Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

HẺM "BUÔN" CHUYỆN (KỲ 39) - Cầm quyền hay cầm tiền ?



                  


Mấy hôm nay, chiều Sàigòn mát mẻ như sang thu, cứ khoảng 6 giờ , quán cà phê lại coi phim nhiều tập "Xin lỗi tình yêu" xếp kho mấy năm nay giờ chiếu lại, người có học chẳng mấy ai coi, nhưng giới bình dân lại ham . Trước là thà coi trai gái nhí nhố còn hơn ba cái phim "chủ nghĩa anh hùng cách mạng" từ thời "chống Mỹ cứu nước" .  Sau nữa coi miễn phí chân dài trình diễn hàng hiệu tội gì bỏ qua.
Chiều nay “xin lỗi tình yêu “ chiếu cô nữ thư ký Đan Thanh mặt ủ màu chau vì trót yêu anh Giám đốc có vợ nên tâm trạng "hoàn cảnh" lắm.
Để thể hiện nỗi niềm day dứt cướp chồng người , cô diễn viên Quách An An chẳng biết "diễn" sao, đành nói ra miệng với anh Giám đốc :
" Anh có biết em đang bị "giằng xé lắm" không ?"                                                                         
 Cả quán cười ồ. Cô Phượng  cave la lên :
" í mèn ôi... cô này khôn quá ta. Từ nay diễn cảnh khóc lóc mà không dặn ra được giọt nước mắt nào thì cứ nói "anh có biết rằng em đang khóc đây không " là khán giả hiểu cô đang  khóc rồi ."
Thằng Bảy xe ôm chen ngang :
" Đố  biết ngoài cô Quách An An còn ai lên tivi xin lỗi không ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố  :
“ Thằng Bảy xe ôm hỏi đểu. Có ông Nguyễn Phú Trọng cũng lên tivi xin lỗi nhưng không phải xin lỗi tình yêu mà xin lỗi đảng.  Ổng nhận lỗi trước Ban Chấp hành Trung ương về những yếu kém, những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy không nói “ đang bị giằng xé lắm đây” nhưng ông khóc nghẹn ngào…hứt hứt…hứt hứt…”
Cả quán cười ầm ầm. Tan cơn cười , ông Tư Gà Nướng lên tiếng :
“ Lên tivi xin lỗi còn có ông Nguyễn Tấn Dũng thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ …Nhưng mặt ông vẫn vênh vênh, nom không có vẻ gì là “đang bị giằng xé lắm đây” như cô Quách An An với ông Nguyễn Phú Trọng”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Tầm bậy, sao ông Tư Gà nướng dám ví cô Quách An An ngang với đồng chí Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng là sao ?”
Cô Phượng cave cười ngỏn nghẻn :
“ Vậy chú Ba không biết, ở các nước văn minh người ta đón ngôi sao điện ảnh còn long trọng, nồng nhiệt hơn cả đón Tổng Thống nữa kìa. Mà ông Tổng Bí thơ đâu phải Tổng Thống ?”
Ông đại tá hưu trợn mắt :
“ Ơ cái con cave này lạc hậu. Vậy mày không biết đang sống ở đâu hả ?”
Cô Phượng cave vênh mặt :
“ Sao không biết …đang ở Sàigòn chứ đâu ?”
Ông đại tá hưu hỏi vặn :
“ Thế mày có biết Sàigòn thuộc nước nào không ?”
Thằng Bảy xe ôm chen ngang cười hô hố :
“ Nước Việt Nam chứ nước nào ? Bộ chú Ba đãng trí hả ?”
Ông đại tá hưu quát :
“ Tao không đãng trí. Tao vẫn sáng suốt, tỉnh táo. Bởi vậy tao mới nói rõ Sàigòn thuộc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam …”
Cô Phượng cave vênh mặt :
“ Vậy thì sao ?”
Ông đại tá hưu cao giọng :
“ Vậy tức là mày đang sống trên đất nước có đảng cầm quyền. Bởi vậy Tổng Thống tức là Tổng Bí thơ đấy nghe chưa ?”
Chị Gái hú tíu thắc mắc :
“ Cầm quyền là cầm sao hả chú Ba ?”
Thằng Bảy xe ôm nhanh nhẩu :
“ Cầm quyền tức là cầm tiền đó…”
Ông đại tá hưu đạp bàn quát :
“ Thằng  bố láo , người ta nói “đảng ta là đảng cầm quyền” chứ ai nói “đảng cầm tiền “ bao giờ ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hì hì :
“ Thì bây giờ người ta bảo có quyền là có tiền. Vậy cầm quyền cũng là cầm tiền chứ gì ?”
Cả quán cười ồ. Riêng ông đại tá hưu mặt hầm hầm.

24-11-2011



Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

YÊU THỜI ...ĐỒ ĐỂU ( KỲ 12)


                                 
                                          (tiếp theo)

