Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 51)



         
                                
                        
                                                             (tiếp theo)
                                                                                                      
Đó chính vì khi « đời ta có Đảng » xã hội chuyển sang thời kỳ tăm tối còn hơn cả phong kiến :
« Còn thời bây giờ là một xã hội mạnh ai nấy lo, người người lấn chen nhau, tranh cướp nhau vì những tham vọng không được kìm nén, kỷ cương cũ bị xoá bỏ, kỷ cương mới chưa kịp hình thành, mọi sự đều phải làm lại từ đầu từ quốc kỳ, quốc ca, quân kỳ… Nhưng xem ra chả có mấy ai than thở về hiện trạng hỗn loại, họ cảm thấy thoải mái, bằng lòng với cuộc sống đầy bất trắc của hiện tại vì lần đầu tiên họ được lựa chọn cách sống của mình, thắng thua tự mình gánh chịu, cũng là lần đầu họ biết nhận ra cái “bản lai diện mục” của chính họ. »
Nhà văn Nguyễn Khải cả gan ca ngợi  xã hội tư bản là mảnh đất ươm những tài năng :
« Cách tổ chức xã hội của giai cấp tư sản dẫu có xấu xa tới tận đâu cũng vẫn tạo được những môi trường tự do và dân chủ hơn, mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển tài năng của mọi cá nhân và của cả cộng động. »
Còn xã hội « xã hội chủ nghĩa », chẳng hạn như Liên xô, lại là  mảnh đất chết tiêu diệt tài năng vì tính chất « trại tập trung »  của nó :
« Lại lấy thêm một ví dụ về nước Nga trong non một thế kỷ qua. Dưới chế độ Xô Viết, người dân Nga được nhà nước chăm lo hoàn toàn từ khi sinh đến khi chết, nhưng họ vẫn không thích, vẫn thấy ngột ngạt vì đó là cuộc sống không phải lo nghĩ của một trại tập trung, con người bị đánh số, bị xếp theo khuôn, theo hàng, chỉ nhìn thấy đám đông chứ không thể nhìn ra từng con người riêng biệt, kể cả trong triết học và văn chương. »
Đó là một bước tiến lớn trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Khải. Ong đã nhìn ra được cái cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản : « đánh đồng mọi giá trị « , trộn lẫn cái cao thượng với cái ti tiện, đồng mẫu số chung toàn bộ xã hội khiến cái « cá nhân » bị tiêu diệt chỉ còn lại bản mặt của đám đông.
Trong một xã hội như thế chẳng riêng gì văn chương mà các ngành nghệ thuật, khoa học khác cũng đều ngắc ngoải hoặc biến thành dị dạng . Từ đó ông công nhận những mặt sáng của chế độ thực dân :
« Chế độ thực dân tuy tàn bạo nhưng nó là sản phẩm của thời đại này nên nó vẫn có khả năng ươm cấy nhiều nhân tố tích cực, có giá trị bền vững cho những xứ sở nó đô hộ.
Những nhân tố tích cực , những « giá trị bền vững » đó chính là những thành tựu văn hoá nghệ thuật và khoa học kỹ thuật đã được  « ươm cấy » trong lòng xã hội thực dân.
Tiếp tục nhận diện cái xã hội « xã hội chủ nghĩa » nơi ông lớn lên và đang sống, Nguyễn Khải vạch ra cái bản chất « toàn trị », « chuyên chế » của nó :
« Bất cứ nhà nước nào lấy học thuyết xã hội hoặc tôn giáo thay cho hiến pháp thì trước sau sẽ chuyển đổi thành nhà nước chuyên chế. « 
Tại sao như vậy ? Chính là vì trong toàn xã hội không phải ai cũng đồng thuận với cái « học thuyết » đó. Và ý chí phản kháng, tất nhiên bị đàn áp – đó là bi kịch trước hết của trí thức :
« Vì trong hàng triệu công dân sẽ có nhiều nhóm người không cùng lòng tin, không cùng tín ngưỡng với nhà cầm quyền. Họ trở thành những cộng đồng đáng ngờ, sẽ bị phân biệt đối xử, trước hết là mất quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do xuất bản. Đó là nói về tầng lớp trí thức. « 
Thế còn thường dân ? Họ cũng bị tước đoạt « kiểu sống » của họ để nhét chung vào một rọ « cách sống kiểu mẫu chung của xã hội » :
« Còn những người làm các nghề khác, chả dính dáng gì đến sách vở cũng sẽ cảm thấy bị tước đoạt nhiều quyền tự do, như quyền tự do lựa chọn cách sống của riêng mình chẳng hạn. Đã độc quyền về tư tưởng tất nhiên sẽ độc quyền cả về cách sống, vì mỗi học thuyết đều có phần đạo lý của nó, nó cần tiêu chuẩn làm người đã được lý tưởng hoá của nó để làm khuôn mẫu cho tu sĩ và tín đồ. »
