(tiếp theo)
Người con gái chẳng cần son phấn , cứ khoác súng lên vai là…đẹp
rồi. Và bác Mít trả lời “ người ông”:
“ Cháu dâu bác đó, bác ơi
Và người trai kia, thật cháu bác
Người thanh niên của Tổ Quốc
Súng trên vai sắp sửa lên đường…”
Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng
giải :
“ Nhưng bác ơi!Giặc Pháp đuổi rồi
Giặc Mỹ đến liền
Hai mươi năm đường đầy lang sói
Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”
Rồi như sợ “người ông”
chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể
lể :
“ Con nai gầy bên suối
Cành hoá héo giữa đồi
Lúa vàng đốt dưới ruộng
Nụ cười chết trên môi…
Ruột liền cắt đoạn
Giọt máu cắn đôi…”
Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng
héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười
cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên phứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng
với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác
vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan , Trúc đồng thanh :
“Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến
“ Gái “đảm đang” ở lại hậu phương
Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường
Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…”
“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu
có còn tiếc rẻ tuổi thanh niên nữa không ? Ông hỏi :
“ Dẫu mười năm xa cách
Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường ?”
Bác Mít trả lời ngay :
“ Vâng, đã nguyện xem thường
Dẫu ràng giữa tuổi yêu đương
“ Cốc rượu nồng bên môi mới bén
Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn
Sáng nay hoa tiễn , vẫn tươi cười…”
Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù
chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi
cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật “ như vậy thì…hết chỗ nói.
Lúc này “người mẹ” cũng
đã bước ra, bởi lẽ bà đang ngủ “ nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có
tiếng chân chao, ai thế nhỉ ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ
dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu
ao mới tỉnh dậy ra coi sao ? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả
mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường :
“ Mít
kia chẳng mai kia sẽ chín
Cũng muốn con ăn một miếng cho vui
Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”
Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn
mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như
ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy ? Viết lách như thế , trách gì
thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam
kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này ?
“Bà mẹ” đã “cách mạng “ tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông
nhà thơ trách móc :
“Sao không học gương mẹ già thuở trước
Cũng thức suốt đêm thâu
Nhưng để may cờ cứu nước
Kịp cho con gà gáy lên đường…”
Chẳng hiểu có “cái thuở nào “ lại có bà mẹ “quái thai” đến thế,
sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ ?
Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất
hỡi vậy.
Rồi cũng tới cảnh “ chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ.
“Người con trai” và “người con gái” ngồi
xuống một tảng đá. Oi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải
hoà chung thống khổ, ngờ đâu cô gái mở
miệng :
“Anh ra đi mẹ có dặn gì
?’
Chàng trai phấn khởi :
“Mẹ cười, mẹ bảo
Việc nước con cứ đi
Việc hợp tác, việc nhà
Có tao có nó…”
Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả
kịch bản bắt đôi uyên ương sắp rời cánh
…ca bài sản xuất và chiến đấu . Cô gái nức nở :
“Nhớ anh em mở một đường cày
xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng
… Em đi đón dòng “cá bột”
Mang giống về chọn
lọc em ươm
Một năm anh về, hai năm anh về
Mười năm anh về, cá
lớp lớp sinh sôi
Nhớ anh thế đó, anh ơi…”
Chàng trai cũng sụt sùi :
“Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi
Khó khăn nào anh không vượt nổi ?
Nhớ lời Bác dậy ?
Nghìn sông anh cũng lội
Vạn đèo anh cũng băng…”
Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn
anh trai tặng gì ? Cô gái đoán … cuốn
sách dạy trồng dâu ? Không phải . Thôi
đúng hạt giống rau rồi ? Cũng không phải, cô lại đoán :
“Phải rồi , anh cho em chiếc lược
Bằng thép mỏng máy bay?”
Anh con trai nổi tự ái :
“ nếu là chiếc lược em ơi
Thì hãy đợi một ngày
Khi tự tay anh hạ lấy
“ Con “thần sấm” giữa trời
Và tự tay anh chuốt thành lược…’
Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay
Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm
sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn
có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm…lược. Khi cô gái
chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra
là…chiếc gương . Đã vậy còn dặn dò :
“ Những khi cày xong một buổi
“ Em ra gốc muỗm em ngồi
Em lấy gương đẹp ra soi
“ Trận đấu chiều đã
vãn
Em lấy gương đẹp ra soi
Em gỡ những vết bùn trên tóc…”
Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ
dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền
văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ay thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng
gương” vậy, cô gái vẫn vui vẻ :
“ Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho
tròn nhiệm vụ
Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”
Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,
Đường chiến đấu , dài lâu gian khổ…”
Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông “ vốn là chiến sĩ
Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi
:
“
Thậm chi ( không có dấu) là khoái
trá
Con trai con gái bây giờ
Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”
… là đưa nhau tới…phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra
sa trường , để hoàn chỉnh “ bức tranh
gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố
nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng
:
“ Ta người chiến sĩ Điện Biên,
Về đây, thăm vườn cũ
Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”
Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã
mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể :
“ Ôi chiếc ba lô ngày cũ
Giữa chiến trường Điện Biên Phủ
Còn nguyên đây : dấu đạn giặc xuyên qua
Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng ta…”
Và khoe với người ông :
“ Cha hãy trông đây
Chiếc ca bác Hồ gửi tặng
Còn nguyên hai chữ Điện Biên…
Con qua cháu lại
Lớp lớp tay chuyền…”
Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm
ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm
chăm chuyện “đánh giặc” :
“ Lòng con bao xiết tự hào
Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao
Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”
Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu lùi lại ngót chục năm
nữa, nhất định ông nhà thơ đưa thêm
‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh …giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn
phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy
chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu . Người cha
khoe :
“ Vâng, giữa chiến trường con đã ngã
Vết đạn đã xuyên mình
Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh
Đã ra đời một hành tinh mới…”
“Thế hệ cha” ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt
hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe
thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình :
NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái) :
Con ơi thuở cha đứng lên
Cũng trời nghiêng, đất ngả
Oanh oanh liệt liệt một trường
Mật nào chẳng nếm , gai nào chẳng nằm
Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”
Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo
hai cha con :
“Chị em “bầy tui” : Mận,
Đào, Xoan, Trúc
Lại xin nghiêng đầu trước
đầu bạc Vụ Quang
Mười năm gian khổ kiên
cường…”
(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên )
“ và trước người chiến sĩ
Điện Biên anh dũng
Chị em ‘bầy tui” xin thân
mến cúi chào:
Một trận long trời dậy
sóng năm châu
Thực dân quen thói đè đầu
Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”
Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “ chống quân ngoại
xâm “ đều tầm cỡ “long trời lở đất cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng,
khỏi tranh cãi ai hơn ai. “
(còn tiếp)