Má mì trợn mắt, thằng nhóc mọi khi vẫn đưa các quan tới rồi đánh xe tấp đâu đó, đúng giờ quan hẹn mới quay lại, giờ đòi trèo lên mâm sếp vẫn ngồi. Loạn cả nước rồi sao ? Thằng Bảy thấy má mì  ngập ngừng lại tưởng má lo nó không tiền, bèn rút ra xấp bạc lớn bà phu nhân “bo”sau mỗi buổi nó truyền “nhân điện”. Má mì thấy tập tiền, xanh cả mắt, mừng quớ :
        “ Oi má ôi, anh Bảy mới trúng số ? Vào đây, vào đây, con Trinh, con Tuyết, con Hồng đâu ? Chuẩn bị phòng karaoke máy lạnh, bảo nhà bếp sửa soạn cua hấp bia và thùng Heineken …”
     Thằng Bảy khoát tay :
      “ Khỏi cua hấp bia, khỏi Heineken, kêu kí tôm càng nướng và  chai Hennessy được rồi…”
     Đó là nó học cách kêu đồ nhậu của sếp trong những lần nó đưa sếp tới. Má mì rụng rời chân tay, luống cuống chạy xuống bếp tuột cả dép. Thoáng cái, thằng Bảy đã ngồi giữa 3 em gái xinh như mộng, em đập khăn lau mặt , em rót rượu, em  loay hoay cái micro.
     “ Chọn nhạc đi anh Bảy…”
   Em xưng tên Tuyết đưa cho nó cuốn “Danh mục các bài hát”   mới liếc qua, đã mờ cả mắt. Nào chữ ta, chữ tây, chữ tàu…làm thằng Bảy bấn cả lên, văng tục :
      “ Thôi thôi hát làm đéo gì, cái đó giành cho mấy cha già, mình cứ vừa lai rai vừa hát bằng…tay chả vui hơn ư ?”
        Ba em OK liền, vỗ tay đôm đốp khen anh Bảy tuổi nhỏ tài cao. Oi chao, bữa đó mới biết trên đời ngoài bà phu nhân còn biết bao cái “lò lửa” khác, mà lại hàng thùng, hàng chưa khui chứ không phải hàng bãi rác, hàng “luộc” lại . Giả tỷ như bà phu nhân là Cub 78, nòng đã xoáy tới cốt 6, thì mấy em  Hồng, em Tuyết, em Trinh đây phải là Spâyxì, A còng…nòng zin, nguyên đai, nguyên kiện. Nó ví von cụ thể vậy rồi bầy đủ trò bà phu nhân dậy nó với cả 3 em,lại học theo phim “con heo” ông Chủ tịch vẫn lén sai nó đi Sàigòn tậu về coi những đêm vợ vắng. Từ hôm đó , bao nhiêu tiền bà phu nhân rót cho, nó đổ vào quán má mì . Có lần hết tiền, nó ngửa tay xin khiến bà phu nhân phải kinh ngạc :
“ Ô kìa, mới đưa mình  5 triệu bữa trước, sao đã hết …”
 Nó vùng vằng giận dỗi khiến bà phải ôm lấy nó vuốt ve :
“ Thôi mà, đừng giận nữa mà, còn 3 triệu đây, mình cứ tiêu đi, hết tôi lại đưa…”.
 Nhét tập tiền vào túi nó, bà phu nhân thấy lòng xốn xang, gớm gớm, mới đó đã hờn lẫy, mà khi đó sao cái mặt cậu nom thương thế, thương thế. Nghĩ rồi bà kéo nó lên giường, bắt nó làm bà cười rinh rích mới thôi.
Nhưng sáng hôm nay, sau khi kiểm kê khắp mình mẩy thằng Bảy, bà phu nhân sầm mặt :
“ Mình mới ngủ với con nào phải không ?”
 Thằng Bảy giật bắn , chối đây đẩy :
“ Làm gì có con nào, phục vụ “người nhà” đã hết hơi …”
 Hai chữ “người nhà” làm bà dịu giọng :
“ Sao mình có cái mùi…cái mùi lạ lắm…”
Thằng Bẩy nhói tim, thôi chết, tối qua “quậy” tới bến quán má mì, mãi khuya mới mò về chẳng kịp tắm rửa, cứ thế lăn ra ngủ. Bà phu nhân cáo già, phát hiện đúng đâu có oan. Nó giả vờ nổi giận :
“ Tưởng gọi về chuyện gì, hoá chuyện đó ? Thôi tôi đi Uỷ ban chờ đón ông Chủ tịch…”
 Nhìn cái mặt hầm hầm, bà Chủ tịch vội vàng :
“ Đâu có, đâu có, chẳng qua  nhớ mình quá mà, nhớ quá…nhớ quá…”
Vừa nói bà vừa kéo nó vào lòng hôn hít rối rít. Gớm lắm nữa, thằng Bảy nhắm ngay mắt lại. Oi cái Cub 78 cốt 6 sao chán thế, chẳng bù cho lúc vi vu toàn những Spâyxì với A còng. Nó chỉ dám nghĩ vậy thôi, dấu nhẹm chuyện ba em gái quán má mì . Điều đó làm thằng Bẩy cứ ngây tượng gỗ, chẳng còn nồng nhiệt như cái thủa ban đầu làm phu nhân  đẩy nó ra, la lên :
“ Sao vậy ? Mình sao vậy?”
“ Có sao đâu ?”
“ Bữa nay tôi thấy mình lạ lắm, cứ ngơ ngơ …”
Nó đành phải làm mặt buồn xo :
“ Tại mấy bữa rày lái xe cho ông Chủ tịch mệt quá …”
Thấy nó ảo não , bà lại thương, tha cho nhưng lúc nhét tiền vào tay nó, bà vẫn  căn dặn :
“ Mình nhớ nha, cấm có loạng quạng với con nào để “ếch” nó “vồ” rồi đổ bệnh sang tôi thì tôi…chặt…”
Nói rồi bà làm động tác sởn gai ốc. Con mẻ này nói là làm thiệt  chứ chẳng giỡn. Ôi chao ôi, bả mà biết chuyện em Trinh, em Tuyết , em Hồng thì nát đời hoa. Từ nay phải tìm chỗ khác, chớ tới đó , bả cũng có mạng lưới tình báo chẳng thua gì ông Chủ tịch tỉnh . Ong điều tra bà, bà điều tra ông, nay cả ông lẫn bà điều tra thằng lái xe thì nó chết cái một.
Bà phu nhân bịn rịn chưa cho nó rời ra, điện thoại di động trong túi nó đã réo ầm ĩ. Nó giơ tay ra hiệu rồi nói vào máy :
“ Dạ thưa chú con đây…”
 Tiếng ông Chủ tịch tỉnh oai vệ :
“ Mày  đâu vậy Bảy…”
 “ Dạ dạ…con đang chỗ rửa xe , vừa xong, con tới đón chú liền ạ…”
“ Khỏi khỏi, mày đánh xe về rước bà lên Sàigòn mua mấy chai rượu tây và đồ nhậu tối nay tao tiếp khách …”
    “ Dạ vâng vâng, con đi liền …”
 Nó tắt máy , buồn xo, vậy là cả ngày nay phục dịch con mẻ, vừa đi mua đồ vừa làm chuyện đó. Điện thoại đầu giường bà phu nhân cũng réo rắt. Bà bắc máy nghe, mặt bà vụt tươi rói,ríu rít :
“ Được rồi, được rồi, hai chai Giô-ni 50 tuổi, loại tem đen, kêu thằng Bảy sở thú sửa soạn 20 cc mật gấu,một cái tay gấu với một con rắn hổ hành. Nhớ rồi, nhớ rồi, yên trí em đi liền, về liền…”
Bà đặt điện thoại xuống ôm chầm lấy thằng lái xe, cười rinh rích :
“ Thế là cả ngày nay mình phải đưa tôi lên Sàigòn rồi. Mua bán loáng cái xong mình lại về chỗ đó nha…”
Thằng Bảy hiểu ngay chỗ đó là mini hotel khuất sau lùm cây bên sông Sàigòn vắng vẻ…
Hôm đó bà phu nhân đảo vào siêu thị mua qua quít vài chai rượu tây rồi bắt thằng Bảy đánh xe đưa về chỗ đó luyện “nhân điện”. Khốn nạn thân nó, đêm trước chạy “xe  Spâyxì” chán chê , lại cả buổi sáng “săn sóc Cub 78” , nên đến chiều xong việc truyền  “nhân điện” cho bà là nó lăn ra ngủ như thằng chết rồi. Bà vợ Chủ tịch cũng chẳng hơn, thượt ra như con gà mái rù, quên hết chồng dặn chuẩn bị mở tiệc tối  ông đãi khách, cũng lăn ra làm giấc tít cung thang.
Căn phòng im phắc, chỉ riêng điện thoại di động của thằng Bảy  thỉnh thoảng lại réo ầm ĩ. Ong Chủ tịch gọi . Lúc này trời đã nhá nhem  tối, ông về tư dinh mà cả vợ lẫn lái xe đi đâu mất tiêu . Ong bừng bừng nổi giận, đi đi lại lại trong phòng như con cọp  dữ. May thay, lúc đó, cô tiểu thư đi đâu về cho ông trút giận không thì ông phát điên :
“ Thằng Bảy với bả đi đâu rồi ?”
“ Con đâu có biết ? Hình như má đi thành phố mua đồ …”
  “ Mua bán gì giờ chưa về ? Khách sắp tới rồi, lấy gì đãi…”
“ Lo gì, để con điện nhà hàng mang đồ tới, kiểu này chắc xe hư quá…”
 “ Xe hư phải gọi điện báo chớ ? Sao ba gọi hoài, chuông đổ liên tục  không thấy thằng Bảy đâu ?”
Lập tức ông quay điện cho “chú Ba” GĐ công an tỉnh cho lính đi Saigon hỏi cảnh sát giao thông coi xe thằng Bảy tai nạn gì không ?  Bữa đãi khách hôm đó, ngoài mặt, ông Chủ tịch vẫn cười nói vui vẻ nhưng trong lòng lửa đốt. Khách về hết , bà Chủ tịch và thằng lái xe vẫn bặt vô âm tín. Bà bị tụi nó bắt cóc đòi tiền chuộc ? Xe tai nạn dọc đường ? Hàng chục khả năng diễn ra trong cái đầu nóng như lửa đốt . Chợt tiếng còi xe làm ông Chủ tịch chạy bổ ra sân. Không phải, không phải bà về mà là “chú Ba” Giám đốc CA tỉnh. Ong Chủ tịch vội vã :
“ Sao ? Bả đâu rồi ?”
 Chú Ba đưa mắt nhìn quanh rồi kéo ông Chủ tịch vào phòng riêng chốt cửa lại.
“ Em nói chuyện này, anh Hai phải bình tĩnh nghe nha…”
 Hoá ra “chú Ba” xứng đáng là tay mặt ông Giám đốc, bằng mạng lưới trinh sát , bằng đủ biện pháp nghiệp vụ, “chú” đã tìm tới nơi cần tìm . Rồi ông Giám đốc công an ghé tai ông Chủ tịch thì thầm. Nghe xong, ông Chủ tịch bỗng trợn ngược mắt, miệng há ra như lên cơn hen, vật vã như con nghiện đói thuốc.  Chú Ba vội đỡ ông xuống  giường, lên giọng an ủi :
 “ Bề nào chuyện cũng lỡ rồi , anh phải bình tĩnh, lộ ra mất uy tín lắm…”
Ong Chủ tịch rên hừ hừ :
“ Trời ơi, vợ chồng tình nghĩa bao năm, tao phải giết chúng nó, tao phải giết  …”