Đó là tình trạng hiện nay của xã hội Việt Nam khi « toàn Đảng toàn dân » được phát động học tập theo « gương đạo đức của bác Hồ », còn trước đây là « sống học tập theo hình mẫu con người mới xã hội chủ nghĩa ».
Trí thức và thường dân đã vậy, thế còn các nhà văn – tín đồ trung thành của Đảng , họ sống và viết ra sao trong xã hội « chuyên chế » đó :
« Lại nói về những tín đồ trung thành của chủ nghĩa Mác, những chiến sĩ theo cách mạng từ thuở mới lập nước là đám văn nghệ sĩ chúng tôi cũng “sống không dễ” trong sự viết lách. Viết đúng luật lệ thì chỉ có hai chủ đề: căm thù và hy sinh. Cũng chỉ có ba loại người được tôn vinh: công, nông, binh. Cái thế giới mênh mông, nhiều màu sắc ngày một thu hẹp và chỉ có hai màu: đỏ là quân ta, đen là quân địch. « 
Cái bi kịch lớn nhất của người cầm bút là sự thắt buộc, xét nét trong sáng tác , giản lược hoá đời sống thành những sơ đồ cứng nhắc và đơn điệu :
« Văn chương cách mạng thoạt đầu cũng lạ so với văn chương thời trước nên được bạn đọc trẻ hoan nghênh. Nhưng cứ phải đọc mãi một vài đề tài quen thuộc, một vài loại người quen thuộc và những tâm trạng rất quen thuộc ngay những bạn đọc trung thành cũng phải chán. Chính chúng tôi cũng tự chán mình. Tài đã kém lại bị bó chặt từ đầu tới chân, xoay tới xoay lui cũng chỉ có một vòng quay, ú ớ một cách nói, càng viết càng nhảm cũng là phải. « 
« Xoay tới xoay lui cũng chỉ một vòng quay, ú ớ một cách nói » - nhà văn khác nào nghệ sĩ múa ballet bị đẩy ra sân khấu mà lại bị buộc hai chân với nhau chỉ bằng một đoạn giây. Vậy sao mà nhảy ?
Trong giới cầm bút, chắc không ai thấm thía cho bằng Nguyễn Khải cái ê chề, nhục nhã của một nhà văn bị buộc phải viết theo « yêu cầu chính trị » :
«  Một nền văn nghệ phải phục vụ chính trị (mà chính trị thì sớm nắng chiều mưa) là đã mất một nửa tự do rồi, lại phải phục chính trị theo nghĩa các chủ trương, chính sách của từng thời kỳ thì còn gì là tự do nữa. Ấy là chưa nói mỗi cấp cầm quyền lại có những yêu cầu riêng, những cách đối xử riêng, lúc nhu lúc cương, cái thằng nghệ sĩ chả còn biết lối nào mà lần. « 
Tất nhiên chạy theo những yêu cầu nhất thời của chính trị, văn chương làm sao có được  nhưng tác phẩm để đời. Chính vì vậy Nguyễn Khải riễu cợt các thứ giải thưởng văn chương trong chế độ cộng sản :
«  Văn chương đã đến nông nỗi ấy mà vẫn có giải thưởng quốc gia, nhưng những tác phẩm được giải thưởng Lenin, Stalin liệu có còn cuốn nào được người Nga hôm nay muốn đọc lại. Tôi cũng được giải thưởng văn chương cao nhất cấp quốc gia, nhưng tôi biết chỉ mươi năm nữa, thời thế đổi thay chắc chả còn ai nhớ tới mình nữa. « 
Hơn ai hết, Nguyễn Khải tự biết tác phẩm « phục vụ chính trị của ông » rồi đây sẽ « tung toé «  hết và ông chỉ là nhà văn của một thời :
« Tôi là nhà văn của một thời, thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân. Buồn nhỉ? Nghĩ lại cũng chả có gì phải buồn, con người vốn sống trong những chiều kích hữu hạn lại mơ tưởng những gì do con người làm ra sẽ thuộc về vĩnh viễn, có hoạ rồ! Tất nhiên vẫn có nhiều công trình của trí tuệ thuộc về cõi bất tử nhưng là của các thiên tài. Với bộ não con sâu cái kiến, ngước nhìn những cái đầu khổng lồ ấy làm gì cho thêm buồn ra. Hãy viết những gì trong cái tầm nhìn tầm nghĩ của con sâu cái kiến vậy. Một cách nghĩ thiếu “tự hào dân tộc” nhưng chắc chắn là một cách nghĩ đúng. Đã từng có những quốc gia từng nghĩ từng viết rất tự hào, rất kiêu hãnh rằng dân tộc họ đã sải bước trước nhân loại cả trăm năm, sắp chạm tay vào cánh cửa thiên đàng rồi! Mà rồi sao nhỉ? Là như mỗi chúng ta đều đã được chứng kiến trong suốt mấy chục năm nay đấy! »
Đúng là nỗi buồn đến ê chề của một nhà văn biết rằng mình trắng tay đi sang thế giới bên kia sau cả một đời cầm bút tận tụy phục vụ Đảng.

