm qua rõ ràng bác còn nhìn thấy ông hoạ sĩ dựng nó ở góc tường , không lẽ mang nó đi triển lãm rồi.

Ông hoạ sĩ cất xe vào gara, quay vào phòng hoảng hồn thấy bác Ba Phi đang lục tung đám tranh vốn sắp xếp rất ngăn nắp, phân loại theo thể loại  và đề tài . Lúc này tất cả bị đảo lộn, rối tinh xoè, mỗi bức mỗi nơi chẳng theo trật tự nào. Ông hoạ sĩ kinh hoàng, kêu lên :

 “ Chết tôi rồi...mất bao nhiêu công mới sắp xếp phân loại được, sao bác lục tung hết tranh của tôi vậy ?”

Bác Ba Phi trả lời tỉnh queo :

“ Tôi tìm bức tranh của tôi mà...”

Ông hoạ sĩ Tụng ngớ người :

“ Tranh của bác ? Tranh nào của bác ?”

Bác Ba Phi kêu to :

“ Tranh tôi...vẽ chứ còn tranh nào ? Tranh anh nói là sẽ bán được  3000 đô la đó...”

Ông hoạ sĩ gật thót người. Thôi bỏ mẹ, vạ miệng rồi, ông tính nói chơi , chọc quê bác Ba Phi cho vui, ngờ đâu bác lại tin thật mới chết cha. Bác Ba Phi nóng ruột hỏi dồn :

“ Sao ? Tranh của tôi anh xếp nó vào đâu rồi ?”

Ông hoạ sĩ cuống lên :

“ Tôi..tôi gửi nó đi gallery  rồi ?”

“ Ga-lơ-ri là ở đâu  ? Phải nhà triển lãm không ?”

Ông hoạ sĩ vội vàng :

“ Đúng đúng...nhà triển làm...nhà triển lãm...phải bày ở đó người ta mới tới ngắm nghía mà mua chớ ?”

Bác Ba Phi hể hả :

“ Vậy hôm nào anh chở tôi đến chỗ ga-lơ-ry đó coi tranh của tôi nha. Rồi mình còn so sánh nó với những bức khác nữa chớ. Phải rồi, phải so sánh với những bức tranh khác mới thấy hết giá trị của nó chớ...”

Ông hoạ sĩ Tụng thở hắt ra :

“ Đúng đúng...bác nói rất đúng, phải đặt nó so sánh với các bức tranh khác mới biết nó đẹp chừng nào...”



                                   (còn tiếp)