                  (còn tiếp)

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ( KỲ 95 )



                        (tiếp theo)

Người con gái chẳng cần son phấn , cứ khoác súng lên vai là…đẹp rồi. Và bác Mít trả lời “ người ông”:
          “ Cháu dâu bác đó, bác ơi
          Và người trai kia, thật cháu bác
          Người thanh niên của Tổ Quốc
          Súng trên vai sắp sửa lên đường…”
Rồi sợ “người ông” chưa hiểu lên đường đánh ai, bác Mít giảng giải :
          “ Nhưng bác ơi!Giặc Pháp đuổi rồi
          Giặc Mỹ đến liền
          Hai mươi năm đường đầy lang sói
          Hai mươi năm sông đỏ oán hờn…”
Rồi như  sợ “người ông” chưa thấu rõ “tội ác giặc Mỹ xâm lược”, mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc xúm vào kể lể :
          “ Con nai gầy bên suối
          Cành hoá héo giữa đồi
          Lúa vàng đốt dưới ruộng
          Nụ cười chết trên môi…
          Ruột liền cắt đoạn
          Giọt máu cắn đôi…”
Kinh khủng chưa, giặc Mỹ tới thì đến…con nai cũng gầy, hoa cũng héo, lúa cũng cháy và đến nụ cười  cũng…chết. Chỗ này ông nhà thơ quên phứt chủ nghĩa lạc quan cách mạng với hình tượng “nụ cười Võ thị Thắng” trước họng súng quân thù. Giặc giã độc ác vậy nên các cô Mận, Đào, Xoan , Trúc đồng thanh :
          “Trai “sẵn sàng” băng miền hoả tuyến
          “ Gái “đảm đang” ở lại hậu phương
          Vì Tổ Quốc, đi, ở, đôi đường
          Tuổi thanh niên đã nguyện xem thường…”
“Người ông” còn thắc mắc nếu chiến tranh kéo dài liệu con cháu có còn tiếc rẻ tuổi thanh niên nữa không ? Ông hỏi :
          “ Dẫu mười năm xa cách
          Tuổi thanh niên đã nguyện coi thường ?”
Bác Mít trả lời ngay :
          “ Vâng, đã nguyện xem thường
          Dẫu ràng giữa tuổi yêu đương
          “ Cốc rượu nồng bên môi mới bén
          Khúc hát đêm qua vừa trao hẹn
          Sáng nay hoa tiễn , vẫn tươi cười…”
Đó “người ông” cứ yên tâm, con cháu chúng ta như thế đấy. Dù chỉ mới qua một đêm tân hôn, sáng mai phải ly biệt nhưng đôi trai gái vẫn…tươi cười. Nhà thơ “mô tả tâm lý nhân vật “ như vậy thì…hết chỗ nói.
Lúc này  “người mẹ” cũng đã bước ra,  bởi lẽ bà đang ngủ “ nửa đêm sực tỉnh, bên cầu ao, ta nghe có tiếng chân chao, ai thế nhỉ ?”. Bà quên phứt ngay con trai mờ sáng nó sẽ dứt áo ra chiến trường, bà cứ đánh một giấc ngon lành  mãi khi nghe tiếng chân khua nước ngoài cầu ao mới tỉnh dậy ra coi sao ? Bà quanh quẩn một hồi chẳng thấy ai, sờ vào quả mít, bà mới nhớ ra con sắp đi chiến trường :
          “  Mít kia chẳng mai kia sẽ chín
          Cũng muốn con ăn một miếng cho vui
          Nhưng việc dân, việc nước lửa bỏng nước sôi…”
Vậy thì con cứ đi cho nhanh nhé, việc nước quan trọng hơn…ăn mít. Than ôi, có bà mẹ nào sốt ruột cho con đi ngay vào nơi mũi tên hòn đạn như ngày nay giục con đi lĩnh xổ số giải độc đắc vậy ? Viết lách như thế , trách gì thể loại kịch thơ đã…chết bất đắc kỳ tử trên sân khấu Việt Nam kể từ khi nhà thơ Lưu Trọng Lư chiếm lĩnh “trận địa” này ?
 