                                                                            (còn tiếp)




Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

MIỀN.."CỤP LẠC" ( KỲ 7 )




                         (tiếp theo)

Không lẽ cứ nằm ngoài hiên hắn biết hết được hoàn cảnh mọi người trong khu tập thể ? Chắc không phải vậy, một khi hắn biết rõ về gã chắc hắn phải tránh xa thằng cha dính dáng tới cảnh sát. Ý nghĩ đó lại làm nhói lên   câu hỏi “ tiếng động nhà dưới anh nghe thấy là cái tiếng gì ? Khai báo thành thật là cách tốt nhất cho anh “.
Gã cố xoá đi gương mặt lão cảnh sát  giương đôi mắt trắng dã nhìn gã. Khỉ thật, cố quên chẳng được, lúc nào nó cũng trong đầu . Vô lo vô nghĩ như thằng ăn mày lại sướng. Kìa , gà đã gáy ồ ồ rồi , trong đầu hắn chắc chỉ có gà quay với đàn bà chứ chẳng ám quẻ một lão cảnh sát như mình. Thôi xoá lão đi bằng tưởng tượng ra cô vợ anh hàng xóm vậy. Gã ôm lấy đầu, quắp người như con tôm. Tuy nhiên tiếng ngáy, mùi hôi bốc ra từ người gã hành khất làm trí tưởng tượng của gã không sao bay nổi tới lầu ba nơi có người đàn bà đẹp nõn nà, như một con chim bị thương cố giãy giụa  đôi cánh tuyệt vọng , nó đâm đầu xuống bãi sình của giấc ngủ mù loà…