“Bà mẹ” đã “cách mạng “ tới mức đó, ấy vậy mà vẫn còn bị ông nhà thơ trách móc :
          “Sao không học gương mẹ già thuở trước
          Cũng thức suốt đêm thâu
          Nhưng để may cờ cứu nước
          Kịp cho con gà gáy lên đường…”
Chẳng hiểu có “cái thuở nào “ lại có bà mẹ “quái thai” đến thế, sáng sớm hôm sau con trai đã đi vào tử địa mà đêm đó bà vẫn còn ngồi…may cờ ? Cảm hứng “ra trận” quá đà làm ông nhà thơ cứ bịa ra những chuyện trời ơi đất hỡi vậy.
Rồi cũng tới cảnh “ chinh phu, chinh phụ” thời chống Mỹ. “Người  con trai” và “người con gái” ngồi xuống một tảng đá. Oi chao, trong lúc tử biệt sinh ly, lẽ ra hai con tim phải hoà chung thống khổ, ngờ  đâu cô gái mở miệng :
“Anh ra đi mẹ có dặn gì ?’
Chàng trai phấn khởi  :
          “Mẹ cười, mẹ bảo
          Việc nước con cứ đi
          Việc hợp tác, việc nhà                                                   
          Có tao có nó…”
Bất chấp tình cảm tự nhiên trai gái khi ly biệt, ông tác giả kịch bản bắt đôi  uyên ương sắp rời cánh …ca bài sản xuất và chiến đấu . Cô gái nức nở :
          “Nhớ anh em mở một đường cày
          xách dăm gầu nước tưới cây anh trồng
            … Em đi đón dòng “cá bột”
          Mang giống  về chọn lọc em ươm
          Một năm anh về, hai năm anh về
          Mười  năm anh về, cá lớp lớp sinh sôi
          Nhớ anh thế đó, anh ơi…”
Chàng trai cũng sụt sùi :
          “Kẻ địch nào chẳng thắng em ơi
          Khó khăn nào anh không vượt nổi ?
          Nhớ lời Bác dậy ?
          Nghìn sông anh cũng lội
          Vạn đèo anh cũng băng…”
Tâm tình lâm ly xong rồi, tới “tiết mục tặng quà”. Cô gái  tặng “gói kim chỉ” để áo rách anh tự vá, còn anh trai tặng gì ? Cô gái đoán …  cuốn sách dạy trồng dâu  ? Không phải . Thôi đúng hạt giống rau rồi ? Cũng không phải, cô lại đoán :
          “Phải rồi , anh cho em chiếc lược
          Bằng thép mỏng máy bay?”
Anh con trai nổi tự  ái :
          “ nếu là chiếc lược em ơi
          Thì hãy đợi một ngày
          Khi tự tay anh hạ lấy
          “ Con “thần sấm” giữa trời
          Và tự tay anh chuốt thành lược…’
Ghê chưa, nếu em muốn anh tặng lược thì đợi anh bắn rơi máy bay Mỹ lấy mảnh nhôm đã. Các nhà chế tạo máy bay Mỹ cần chú ý chi tiết này, nên làm sẵn vài ngàn chiếc lược, phòng khi máy bay hạ cánh khẩn cấp trên đất Việt, còn có cơ đàm phán cẩu nguyên chiếc về kẻo máy móc bị xả thịt làm…lược. Khi cô gái chịu thua không đoán được, chàng trai mới “bật mí”. Tưởng gì quý báu, hoá ra là…chiếc gương . Đã vậy còn dặn dò :
          “ Những khi cày xong một buổi
          “ Em ra gốc muỗm em ngồi
          Em lấy gương đẹp ra soi
          “ Trận đấu  chiều đã vãn
          Em lấy gương đẹp ra soi
          Em gỡ những vết bùn trên tóc…”
Vậy em nhớ nhé, gương này anh tặng chỉ  dùng trong…sản xuất chiến đấu, còn sáng ngủ dậy, hoặc đình đám hội hè chớ dùng tới nó. Thật biểu hiện sinh động của một nền văn minh “đứng đầu nhân loại”. Ay thế mà cho dù chịu thắt buộc “nội quy sử dụng gương”  vậy, cô gái vẫn vui vẻ :
          “ Anh ra đi mưa nắng chiến trường, sao cho tròn nhiệm vụ
          Em ở nhà, một niềm chung thuỷ hai chữ “đảm đang”
          Dẫu năm năm, mười năm, nhìn gương em chẳng hổ,
          Đường chiến đấu , dài lâu gian khổ…”
Một cuộc chia ly màu siêu đỏ, đến “người ông “ vốn là chiến sĩ Cần Vương cũng phải ngỡ ngàng, phấn khởi  :
          “  Thậm chi ( không có dấu)  là khoái trá
          Con trai con gái bây giờ
          Tiễn đưa nhau đi đánh giặc mà cứ như là…”
… là đưa nhau tới…phòng cưới vậy. Thế là cả ông lẫn cháu đều ra sa trường , để  hoàn chỉnh “ bức tranh gia đình cách mạng”, cha truyền con nối đánh giặc, tất nhiên phải có ông bố nữa, thế là ông nhà thơ cho “hồn người cha” ra sân khấu cho đủ tam đại cầm súng :
                   “ Ta người chiến sĩ Điện Biên,
                   Về đây, thăm vườn cũ
                   Mười mấy năm cách mặt chẳng xa lòng…”
Gặp lại bố ngày xưa, cha con chưa kịp hàn huyên, người cha đã mang chiếc ba lô xưa chống Pháp, nay con sắp mang đi chống Mỹ kể lể  :
                   “ Ôi chiếc ba lô ngày cũ
                   Giữa chiến trường Điện Biên Phủ
                   Còn nguyên đây : dấu đạn giặc xuyên qua
                   Chiếc ba lô đã từng thấm máu hồng  ta…”
Và khoe với người ông :
                   “ Cha hãy trông đây
                   Chiếc ca bác Hồ gửi tặng
                   Còn nguyên hai chữ Điện Biên…
                   Con qua cháu lại
                   Lớp lớp tay chuyền…”
Mười mấy năm cách trở quay về, hồn “người cha” chẳng thiết nhòm ngó vợ sống ra sao, ở vậy hay đi bước nữa, con cái, nhà cửa thế nào, chỉ chăm chăm chuyện “đánh giặc” :
                   “ Lòng con bao xiết tự hào
                   Nhà ta ba đời vằng vặc trăng sao
                   Ông đến cháu dốc một lòng đại nghĩa…”
Cũng may vở kịch viết vào năm 1971, nếu lùi lại ngót chục năm nữa, nhất định ông nhà thơ đưa  thêm ‘thằng chắt” lại vác ba lô đi đánh …giặc Tàu thì lớp lang, ra vào sân khấu còn phức tạp nữa. Lúc này con chưa ra chiến trường, cháu chưa lọt lòng mẹ, bởi vậy chỉ có hai thế hệ cha ông tranh nhau kể lể thành tích chiến đấu . Người cha khoe :
                   “ Vâng, giữa chiến trường con đã ngã
                   Vết đạn đã xuyên mình
                   Nhưng Điện Biên Phủ quang vinh
                   Đã ra đời một hành tinh mới…”
“Thế hệ cha” ghê gớm chưa, hy sinh thân mình làm mới bộ mặt hành tinh. Bốc phét cỡ vũ trụ thế này thật xứng tầm…ếch ngồi đáy giếng. Nghe thằng con thổi thành tích lên hết cả cỡ giành cho cha, người ông đâm bực mình :
                   NGƯỜI ÔNG (động lòng tự ái) :
                   Con ơi thuở cha đứng lên
                   Cũng trời nghiêng, đất ngả
                   Oanh oanh liệt liệt một trường
                   Mật nào chẳng nếm , gai nào chẳng nằm
                   Gươm đại nghĩa mười năm không nao núng…”

Lúc này mấy cô Mận, Đào, Xoan, Trúc đành phải nhảy vào can khéo hai cha con :
“Chị em “bầy tui” : Mận, Đào, Xoan, Trúc
Lại xin nghiêng đầu trước đầu bạc Vụ Quang
Mười năm gian khổ kiên cường…”   
(và tất cả lại đến bên người chiến sĩ Điện Biên )
“ và trước người chiến sĩ Điện Biên anh dũng
Chị em ‘bầy tui” xin thân mến cúi chào:
Một trận long trời dậy sóng năm châu
Thực dân quen thói đè đầu
Việt Nam đứng dậy phất cao cờ hồng…”
Vậy là…huề, cả “ông” lẫn “cha” thành tích “ chống quân ngoại xâm “ đều tầm cỡ “long trời lở đất cả, ngang sức ngang tài anh hùng cách mạng, khỏi tranh cãi ai hơn ai. “


                           (còn tiếp)

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

HẺM BUÔN CHUYỆN ( KỲ 38 ) :Lại nổ ra cách mạng nữa rồi !



            