Bốn 

Khi sự chờ đợi đã bay hết mùi phập phồng , rạo rực, gã định đánh thêm bức điện nữa, bỗng một hôm ông lão gác gan đạp cửa bước vào phòng chìa cho gã tờ điện :  “ Xin huỷ hợp đồng dịch vì sách không bán được, Nhà xuất bản không có tiền!  “ 
“ Khốn nạn”, gã quăng vào mặt lão gác dan câu chửi cứ như chính lão đã đánh điện cho gã . Một tác phẩm lớn như thế của một nhà văn vĩ đại như thế mà chúng dám nói  “sách bán không được “. Khốn nạn. Nhưng lão gác dan lục lọi cái gì trên mặt  bàn kia ? Bàn tay xương  xẩu của lão lật lật chồng bản thảo, cặp mắt trắng dã chúi xuống dò dẫm :
- “Âm thanh và cuồng nộ”… Tiểu thuyết Mỹ…  Á   à… ghê nhỉ, sách phản động hả ?  Không phản động sao người ta lại huỷ hợp đồng ?” 
-  Là vì chúng nó ngu, chúng nó ngu, bác hiểu chưa ? 
Lão gác dan ngấc cái miệng lên : 
- Chúng nó ngu hay anh ngu ?  
Vẻ khoái trá đầy giễu cợt trong giọng cười của lão làm gã tức trào nước mắt.  Lão nhổ vào lòng mình mà không thể táng một quả đấm vào gương mặt khả ố kia.  Hèn, hèn, hèn…
- Anh đã xoay được mười ngàn chưa ? 
- Trời đất… bác đã xem bức điện rồi đấy. Người ta có chịu trả tiền tôi đâu ? 
- Vậy chuẩn bị vài ngày nữa  đi lao động nghĩa vụ. Kỳ này người ta  khoán khối lượng đấy. Sức vóc anh thế , chịu sao nổi ?
Lão nhìn gã chằm chằm rồi gật gù : 
- Anh giả nghèo giả khổ giỏi đấy. Có chục triệu trong tay lúc nào cũng làm như sắp chết đói đến nơi. 
- Chục triệu trong tay ? Sao bác dựng chuyện lên thế ?
 Gã kêu lên kinh ngạc trước cái cười tinh quái làm ra vẻ đã biết tỏng gan ruột gã của lão gác dan đang vảy vảy tàn thuốc lên mặt bàn.
-  Đi ăn tiệm này, đi chơi điếm lại còn đưa nhau vào nhà hàng nữa. Tôi hỏi anh không phải triệu phú ai dám ăn chơi như   thế ?
 Mình có nghe nhầm không, hay lão già là con ma xó ? Vậy mà cứ tưởng đã “ qua mặt “ được lão, đến nước này chỉ còn cách ở lì trong buồng, nằm trên giường mà thở.  Nhưng vậy rồi cũng chẳng tránh được cái giọng đe doạ đầy khoái trá của lão luôn đặt gã vào cảm giác bất an.
- Nói thật nhá, đừng có hòng bướng. Thành khẩn là tốt nhất, cái thứ anh người ta chỉ búng một cái chết. 
- Cái gì ? Bác nói cái gì lạ vậy ?
- Nói gì thì anh phải biết chớ. 
Những mạch máu giật giật trên cổ cò khẳng khiu  của lão làm gã run lên thèm bóp chặt đôi tay ngay chỗ đó.Mắt tối sầm, vị đắng chát trào lên miệng , gã bước giật lùi cố tránh xa khỏi lão. Cảm giác sát nhân là như thế này đây, thực không ngờ nó nằm ngay trong gã.  Phải lập tức huỷ diệt nó bằng cách hướng tới một cái khác, gì cũng được, miễn không phải bộ mặt sắt gỉ kia.
Lão già bước vào buồng tắm đái tồ tồ như thể hào phóng ban tặng gã cái chất thải hiếm quý của lão. Cũng được thôi, gã cười như thằng ngố, bây giờ lão có ỉa trên giường mình cũng phải chịu, chẳng thể làm gì được, quát vào mặt lão cũng chẳng dám, ha ha, cũng được thôi, ha ha… 
- Cười gì như động  rồ thế kia ? 
- Tôi đã nghĩ ra cách rồi ! 
Lão vảy vảy cái của lão,  cài khuy quần và  dòm vào mặt gã :
- Cách gì ? 
- Kiếm  tiền chứ còn gì !
 Đến lượt lão cười òng ọc :
- Mở két hàng xóm hả ? 
- Không không, tôi sẽ bán mấy cuốn sách đi lấy tiền nộp bác. 
- Ấy đấy,  lại giả nghèo giả khổ rồi. Mặc anh muốn làm gì làm miễn có tiền đưa đây. 
Lão hé cửa sổ, ngó sang bên kia, chắc chỉ thấy người chồng, lão rụt đầu lại, nháy mắt : 
- Tối nay họp tổ dân phố nghe chưa ? Không được vắng mặt, anh cứ sống xa rời quần chúng thế này không êm đâu. 
Thôi được, gã nghĩ sau lúc lão gác dan đã buông  tha, thôi được, mình sẽ bán  đi mấy bộ tự điển, mấy bộ sách  Henry  Miller, Proust,  Joyce, lạy các bố, các bố chỉ tán suông thôi, cứu rỗi được ai đâu, tới ngày tận thế,  một thằng điên bấm một cái nút thế là thép cũng như bã, thần linh cũng như ma  quỷ …tất cả đều bình đẳng thành tro hết. 
Nhìn thấy mấy bộ sách quý trong tay gã, thằng hàng sách có bộ mặt ngựa lập tức  hau háu cặp mắt đầy rử :
- Bán hả ? 
Hắn sờ nắn gáy sách, lật giở từng trang kỹ càng chẳng kém hải quan khám hàng lậu với vẻ lo lắng như thể văn chương, tư tưởng các thiên tài thủa trước, ngày nay người ta cũng làm giả được hết. Hắn dừng trước một trang chi chít nét bút gã gạch đỏ,” thế giới chỉ rút tỉa được ở nơi tôi đôi chút giá trị chừng nào tôi thôi không còn là một thành phần trang nghiêm của xã hội”, gớm, ông cứ gạch bừa thế này thì bố ai còn đọc nổi, mà cứ phải là thành phần bất hảo mới đóng góp cho xã hội sao ? Loạn, xúi người ta làm loạn.  Hắn kêu lên đau khổ và lại tiếp túc sờ nắn ông Henry Miller.
Gã cũng rời mắt khỏi trang sách ngước lên trời, sa sỉ, những tư tưởng  ấy chẳng khác gì lọ nước hoa đắt tiền đặt trong tủ kính trước mũi một thằng bụng réo ùng ục chỉ mong một mẩu bánh mì. Thôi xin các thiên tài, các bố toàn huyên thuyên chuyện trên giời dưới bể.
Cuối cùng thằng mặt ngựa cũng làm xong cái việc định giá chồng sách, cái miệng đầy răng ám khói thuốc nhả ra một câu chết người :
- Tôi mua cho ông theo giá giấy cân, ưng không ? 
- Bao nhiêu ?
Lẽ ra chỉ dăm ngàn, thôi, chiếu cố trí thức, tròn một chục đấy. 
Mẹ kiếp, gã nắm tay chỉ muốn đấm vào bộ mặt dài thượt, cả một thế giới tinh thần gã thường trốn vào đó trong những giây phút cô đơn  trong căn buồng hẹp chỉ được hắn đánh giá bằng 10 kí gạo hoặc 20 gói  mì ăn liền, khốn nạn, khốn nạn.
- Thêm cho ông anh một ngàn nữa, bằng giá cả một bộ  Britanica vừa mua kia.
 Tiếng dạ dày rên lên làm xẹp luôn phẫn nộ, gã nhìn pho từ điển Anh quốc xếp hàng oai vệ, phô ra vẻ vàng son choáng lộn chẳng hề biết thân phận nó cũng chỉ được đánh giá bằng mười ký gạo. Nhưng bây giờ không phải lúc nghĩ ngợi khi trong tay đã có tiền và dạ dày  đang lên cơn gào thét. Thế rồi khi hương vị của bát phở vỉa hè bốc nghi ngút, khua động từng tế bào trong cơ thể, bỗng đâu xịch tới một chiếc xe máy và một gã đầu béo múp như đứt dây rơi xuống từ trên trời :
- Mẹ ơi, tìm ông muốn hụt hơi , ai ngờ ông lại ngồi đây… 
Hắn nâng niu cái xe máy lên vỉa hè nom chẳng khác chú rể dìu cô dâu vào  phòng cưới .
- Đèn vuông, màu cánh gián, đánh lửa bằng bộ điện tử, tôi đố ông tìm đâu ra chiếc thứ hai ở cái thành phố này đấy. Có thằng xin chết 3 cây 8 ngay chiều qua mà tôi chưa cho đấy. 
Gã nâng bát phở lên, húp cạn chỗ nước cuối cùng, tiếc rẻ đã ăn quá nhanh, nếu không có cái thằng cha phá đám này, hẳn gã còn ngâm ngợi kỹ lưỡng hơn  nữa.
- Anh tìm tôi có việc gì ?  Bán xe máy  hả ?
- Không bao giờ, ông đánh  giá túi tiền ông quá cao đấy…
 Hắn đã chịu rời mắt khỏi chiếc xe máy từ nãy hắn vẫn nhìn với vẻ thán phục và rút trong cặp, đặt lên bàn một… khẩu súng lục trong tay một người đàn bà khoả thân đang nằm ưỡn giữa ngổn ngang chăn gối.