Chiều nay cô Phượng cave xách túi đi qua cửa quán thoảng lại mùi thơm nức mũi làm mọi người xô ra coi. Váy siêu ngắn màu phượng đỏ ôm sát quả mông khoe nguyên cánh lưng trần trắng lốp, phía trước hai sợi dây nhỏ xíu giữ hai con chim câu choi choi chỉ muốn xổ lồng . Thằng Bảy xe ôm nhảy cẫng :
“ Í trời …nữ hoàng bikini…nữ hoàng bikini…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Cô Phượng cave đi đâu diện quá ta ? Mọi ngày cổ chơi váy dài kìa…”
Thằng Bảy xe ôm oang oang:
“ Cổ ra sân bay đón bồ già Hànội . Nghe nói ổng cấp cao lắm, có cả vệ sĩ đi theo nữa kìa…”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Sao cổ nói ổng đang họp quốc hội , ngày mai mới bế mạc kìa…?”
Thằng Bảy xe ôm cười khì khì :
“ Ổng chỉ họp phiên sáng nay thông qua nghị quyết bỏ phiếu tín nhiệm cán bộ cấp cao rồi dọt lẹ dzô đây. Không hiểu chị Phượng cave có bùa có bả gì hớp hồn chả cứ kè kè bên cổ, suốt ngày đòi lên giường, lên giường hoài à, kỳ  lắm. “
Sáng hôm sau mọi người đang “tám” chuyện ông bồ già của cô Phượng cave, bất chợt ông đại tá hưu lẻn vào quán, mặt tái xanh tái tử. Ong không ngồi chỗ mọi ngày mà chạy tít vào sâu trong quán làm chị Gái hủ tíu ngạc nhiên :
“ Chú Ba sao ngồi đó , mọi ngày ngồi ngoài này kìa…”
Ong đại tá hưu lắc quày quạy :
“ Không không, chị mặc tôi, tôi ngồi đây chờ họ đi qua rồi tôi cũng  lên phố chứ không dám chường mặt ở đây…”
Thằng Bảy xe ôm tò mò :
“ Vậy chú Ba muốn tránh mặt ai đó vừa bước vào xóm hả ?”
Ong đại tá hưu run rảy :
“Oi trời , tao đâu có ngờ, cứ tưởng mình nằm mơ…”
Vừa lúc đó cô Phượng  cave cặp tay ông già lạ mặt, tóc bạc phơ ríu rít đi ngang  cửa quán làm ông đại tá hưu như bị điện giật, quay phắt vào trong, vớ vội cái khăn bàn của chị Gái hủ tíu che mặt. Cô Phượng cave và ông già tóc bạc đi sâu vào xóm rồi ông đại tá hưu vẫn che mặt, run lẩy bẩy làm thằng Bảy xe ôm bật cười :
“ Máy bay địch đã bay xa …chú Ba bỏ khăn ra được rồi …”
Ong Tư gà nướng cười cợt :
“ Làm sao mày biết đó là “máy bay địch” ?”
Thằng Bảy trợn mắt :
“ Thì ông không thấy ông đại tá hưu sợ vãi cả hồn  ra đấy sao ?”
Ong đại tá hưu bỏ chiếc khăn bàn , rền rĩ :
“ Ối trời ôi, con Phượng…con Phượng…lại đi với…”
Ong chợt im bặt , nhìn ra cửa. Thằng Bảy xe ôm sốt ruột :
“ Phải ông già đầu bạc vừa đi qua đây với cổ không ? Ổng là ai chú sợ quá vậy ?”
Ong đại tá hưu lắc quày quạy :
“ Không biết, tôi không biết…chắc tôi nhìn nhầm, không phải đồng chí đó đâu…đồng chí ấy đang họp quốc hội mà…”
Nói xong ông rón rén đi ra cửa nhìn hút vào xóm rồi quay ra bảo thằng Bảy xe ôm :
“ Mày chở tao ra phố, nhanh lên…”
Thằng Bảy xe ôm ngạc nhiên :
“ Chú Ba tính đi đâu ?”
Ong đại tá hưu lắp bắp :
“ Đi đâu đi …càng xa càng tốt…”
Thằng Bảy xe ôm ngập ngừng, ông Tư gà nướng giục :
“ Thì mày cứ đưa ổng đi, ổng đang muốn tránh mặt ông bồ già của  con Phượng kìa…”
Quả nhiên thằng Bảy xe ôm vừa đưa ông đại tá hưu đi , cô Phượng ca ve lại ôm eo ông già lúc nãy ra đầu hẻm. Nâng niu ổng lên chiếc xe lộng lẫy chờ sẵn, xe chạy đi, cô Phượng cave mới quay vào. Bỗng dưng cô được mọi người kính nể hẳn . Ong Tư Gà nướng tò mò :
“ Cô Phượng cave đi với ai làm ông đại tá hưu bay hồn bạt vía vậy ?”
Cô Phượng ca ve cười  nhoẻn :
“ Ủa vậy hả ? Chắc ông đại tá hưu là đối tượng lọt lưới điều tra …”
Chị Gái hủ tíu há cả mồm :
“ Cô nói gì ghê quá vậy ?”
Cô Phượng cave hãnh diện :
“ Thì ảnh nói với em ai sợ ảnh thì đúng là đối tượng lọt lưới mà…”
Chị Gái hủ tíu la lên :
“ í trời ôi…ổng già vậy cô kêu bằng anh hả ?”
Cô Phượng ca ve cười cười :
“ Đến cha Đỗ Mười vô quán tụi em cũng kêu anh tuốt luốt.”
Ong Tư gà nướng hỏi  khẽ :
“ Ong làm tới cấp gì vậy ? Chắc lớn lắm…”
Cô Phượng ca ve vênh mặt :
“ Chứ lại không à ? Còn trên cả VIP nữa kìa. Ảnh nói ở cái nước này  muốn bắt ai là bắt …”
Thằng Bảy xe ôm vừa đi về, lè lưỡi :
“ Í trời , vậy phải trên cả cấp trung ương. Là cấp gì vậy chị Phượng ?”
Rồi nó cười rinh rích :
“ Cấp gì cấp, lên giường ổng vẫn lần mần như ma, đúng không chị Phượng ?”
Cô Phượng ca ve mặt đỏ tưng bừng, đấm thùm thụp vào lưng thằng Bảy . Vừa lúc  đó ông đại tá hưu bước vào. Nhác thấy cô Phượng ca ve, ông khom cả người xuống, cung kính :
“ Chào chị Phượng…chị mới đi chơi về ạ ?”
Thằng Bảy trố mắt nhìn rồi vỗ tay đồm độp :
“ Chèng đéc ơi…lại nổ ra cách mạng nữa rồi…”

21-11- 2012

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

YÊU THỜI...ĐỒ ĐỂU (KỲ 11 )



                                           (tiếp theo)