                              (còn tiếp)

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (kỳ 50)


                                          (tiếp theo )

Một khi các cơ quan truyền thông đều nằm trong tay Đảng, một khi 700 tờ báo trong cả nước chỉ có một ông Tổng biên tập – đó lại là một ông “cảnh sát văn nghệ” đầu óc vừa hũ nút , vừa ngạo mạn lúc nào cũng lăm lăm cái còi thổi bắt cả 85 triệu con người đi vào một “lề đường” quy định là…”lề bên phải”, vậy thì tiếng nói của sự bất bình, tiếng nói của sự phản kháng trước mọi cái ác, cái bất lương, cái ngu dốt của Nhà nước này sẽ được cất lên từ "cái lề" nào ?
May thay dân tộc Việt Nam còn có truyền thống sáng tác…chuyện tiếu lâm. Nếu như ngày xưa “chuyện tiếu lâm” là vũ khí đánh vào cái thối nát, hủ lậu của chế độ quan lại phong kiến thì bây giờ nó nhằm vào các tầng lớp cán bộ từ sơ cấp đến trung cao cấp , và cao hơn nữa chuyện tiếu lâm ngày nay không chỉ nhằm vào các “thói hư tật xấu”, nó đã được dân chúng “nâng cấp lên” thành một thứ tiếu lâm…chính trị :
“Nhưng dân chúng vẫn có cách xả nỗi bất bình của họ bằng cách sáng tạo ra nhiều chuyện tiếu lâm chính trị. Trong cả nước không đâu có nhiều chuyện tiếu lâm bằng Hà Nội vì nó là thủ đô hành chính, mọi chuyện cung đình vừa thật vừa giả tràn gập các quán cà phê mỗi ngày. Không ra được báo viết thì làm báo mồm vậy, lời nói bay đi lấy đâu làm bằng, tưởng như vô hại mà hại vô kể. Vì nó sẽ thành dư luận, không ai bắt giam được dư luận, giết được dư luận, cái dư luận hỗn tạp, vô sở cứ mở rộng mãi ra, bao trùm mọi việc mọi người trở thành mặt bằng mới để đặt ra các tiêu chuẩn sống cho một thời.”
              Tiêu biểu cho cái loại “tiếu lâm chính trị” này là truyện ba đồng chí  “Ba Đồng Chinh “ đi máy bay. Truyện rằng trong một chuyến bay chuyên cơ , đồng chí Ba ( tức Ba Duẩn - Lê Duẩn), đồng chí Đồng ( Phạm Văn Đồng), đồng chí Chinh ( tức Trường Chinh) bàn nhau làm sao cho dân sướng ? Đồng chí Ba nói giờ tôi có một bao tải tiền vứt xuống hẳn dân sẽ sướng lắm. Ba đồng chí còn đang bàn nhau nên vứt xuống cái gì thì anh lái máy bay quay xuống xin thưa rằng :
” Báo cáo , bây giờ tốt nhất là vứt cả ba đồng chí xuống thì là dân sướng nhất đấy ạ…”
Chính sống trong một xã hội mọi kỷ cương phép nước đều trong tay cán bộ Đảng, ngay cả hiến pháp cũng như pháp luật đều do Đảng nắm giữ, cá nhân không được phép tham dự , bàn thảo gì dẫu là đóng góp cho lợi ích xã hội nếu không nằm trong sự kiểm soát của Đảng thì cũng là…”thế lực phản động”.. Bởi vậy đã nảy sinh ra bệnh “thờ ơ”, mặc- kệ - nó phá huỷ ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng :
“Cái tiêu chuẩn mới có tên gọi là "mặc kệ nó". Nó là người khác, là nhà nước, là bất cứ ai, bất cứ việc gì không có quan hệ trực tiếp tới các lợi ích cá nhân mình. Cái cá thể sau một thời gian dài nhập vào cái tập thể đã tự tách ra khỏi nó để tìm lại mình. Nhưng cách tìm lại ấy thường thuộc về phía tiêu cực của con người, lấy lợi ích bản thân làm mục tiêu nên không tạo ra được sự thăng hoa, sự tự do chân chính, là môi trường cho mọi sáng tạo độc đáo, vừa thấm đẫm tính cá nhân vừa thấm đẫm tính thời đại ở yếu tố tiền phong của nó.”
Cái con người “mặc kệ nó” đó chính là dòng dõi chân truyền của “con người mới  xã hội chủ nghĩa”, bởi lẽ chỉ có trong một xã hội không có “tính công dân” như xã hội xã hội chủ nghĩa mới sản sinh ra thứ người “mặc kệ nó” như vậy.
Mặc dầu ở Việt Nam còn chưa biết bao giờ mới có tự do nhưng quan sát sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự hồi sinh sau đó, Nguyễn Khải phân biệt hai loại tự do : tự do trong các nước đã từ lâu có chế độ dân chủ và tự do tại các nước mới thoát khỏi chế độ cộng sản :
“Ở đây tôi muốn nói thêm, tự do được nuôi dưỡng tự nhiên trong môi trường dân chủ là tự do của cống hiến, còn tự do vừa thoát ách chuyên chế thường có tính phá hoại, trả thù, để bù lại những năm tháng bị tước đoạt. Cứ so sánh về tự do của một xã hội dân chủ nhiều trăm năm như Hoa Kỳ và tự do vừa giành được của nước Nga Xô Viết là đủ rõ. Vì nó không được chuẩn bị, không được giáo dục, mọi bản năng của con người được xổng ra nhất loạt sẽ gây hỗn loạn cho cộng đồng, nhiều hơn là xây dựng. Dân chủ và tự do phải có thời gian để làm quen, để học cách sử dụng và bảo vệ, phân được ranh giới giữa cá nhân và cộng đồng. thành pháp luật, thành tập quán mới có thể đơm hoa kết trái được.”
Phải chăng cái thứ “tự do” có “tính phá hoại, trả thù, bù lại những năm tháng bị tước đoạt” phần nào đang hoành hành trong cái đám con ông cháu cha dùng tiền tham nhũng của bố  ra sức ăn chơi đập phá, mặc sức hưởng thụ , bất chấp đạo lý xã hội .
Nguyễn Khải phê phán cách nhìn nhận xã hội tư bản theo hệ tư tưởng “chính thống của Đảng” :
“ Ở xã hội tư bản mà chúng ta vốn có thành kiến là rất xấu xa lại thường hay cho những tiếng kêu cứu, bảo vệ những giá trị truyền thống của cá nhân, vì đồng tiền đang làm mất phẩm giá của con người, phá vỡ nền tảng đạo đức, làm rối loạn các mối quan hệ xã hội. Con người được sống no đủ, trong tiện nghi mà vẫn đối địch với nó, muốn thoát ly khỏi nó vì không được thoả mãn những nhu cầu về tinh thần. Ta hay lấy những chuyện đó để làm chứng một cách hả hê cho sự tha hoá của con người sống dưới chế độ tư bản.”
Thực ra “Những cái giá trị cá nhân chỉ được nhìn nhận, được tôn vinh ở những xã hội tương đối tự do, các mối quan hệ giữa người với người tương đối tốt đẹp.” và xã hội đó không ở đâu khác chính là xã hội tư bản.
Thế còn xã hội cộng sản thì sao ?
Đáng sợ nhất là con người lúc nào cũng bị rình rập , bị sẵn sàng kiểm điểm  phê bình, giáo dục chính trị tư tưởng :
“Vậy các công dân của chế độ xã hội chủ nghĩa thì sao?”
“Cuộc sống tập thể đã nhấn chìm cuộc sống cá nhân, cuộc sống trong chiến tranh đã xoá nhoà mọi thói quen của cuộc sống thời bình. Lúc nào cũng có kẻ thù rình rập đâu đó để tìm cớ lật đổ chế độ bằng vũ trang, hay bằng diễn biến hoà bình. Lúc nào cũng được đồng chí trong chi bộ, bàn bè cơ quan giám sát mọi tư tưởng và hành vi để ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân của mỗi thành viên.”
 Cái điều kinh khủng nhất là Đảng luôn luôn gieo giắc sự nghi kỵ  trong toàn dân để rồi người với người luôn luôn phải dè chừng, đối phó nhau cho dù phương châm cao nhất về quan hệ xã hội lúc nào cũng đề cao “ người với người là bạn “ (!) :
“Lúc nào cũng phải đề phòng, phải đề cao cảnh giác cách mạng, không tin cậy bất cứ ai, kể cả bạn bè.”
Ngẫm nghĩ thân phận mình, thân phận của những đồng nghiệp cầm bút, Nguyễn Khải phải kêu lên :”
“Chỉ có một điều lạ, là trong hoàn cảnh sống không có một tí tự do nào cho cá nhân mà chúng tôi vẫn sống được, lại còn viết  văn làm thơ được!”
Ông nhà văn quên béng một điều : đúng là “không có tý tự do nào mà chúng tôi vẫn viết văn làm thơ được ” nhưng mà là thứ văn thơ xu thời, thứ văn thơ phục vụ chính trị, thứ văn thơ dối trá kích động con người thực hiện những mục tiêu đầy tham vọng coi rẻ tính mạng con người  của Đảng, thứ văn chương “minh hoạ” mà  nhà văn Nguyễn Minh Châu đã “đọc lời ai điếu cho nó”.
Mặc dầu bộ máy tuyên truyền của Đảng ra sức bôi xấu “80 năm thuộc địa của Pháp” nhưng Nguyễn Khải lại nhìn nhận đó mới chính là giai đoạn chói sáng của văn học nghệ thuật :
“Suốt 80 năm sống dưới ách đô hộ của Pháp, chúng ta vẫn đặt được những viên gạch đầu tiên cho nền văn xuôi Việt Nam. Những truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tuỳ bút của thời ấy được in trên các tuần báo hoặc xuất bản thành sách nay đọc lại vẫn thích thú, vẫn làm ta cảm động. Nhiều truyện được đọc từ tuổi niên thiếu vẫn ám ảnh ta tới tận lúc tuổi già, và một loạt các nhà thơ, nhà phê bình văn học của cái thời gọi là thuộc địa đã trở thành những tên tuổi lớn tồn tại mãi mãi trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Làm thân nô lệ mà vẫn trỗi lên thành những tài năng lớn là sao? Không chỉ trong văn chương mà còn cả trong mỹ thuật, trong kịch nghệ. Không chỉ trong văn nghệ mà trong cả khoa học, giáo dục, trong kinh doanh theo kiểu tư bản và trong nhiều nghề truyền thống. Tất cả đều được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ, được phát sáng, được bộc lộ mạnh mẽ các tài năng cá nhân và họ đã trở thành người khai sáng, người mở đường, thành tổ nghề, không chỉ có tài lớn mà còn có đức lớn, là những nhân cách kiểu mẫu cho con cháu, cho giống nòi, đều là chuyện có thật cả, không thể bóp méo hoặc bác bỏ. »
Và ông nhà văn phải đau đớn thốt lên câu hỏi không chỉ dành riêng cho Đảng mà cho cả giới văn nghệ sĩ :
« Làm thân nô lệ ( thời pháp thuộc) mà vẫn trỗi lên thành những tài năng lớn là sao ? »
Và đến khi chuyển sang « đời ta có Đảng » thì các « tài năng lớn » đều bị thui chột. Vậy là sao ?