Bà phu nhân đang ngồi luyện nhân điện, tưởng tượng 9 huyệt đạo đã khai mở hết đang hút năng lượng trời đất, bất chợt vẳng tới tiếng người rên rỉ và tiếng thở hồng hộc. Lập tức bà đứng dậy, rời tấm thảm, nhón chân bước . Bất chợt bà bủn rủn cả người. Trước mắt rành rành  hai thân hình bện  nhau như đôi rắn trắng, ngọn lửa vô hình thiêu đốt khiến họ dãy dụa trong cái việc họ đang làm với nhau và chẳng còn biết đất trời, xung quanh. 
Cảnh tượng đó không làm bà phu  nhân nổi giận, ngược lại ,  người bừng bừng, miệng khô đắng, cổ họng như bị chẹn ngang. Oi chao ôi, kể từ ngày làm vợ ông Chủ tịch, chưa có bao giờ bà được nung đốt đến thế kia. Hai thân hình như hai võ sĩ quyết đấu lăn xả vào nhau không phải giết nhau mà lặn vào nhau. Chưa, chưa bao giờ bà được thế. Mải họp hành, mải suy tính, lo toan , sức lực của ông Chủ tịch bị vắt cạn trong đấu đá triền miên, khiến đêm đêm nằm bên bà, ông ngủ lăn quay như chết rồi, mặc bà trằn trọc thâu đêm, mắt trừng trừng nhìn đình màn, tai văng vẳng tiếng mèo động đực trên mái . Sau rất nhiều sâm nhung, hổ cốt, rượu Minh Mạng bà nhồi nhét , năm thì mười hoạ ông Chủ tịch mới lên giường như  người chồng, vậy mà thoáng chốc đã lăn kềnh, để lại trên mình bà  nỗi buồn tê tái.
  Giá như hàng ngày bà phải luôn tay luôn chân như chị người làm, vất vả đầu sông cuối chợ kiếm sống như bao người vợ, giá vậy bà có thể kiềm giữ con quỷ trong lòng bà, chịu đựng, hy sinh  thủ tiết với chồng. Đằng này không, cả ngày cứ quanh ra quanh vào  bàn trang điểm, nhồi nhét toàn bổ dưỡng – nào dê tái lăn tương gừng, nào gà ác thuốc bắc, nào hàu sống mù tạt…toàn những thứ tuyệt nhiên không dùng tới một sợi rau dăm, thứ nhà chùa vẫn  dùng diệt dục, những thứ chẳng những không làm mát mẻ da thịt còn gây ra cơn bão bị nhốt trong lòng bà.
 Thế rồi một đêm, sau khi hất xuống giường đức ông chồng ngủ quên  trên nguời vợ, bà phu nhân quàng sơ tấm khăn mỏng , mở cửa buồng, bước ra vườn. Ôi chao ! Trăng tròn vành vạnh rót xuống thế gian  thứ ánh sáng ma quái, mát rời rợi như cả trăm ngàn bàn tay ve vuốt  khắp da thịt. Bà cứ xăm xăm qua những chậu thiên tuế sừng sững, qua những luống hoa đang toả hương đêm, qua hồ bán nguyệt có tiếng cá quẫy khẽ dưới cánh sen và rồi bà dừng sững trước chiếc ghế đá trên có một thằng người đang nằm. 
Trời đất, tưởng ai, hoá ra thằng Bảy lái xe, chắc nằm trong nhà nóng quá nên mặc mỗi cái quần xà lỏn ra ngủ ngoài vườn. Thằng đó chỉ trạc tuổi Kim Anh, con gái bà, được ông Chủ tịch nhận làm lái xe riêng do chú Chín , Gíam đốc Sở giao thông vận tải giới thiệu. Ngày thường thằng Bảy vẫn đưa ông đi làm, đưa bà đi chợ, đi công chuyện. Trong mắt bà, lâu nay nó là thằng nhóc, mặt mũi trắng trẻo  lầm lì và sợ sệt khiến chưa bao giờ bà nhìn nó như một thằng đàn ông. 
Nhưng đêm nay, ánh trăng làm thay đổi cả cỏ cây, hoa lá và cả con người, tất cả dường như được đánh bóng, tô vẽ và trở nên huyền ảo trong một cõi mù mờ. 
Thằng nhóc lái xe cũng vậy, nom nó chẳng khác hoàng tử ngủ dưới ánh trăng, cái miệng he hé như đang gọi ai, đôi mắt nhắm nghiền khẽ rung rung, tóc xoã xuống vầng trán thật mượt. 
Như có ma quỷ đùn đẩy, bà bước tới, cúi xuống và cả thân hình lồ lộ của bà như một thanh nam châm khổng lồ hút chặt lấy thân hình thằng Bảy khiến khi bừng mắt dậy nó đã nằm lọt thỏm trong lòng bà.
Sáng hôm sau, ông Chủ tịch đóng bộ comlê cà vạt ngồi chờ trong phòng khách mãi không thấy tiếng còi xe quen thuộc rước ông đi làm. Ong vạch đồng hồ coi giờ và đập tay xuống bàn , quát lớn :
 “ Thằng Bảy đâu ?”
 Một lúc sau bà phu nhân mới te tái chạy vào :
“ Ong à…thằng Bảy đêm qua trúng gió , giờ vẫn chưa dậy được. Thôi ông chịu khó để con Kim Anh đưa ông đi làm bằng xe máy vậy…”
Vốn được tiếng có quan điểm quần chúng, hữu ái giai cấp, yêu thương người  lao động , ông Chủ tịch dịu giọng :
“ Vậy hả ? Mà sao nó bịnh lẹ vậy, tối qua nó còn đưa tôi đi họp thường vụ  kia mà…”
“ Thì tại đêm qua nó ngủ ngoài vườn nên bị trúng gió ?”     
Ong Chủ tịch mải lo đi làm không nhận ra  mặt vợ đang như có một luồng sáng rọi tới khiến nó sáng bừng. Ong cắp cặp bước ra sân còn dặn với :
“ Bà ở nhà coi nó bịnh sao, cạo gió cho nó rồi bảo chị Tư  nấu cho nó tô cháo…”
“ Được rồi, được rồi…việc đó ông khỏi lo…”
Bà lật đật dìu ông ngồi lên sau xe Kim Anh  như người vợ chu đáo không quên căn dặn :
“ Con chở ba đi chầm chậm thôi nghen. Nhớ tránh ổ gà, tới ngã ba đèn đỏ phải thắng lại chớ có ỷ y vượt ẩu…”
Cô tiểu thư  bị dựng dậy sớm càu nhàu :
“ Má đưa tiền con đi càphê rồi đi học nhóm luôn khỏi vòng về…”
Bà móc ngay ra xấp tiền sốt sắng :
“ Đây đây…con đưa ba tới Uỷ ban rồi muốn đi đâu thì đi…”
Tiểu thư chở ông Chủ tịch đi rồi, chị Tư người làm cũng cắp giỏ đi chợ , bà vội vàng khoá trái cổng, bước nhanh tới phòng thằng Bảy lái xe. Oi trời ôi, sáng bạch nhật ra rồi mà còn ngủ vùi thế kia, dậy,dậy đi…coi ốm đau sao nào ?
Thằng Bảy hé mắt, nhớ ra chuyện kinh thiên động địa đêm qua, có nằm mơ cũng không nghĩ tới ? Bà phu nhân là vợ ông Chủ tịch, ông Chủ tịch là thủ trưởng bự của nó, sao lạ vậy cà ? Oi mẹ ơi, chuyện đó tới tai ông Chủ tịch, chết chắc. Nỗi lo làm nó co rúm  người . Nó tính vùng dậy, mặc quần áo chạy ra xe đưa ông Chủ tịch đi làm nhưng bà phu nhân giữ chặt :
            “ Khỏi lo, cô Kim Anh đưa ông đi làm rồi. Ong dặn tôi…cạo gió cho Bảy, rồi cả nấu cháo nữa…ổng dặn vầy mà…”
Lời ông Chủ tịch với nó là lệnh, ông đã dặn vầy, đâu dám cãi. Và thế là nó ngoan ngoãn nằm xuống cho bà phu nhân…cạo gió. Mắt nó nhắm nghiền không dám nhìn bà phu nhân lúc này đã bứt tung hàng khuy áo ngực, lộ ra hai trái dừa thỗn thện.Nó đành ruỗi  người như cây gỗ phó mặc thân thể cho bà phu nhân. Oi trời ôi, cạo gió gì kỳ, chỗ cần cạo không cạo cứ nhằm vào chỗ đó ? Thằng Bảy đành phó mặc cho bà lôi tuột vào “trò chơi” của bà.
 Chỉ vài ngày, bà phu nhân biến thằng Bảy lái xe thành gã đàn ông thành thạo, chẳng những làm được những gì bà chỉ dẫn mà còn bày vẽ thêm khiến bà cứ lăn đùng ngã ngửa cười khanh khách. 
Hoá ra nó không ngu si như bà tưởng, ngược lại còn tỉnh táo hơn bà, can ngăn, dặn dò phải tuyệt đối giữ  kín mọi chuyện không thì…chết cả đôi. Bà phục lăn những sáng kiến che chắn của nó. Nó xui bà sắm cho nó điện thoại di động mỗi khi ông gọi , nó “có mặt” ngay để ông khỏi nghi ngờ. Thế là nó thoát cảnh chầu chực sân Uỷ ban , tha hồ đánh xe chở bà đi vi vu, mỗi khi ông cần đi đâu chỉ cần “a lô” là nó phóng tới liền. 
Một hôm bà dặn đưa ông tới Uỷ ban rồi đánh xe về đưa bà đi có việc . Hoá ra bà chẳng có cái việc gì, cô Kim Anh đi pinic, chị Tư người làm xin về thăm mẹ ốm nặng, thằng Bảy  vừa về tới nơi bà đã táo tợn lôi tuột vào phòng bà…
Cài cửa kỹ càng, cầm chắc khu biệt thự mênh mông chẳng còn ai ngoài bà với nó bà mới bắt đầu kiểm kê kỹ càng cái thân hình của nó.
 Không may cho thằng Bảy, sau hôm để lại chữ “tân” đàn ông trên mình bà, nó đâm ra nghiện mùi đời. Dăm bữa nửa tháng mới một lần lén lút với bà phu nhân, mà “thực đơn” có mỗi món mỡ với thịt nhẽo mãi cũng phát chán, nó mon men tới quán karaoke  thỉnh thoảng vẫn chở “các quan ngoài trung ương” tới theo lệnh của ông Chủ tịch. 
Vừa đánh cái xe Mẹc đời mới ghé tới, má mì với đàn “bươm bướm xinh” đã ùa cả ra. Chị em tưởng vớ được món xộp như mọi khi xe ghé tới, nào ngờ trên xe bước xuống có mỗi thằng tài xế ranh . Má mì xuống giọng :
“ Đâu rồi, anh Hai, anh Ba , anh Bảy đâu hết cả rồi. À phải rồi, sếp cho cậu đi “tiền trạm” hả . Khỏi khỏi, đã bảo 24 trên 24, bất kỳ lúc nào sếp tới chị em cũng phục vụ đầy đủ và tận tình mà…”.
Chờ cho má mì đi hết màn marketing, thằng Bảy mới cố ra vẻ tay chơi :
“ Bữa nay ckhông có sếp siếc gì hết, chỉ có mỗi thằng này thôi, chịu không ?”