                                                                             (còn tiếp)



Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

GIẢI MẬT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN


 
          “Anh cử nhân toán lý tên Tam thành ra  nhà văn Nhất Linh, nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, làm “tự mê' cái tên Khánh Dzư thành Khái Hưng : trở thành hai cây đại thụ góp phần đặt nền móng cho nền  tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam. “

MẸ TÔI KỂ VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN :
           
               “Những người mất cả vốn lẫn lời”
                                                 
                                                               NGHIÊM ĐA VĂN

                                   Nhà văn Khái Hưng
                
           
Mẹ tôi là con gái út cụ Cử Tiết : Nguyễn Đức Tiết . Ông ngoại tôi dỗ tiến sĩ đời Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè, vì ông không nhận mũ , mãng vinh quy của ông vua mới do Tây dựng lên, mà theo hịch của ông  vua cũ : Hàm Nghi thời ông đỗ Cử  nhân, trưởng Nam. Ông ngoại tôi có ba người bạn đồng khoa : cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am. (ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền).
Tình bằng hữu của các cụ nhà nho  ngày xưa rất đặc biệt . Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện, dân  gian gọi  chủ tướng là Đề Hẹn, gọi quân sư là Đốc Tít.
Còn cụ  Cử Nguyễn làng Xuân Cầu bỏ quan di dạy học. Cụ Cử làng  Hành Thiện theo quân triều đình làm  tham tán quân vụ . Cụ Cử làng Cổ Am thì di làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau  như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến tổng đốc đã nhận các con bạn  “làm  giặc" về nuôi là con, cho ăn học thành tài.
Mẹ tôi kể : Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu ; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan ; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh ; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu... Khi cụ tuần Trần Mỹ (tức cụ Cử Cổ Am) trị nhậm ở Thái Bình, Nam Định. tất cả các bác. các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ một vài người đỗ vào trường bảo hộ tức trường Bưởi Hànội.
 Người sớm có chí lo việc "quốc sự" là cậu Tú Dzư , tức Trần Dzư . Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu bổ, đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý cha. cậu Tú Dzư bị cắt hết  trợ cấp . Cậu ấm con quan bi đẩy ra cuộc đời  với hai bàn tay trắng, khi tuổi đời chưa tới hai mươi. Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải phòng tìm bạn cùng chí hướng . Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin một chân thư ký một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, trên đường quốc lộ nối liền Hà Nội - Hải phòng. Tại nơi này Tú Dzư gặp một người bạn dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo sự chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết , cả nhà ở lại . Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em  là Lân và  Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết  vài ba bài báo in trong tạp chí  của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học .
Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có khí huyết hồi đó . Vì ý nguyện yêu nước mà cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần nên bỏ cách đặt tên “”Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, tự đặt cho mình cái tên lót  "Khánh" trở thành Trần Khánh Dz­ư. Lấy việc bán dầu hỏa giống với việc bán than chờ thời để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.
Làm thư­ ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian. Tú Dxư ­ cùng ba anh  em Tam, Lân, Long lên Hà Nội góp tiền mở một hiệu ảnh ở trước  cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên hiệu ảnh Hư­ơng Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng muốn cái việc chớp hình của mình ghi lại cái đẹp nhất của tục vật, cái hương  của đời. Để thêm ngư­ời làm việc , cậu Tú Dzư­ vào Nam Định rủ thêm Cảnh là em nuôi, Tiêu là em ruột lúc bẩy giờ bị đuổi khỏi trường Thành chung vì tham gia phong trào bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và đẻ tang cụ Phan Chu Trinh.
Mấy anh em tập trung vừa làm thấy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hư­ơng Ký nhỏ bé.
Cánh Nam Đồng thư­ xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo... tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hư­ơng Ký. Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng thư­ xã với chủ nghĩa Tam Dân : Dân tộc : độc lập, Dân quyền : tự do, Dân sinh : hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên (bên Tầu) đề xướng . Còn anh em trong nhóm Hương Ký rất mê Thế kỷ ánh sáng của các triết gia Đức, Vônte, Montesquieu ...
Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông được  cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và cử vào học lớp  chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ai Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cột bảy người ở 5D Hàm Long Hà Nội. Đây là chuyện của lich sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Nhóm Nam Đồng thư xã hoàn chỉnh học thuyết của mình thành lập  Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương phát động phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh . Cả hai phong trà đều bị dìm trong bể máu của khủng bố trắng.
Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một  sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi tên học theo  thể thức dự thính là Lễ , và một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự  tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca , cách mạng văn chương, cách mạng lối sống... Vũ khí họ chọn là ngòi bút. Lịch sử 80 năm qua cho rằng họ thiếu dũng khí không dám cầm súng... Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh, gia sư , công chức hạng bét. Họ là  những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi , hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường , chưa hề viết một bài thơ, một đoản thiên.
Họ góp tiền lại mua một "măng sét" (tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh : Báo Phong Hóa .
Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới , xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt  Nam hiện đại.
 Chàng sinh viên học thính thị Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành  con hổ nhớ rừng và là vị  chủ soái Thề Lữ của phong trào Thơ Mới . Anh  chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu , người tình h muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt  một  kỹ sư  canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận.
 Anh cử nhân toán lý tên Tam thành ra  nhà văn Nhất Linh, nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, làm “tự mê' cái tên Khánh Dzư thành Khái Hưng : trở thành hai cây đại thụ góp phần đặt nền móng eho nền  tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam.
Cậu Long, sinh viên khoa luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý  của nhóm, nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thày của truyện  ngắn Việt Nam. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền  thống "Trần Cộc" không tên đệm thành nhà văn Trần Tiêu,  nhà văn viết tiểu thuyết dầu tiên của Việt Nam mô tả cái hồn của đời  sống nông thôn.
Thấy ký sở Phi Năng tên Hiếu. họ Ngô, đệm Trọng trở thành thơ trào phong nổi tiếng : Tú Mỡ nối nghiệp Tú Xương .
Nhóm Phong hóa lập nên "Tự Lực Văn Đoàn" là một văn đoàn lớn , không nhận tài trợ của bất cứ ai, lập giải văn chương, giải thưởng khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng,  Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn...
 Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phân lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên  các tờ Phong Hóa. Ngày Nay. nhà xuất bản Ngày Nay .
Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào, riêng Khóa Cảnh tức Nguyễn Đức Cảnh, bí thư cộng sản đầu tiên của Hải phòng, Quảng Ninh , lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh , bị tử hình cũng là một thà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết  giao với nhà xuất bản Tân Dân, Tiểu thuyết thứ bảy thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiếu, khóa Khu là Đặng  Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng . Riêng Đặng  Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ ký tên Sóng Hồng .
Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bạn đồng khoa mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ  của các bậc khoa bảng Bắc  Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người  vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng "đẻ" ra quan. Dân gian vì thế có câu :"VÚ Đồ Sơn, L... Cổ Am". Ba người  bạn đồng khoa đều lẩy con gái nhà họ Trần, một họ lớn cuả làng Cổ Am do chính bạn mình là cụ Cử Trần My mồi lái.
 Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười :
- Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu "nhật trình" Phong Hóa, các bác, các cậu "ăn dỗ" đám các chị  em  gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng , một bộ xà tích vàng... hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao mất cả vốn lẫn lời.
Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả nhũng người thân  của mẹ  tôi, những người  lập nên Tự lực văn đoàn đều  mất cả vốn lẫn lời như mẹ tới. Chỉ có nền văn hoa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này những người xây lâu đài trên nền  móng đó vẫn chưa thực sự công nhận những viên gạch đó là nền móng văn chương nước nhà.
Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út  của tất  cả những người  anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi là Thừa, Nguyễn Thị Thừa.  Mẹ tôi đã kể những chuyện này.