  
                                          (còn tiếp)

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Vũ Huy Quang : DI CHÚC TÔN DẬT TIÊN



Tham khảo:
-“The Political of China 1840-1928” – Li Chien-nung. Xb 1956.
-“Sun Yat-sen – A Critical Biography” by Lyon Sharman, 1934. Ấn bản thứ nhì, Stanford, 1968.

Khởi đầu, để dẹp phong trào Thái Bình Thiên quốc, Lý Hồng Chương, từ năm 1863 đã nhận thấy phải có sức mạnh cơ giới mới thắng trận được. Người Trung Hoa, sau Chiến tranh Nha phiến, với những nhục nhã phải chịu sau đó, (khi liên quân Anh-Pháp chiếm Bắc Kinh), Lý Hồng Chương ngó sang Nhật, rút kinh nghiệm của Nhật, khởi xướng chuyện học hỏi Tây phương, và gửi sinh viên đi du học. Trung quốc chuyển mình.
Năm 1866, lập xưởng đóng tàu ở Phúc châu. (*)
Năm 1872, chọn những sinh viên không nhiễm ảnh hưởng Trung hoa cổ, cho du học.
Năm 1872, lập đội thương thuyền.
Năm 1876, gửi sĩ quan hải quân đi học ở Đức. Cũng là năm bắt đầu cho sinh viên du học Âu châu.
Năm 1880, mở trường Hải quân ở Thiên Tân
Năm 1882, mở và xây cảng Lữ Thuận, mở đường dây điện tín cho Triều đình.
Năm 1888, hạm dội Bắc Dương thành hình.
Vân vân…
Tôn Văn, (cũng gọi là Tôn Dật Tiên,Tôn Trung Sơn) sinh năm 1866, lớn lên cũng chịu ảnh hưởng của phong trào nhìn Tây phương như hướng để học hỏi, cách tân số mệnh Trung quốc. Nhưng sách của Li Chien-nung, người Thiệu Hưng, Hồ Nam, du học Nhật, biên tập Thái Bình Dương tạp chí, là một học gỉa thuộc thế hệ cổ - có khi vì theo chính sách cách mạng quốc gia, có khi là cả hai - khi ghi biến cố chính trị, thường đứng trên quan điểm bảo thủ: Ông không nhìn sự việc về Tôn Văn nhiều chiều: Khi Tôn Văn mất ngày 12, tháng Ba, 1925, ông chỉ ghi được nửa trang trong cuốn sách dày 550 trang của ông. Về Ngũ Tứ Vận động, ông ghi được hai lần, tổng cộng chưa dầy 2 trang…trong sách của ông.
Lyon Sharman là con gái một nhà truyền giáo (Tin Lành), ra đời ở Trung quốc, yêu tha thiết quê hương chào đời của mình. Lên 8 tuổi, được gửi về Mỹ học. Học xong (Ph.D), lập gia đình thì nghe tin Tôn Văn mất. Bà trở lại Trung quốc, viết cuốn tiểu sử Tôn Văn. Sách của bà, như để trả nợ cho nơi đã cho bà chào đời, hoàn tất năm 1934, không ngờ sau này được đánh gía cao hơn bất kỳ cuốn tiểu sử phê phán nào. Năm 1968, Đại Học Stanford thương thảo để sách tái xuất.
Khi L. Sharman trở lại Trung quốc, bà nhìn ngay ra, thuyết Tam Dân của Tôn Văn, cũng như con người Tôn Văn, đều đã được thánh hóa. Gần như đại cấm kị, nếu dám phê bình Quốc phụ Tôn Văn cùng thuyết Tam Dân của ông. Cho đến tận nay, Tôn Văn vẫn được coi là Quốc Phụ, cả ở Lục địa, cũng như Đài Loan. Sách Tam Dân của ông phổ biến khắp, cũng như việc xây lăng cho ông được coi là trả ơn thuyết Tam Dân. Thuyết Tam Dân còn được coi như thuyết cách mạng thay thế cho chủ thuyết Mác-Lênin, đối với rất nhiều người.
Nhưng L.Sharman đặt câu hỏi, Tôn Văn là người hay thần? Tôn Văn chủ trương gì?
***
Sinh ở một làng nghèo khó thuộc Quảng Đông, năm 12 tuổi, Tôn được anh đem qua Honolulu nuôi ăn học. Sau ông vào nội trú trường Đạo, tốt nghiệp y khoa. Ông lưu lạc khắp nơi, qua Anh, Mỹ, Nhật, Âu châu, Nga…và đến nhiều cộng đồng người Hoa ( đến cả Chợ Lớn, Việt Nam).  Ở đâu ông cũng kêu gọi đòan kết (dĩ nhiên) và canh tân đất nước. Canh tân thế nào? Bằng cách kỹ nghệ hóa Trung quốc. Người dân Trung quốc cần gì? - Dân sinh, Dân tộc, Dân quyền.
Ông sống ở ngoại quốc nhiều hơn ở trong nước. Chín năm cuối đời Tôn Văn mới sống trên đất Trung quốc trở lại (tổng cộng là 21 năm trên đất Trung quốc, với tuổi thọ là 58 tuổi). Khi ông đòi Tây phương cùng canh tân đất nước của ông, để hai bên “cùng có lợi”, L. Sharman bảo, ông đã không hiểu người Trung quốc, hiện cảnh Trung quốc, ông cũng không hiểu thế nào là Tây phương nữa. Ông tin tôn giáo Giêsu của Tây phương vì cho rằng tôn giáo này gắn liền với lịch sử, còn đạo Khổng của Trung quốc không đi đôi với canh tân xứ sở. Nhưng, dân chủ của Tam Dân không dính gì đến dân chủ Tây phương cả. Quốc Dân Đảng của ông, chỉ là một đảng độc quyền, không có đối lập, đảng Tư sản-buốcgioa này tự tung tự tác làm Giám hộ, dạy dỗ (Tutelage) dân chúng Trung quốc, khi họ còn trong tình trạng thấp kém dân trí ! Khai dân trí! Chấn dân khí! (Trong lúc ở Thượng Hải, hàng năm có 50,000 xác hài nhi vô thừa nhận bỏ ngoài đường). Xã hội nông nghiệp của nước ông, ông đưa ra giải pháp mơ hồ, là sẽ định gía đất cho địa chủ và nông dân để bên nào cũng bằng lòng, ai cũng sẽ sở hữu ruộng đất công bằng cả (!). Canh tân đất nước? - Thì lực lượng thợ thuyền, ông không hề ghé mắt nhìn vào thực trạng của công nhân, của tiểu thương, của những phường buôn, với sản phẩm tiểu công nghệ.
Khi Nga cho mở trường Đại Học Tôn Trung Sơn để cho sinh viên Trung quốc học, lại mở trường võ bị Hoàng Phố (1924), ông nhìn Nga Xô như nơi ông đặt hết tin tưởng. Nếu Trung quốc có lòng tự ái dân tộc, hẳn không thể quy tụ chỉ vào một, hay vài người. Nhưng Tôn Văn càng về gìa, càng chỉ tin vào mỗi mình mình, là trung tâm của cách mạng, là đấng sáng tạo chương trình mà dân ông nhất định phải theo. Trọng trách của ông tự đặt cho mình, kèm với tính ích kỷ, ông bước lên sân khấu, bi kịch của ông cũng làm người trong hậu trường tin như thế, khán giả cũng tin như thế, rồi Đảng của ông lấy làm nền tảng cho sự thờ phụng lãnh tụ.
Ông có 3 di chúc. Một, cho Quốc Dân Đảng (các đồng chí nhớ theo thuyết Tam Dân); một cho vợ, là Tống Khánh Linh (sở hữu căn nhà ở Thượng Hải, và bảo quản sách vở cùng trước tác của ông); và di chúc thứ ba, gửi cho Đảng Cộng Sản Nga.
Bản di chúc này, viết trước đó 2 tuần, chưa ký, cho đến ngày 11 tháng Ba, Tôn Văn mới ký. Ông qua đời ngày 12. Báo chí Bắc Kinh chỉ đăng di chúc gửi cho Quốc Dân Đảng.
“Thông điệp gửi Nga Xôviết”, với nơi nhận là Ban chấp hành Trung Ương Liên hợp Xô viết Xã hội Cộng hòa:
Các Đồng chí thân mến:
Trong lúc tôi nằm để chống chỏi vô vọng với bệnh họan, ý nghĩ của tôi hướng về các đồng chí cùng số phận đảng tôi và nước tôi.
Các đồng chí đang đứng hàng đầu của khối liên hiệp các xứ  cộng hòa tự do – di sản cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới mà Lênin bất tử để lại. Với sự trợ giúp từ di sản ấy,  những nạn nhân sẽ không thể nào không thành công trước việc giải phóng khỏi những nền móng đã làm gốc rễ  cho nhiều thế hệ của nô lệ, chiến tranh, và bất công.
Tôi để lại sau tôi Đảng mà, như tôi luôn mong đợi, sẽ ràng buộc chặt chẽ với các đồng chí trong nhiệm vụ lịch sử của cuộc giải phóng Trung quốc cùng những xứ bị bóc lột khác, khỏi ách đế quốc chủ nghĩa. Vì số phận mà tôi phải dở dang nhiệm vụ, để chuyển cho những ai trung thành với nguyên tắc cùng giáo huấn của Đảng, những người ấy sẽ là những người trung thành với tôi thực sự.
Do đó tôi đòi hỏi Quốc Dân Đảng tiếp tục nhiệm vụ phong trào cách mạng quốc gia, để Trung quốc, bớt ách đế quốc, tiến tới giai đọan bán thuộc địa, rồi tiến tới tự do.
Với mục đích ấy, tôi đã chỉ thị cho Đảng là phải liên hệ chặt chẽ với các đồng chí. Tôi tin chắc sự hỗ trợ từ trước đến nay của các đồng chí đã rất thích hợp với đất nước tôi.
Tôi phải ra đi, các đồng chí thân mến, tôi muốn bày tỏ mối hi vọng, rằng sẽ có ngày rất sớm khi Liên bang Xô viết trở thành bạn hữu và đồng minh của một nước Trung hoa hùng cường, tự do, và sự tranh đấu cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, cả hai đồng minh chúng ta cùng nắm tay nhau đi tới thắng lợi.
Gửi lời chào huynh đệ,
Tôn Dật Tiên. (1)
Thông điệp này đã làm cho Quốc Dân Đảng nhận được ngay sau khi Tôn Dật Tiên qua đời, bức điện tín phân ưu của Stalin, đại diện cho Đảng Cộng Sản Nga, và bức điện của Zinoviev, chủ tịch Quốc tế Cộng sản, với lời hứa tiếp tục ủng hộ của Đệ Tam Quốc Tế.
***
Lịch sử thật trớ trêu. Tôn Văn thất bại trong thương thảo với sứ quân Bắc Dương. Hai tháng sau khi qua đời, phong trào Ngũ Táp (ngày 30 tháng Năm, 1925) do sinh viên – công nhân nổi dậy, làm Quốc Dân Đảng hồi phục. Thế mà, chỉ năm sau, 1926, trong đảng cách mạng của Tôn Văn, Tưởng đem quân đi tàn sát sinh viên - công nhân Quảng châu. Năm sau nữa, 1927, Tưởng tàn sát công nhân Thượng Hải. Năm 1929, Stalin đóng cửa trường Tôn Dật Tiên (2). Năm 1937, đế quốc Nhật khởi đánh Trung quốc qua biến cố Lư Cầu Kiều. Người đánh điện cho QDĐ hứa trợ giúp là Zinoviev bị xử bắn. Và đại đệ tử của Tôn Văn, là Tưởng Giới Thạch…lên chức Thống Chê. Tưởng viết sách chống Tây phương, quay về với đạo Khổng cổ truyền, cuốn “Định Mệnh Trung quốc” (China’s Destiny). Sau khi giết sạch những ai không tin chế độ độc đảng của mình, Tưởng tiêu diệt họ (3). Sau khi giàu có (4), Tưởng chạy ra Đài Loan…Xem ra Quốc phụ Tôn Văn không hiểu Tây phương, không hiểu Trung quốc, lại cũng không hiểu nội bộ nhân sự của Đảng mình lẫn Quốc tế Cộng sản.
Lịch sử trớ trêu hơn nữa, khi mà di chúc Tôn Văn, cả Lục địa, cả Đài Loan đều dấu nhẹm đi, không hề nhắc tới. Theo tác giả Lyon Sharman, đây là văn bản gây bối rối tột bậc cho giới lãnh đạo - cả Quốc lẫn Cộng.
Cho nên hầu hết dân Trung quốc không hề biết di chúc Quốc phụ.
                                                                                                                          -Vũ Huy Quang.
                                                                                                                               (NOV-2012)
Chú thích:
(*) Fuzhou, Foochow, thuộc Phúc Kiến, trông ra Thái Bình Dương, hướng Đài Loan.(tr.103, “Political of China” - Li Chien –nung.)
(1)        “Sun Yat-Sen”, The Legacy of Programs, tr. 308-309, Lyon Sharman. Bài di chúc này cũng đã đăng trên New York Times, ngày 24 tháng Năm, 1925.
(2)        Theo Hoàng Phần Du, du học ở Moscow từ 1927-29, thì Mật vụ Stalin kiếm được danh sách quá bán tổng số sinh viên ở Nga (trên 200 người) theo Tả Đối Lập, chống đường lối Stalin áp dụng tại Trung quốc. Những người này, bị vào trại lao cải, hoặc đi đầy ở Siberia, hoặc chết mất xác trong các nhà tù rải rác ở Nga.  Số sinh viên còn lại bị tống xuất về nước. Đại học Tôn Trung Sơn đóng cửa năm 1929. “Chinese Rev., Memoirs 1919-1949.”, Wang Fan-hsi, Oxford Univ.Press, 1980.
(3)        Từ tháng Tư đến tháng Chạp, 1927, theo tài liệu tóm luợc, có 37,985 người chết và 32,316 người bị bắt vì tội tù nhân chính trị. Từ tháng Giêng đến tháng Tám, 1928, 27,699 người chính thức bị án tử hình bởi Tòa án quân sự Quốc Dân Đảng, và trên 17,000 người bị án tù giam. Cuối 1930, ước lượng là có 140,000 người bị giết. Năm 1931, ban nghiên cứu của chỉ 6 tỉnh thôi, có kết luận là trong năm đó, có 38,778 người bị xử quyết vì tội danh là kẻ thù của Quốc Dân Đảng. “No Peace for Asia”,1947; 1967, M.I.T Press. Harold Isaacs, tr. 60.
(4)         Giữa 1927 và 1932, chính quyền Tưởng Giới Thạch  có quốc trái là $1,100,000,000 (đô la Trung quốc, gía tương đương 2.50 đến 4.50/ 1 đôla Mỹ ), lãnh đạo Đảng chiếm dụng hết. Chỉ để 1% trên tổng số cho nhu cầu quân đội cùng chi phí hành chính. (sđd, H.I. tr.62)