NĐV

Bài đăng Văn học & Dư Luận số 5-1992

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

MIỀN "CỤP LẠC" (KỲ 6)



                                
                                                       (tiếp theo)

Nguy rồi, không khéo phải ngủ hè như đám hành khất đang nằm cả dẫy kia.
- Bác ơi, bác ơi…  mở cửa giúp tôi… 
Giọng vật nài, khẩn thiết của gã luồn qua khe cổng, tan loãng vào bóng đêm. Không, nhất định lão gacdan có nghe thấy, già như lão rất tỉnh ngủ. 
- Bác ơi, bác ơi… mở cửa giúp tôi...
Gã cứ gọi, gọi mãi, mỗi lúc tuyệt vọng cho tới khi ai đó đập tay vào vai làm gã giật nảy . Một gã đàn ông râu tóc bù xù , tay cắp đôi nạng nhe ra hàm răng cải mả :
- Gọi làm đéo gì, vô ích, lão già ấy giả điếc rồi, ra kia nằm với tớ !
Ừ thì nằm vỉa hè đã sao, người ta nằm cả năm cả đời được, mình có một đêm’.Trớ trêu , gã đàn ông dẫn gã tới chiếc chiếu trải sẵn dưới mái hiên ngôi nhà có đôi vợ chồng đối diện cửa sổ phòng gã. Nằm ngửa ra, gối đầu lên hai tay chắp sau gáy, nhìn lên cả một mảng trời toàn sao, gã bỗng nhớ lại tưởng tượng mấy hôm trước trong lốt ông Giám đốc, thủ trưởng người đàn bà giờ này đang nằm cao hơn gã ba tầng lầu.
Quả thực tưởng tượng và hiện thực cách xa nhau làm sao. Không phải là ông Giám đốc thơm phức trong bộ đồ comlê cắt khéo ôm trong tay người đàn bà rực lửa mà là quần áo xốc xếch, bụng đói meo nằm  cạnh gã hành khất hôi hám và bẩn thỉu.
Gã bật cười sằng sặc làm người đàn ông ngồi nhỏm dậy ngơ ngác :
- Cười gì thế ? Cười tớ hả ? 
- Không… tôi cười tôi thôi.
- Cậu thì có cái đéo gì mà cười.  À… cám  cảnh ngủ vỉa hè phải không ? Lần đầu chưa quen, ngủ nhiều mới khoái, như tớ chẳng hạn, giờ nhét trong buồng kín, giường chiếu đàng hoàng lại khó chịu, có khi không ngủ được . 
- Nhà cửa vợ con anh đâu ? 
- Đéo nói chuyện đó. Hẵng cứ biết trên đời trơ thần cụ có tớ. Ay thế mà sướng hơn vua. Này, nhìn coi… 
Gã rút trong bọc ra gói thuốc 555, bóc mời gã và khoe ngày nào gã cũng hút ít nhất một gói, sáng nào cũng điểm tâm phở tái, cà phê sữa, nổi hứng có thể ngồi xích lô đi thăm… “ chị em  ta.” 
- Anh làm  nghề gì lắm tiền thế  ?
 Gã tròn mắt kinh ngạc :
- Vậy ra đằng ấy chưa biết hả ? Nghề ăn mày chớ còn nghề gì ?
- Ăn mày cũng là một nghề ?  Vả lại…  nom anh khoẻ mạnh thế này. 
Vẻ mặt ngẩn ra của gã làm tên ăn mày bật cười. Thoắt cái gã đứng dậy, cặp đôi nạng vào nách, co một chân lên, mặt méo xệch, một bên má giật giật  giống y hệt kẻ tật  nguyền chính hiệu. Gã reo lên :
- Giỏi, giỏi thật . Anh  đóng kịch thế kia thì đến tôi cũng phải móc tiền ra cho. 
Gã ăn mày quăng cặp đồ nghề vào góc tường , vỗ đét vào người gã hể hả :
- Ăn thua gì, ngón nghề mới giở ra sơ  sơ cậu thưởng thức tí  thôi, còn nhiều  “ bí mật nhà nghề”  không tưởng tượng nổi đâu.
Gã gật đầu, chịu thua :
- Hoá ra ăn mày đúng là một nghề thật, có khi lại là cả một nghệ thuật ấy chứ…
Gã hành khất hứng trí móc trong bọc ra chai rượu và gói thịt nguội :
-  Mua trong tiệm đàng hoàng đấy nhá, không phải thức ăn thừa đâu. Thôi đừng khách khí, tớ nghe bụng cậu réo ùng ục từ  nãy. Cậu làm cái nghề gì mặt mũi hom hem, hốc hác thế kia ?
-  Tôi dịch  sách thuê cho Nhà xuất bản .
- Mỗi tháng kiếm được bao nhiêu ? 
Con số gã đưa ra làm gã hành khất  vỗ bụng cười : 
-Vứt bố cái nghề chữ nghĩa ấy đi. Đi ăn mày với tớ , ba ngày kiếm được bằng cả tháng lương cậu.
 Hơi rượu làm gã bốc lên kể lể. Cậu  đừng tưởng thiên hạ móc tiền thí cho tớ là do tình thương đồng loại đâu nhá , tớ đã ngẫm ra ở đời đéo ai thương ai, tiên sư chúng nó, mười đứa cho mình thì hết  chín đứa là vì chính nó thôi .Hai anh chị đang nỉ non tâm sự trên ghế đá buộc phải “ bố thí “  để được yên thân sờ soạng nhau, một gia đình ông lớn ngồi nhà hàng cũng buộc phải xuỳ tiền đuổi gã đi để các tiểu thư và phu nhân ăn uống ngon miệng khỏi lợm giọng vì cái nhớp nhúa, bẩn thỉu của gã, còn các bà lên chùa “lì xì”   thì lại nhằm gây cái đức để trời phật ban phúc …  Ấy đấy, dù có phải lừa lọc bằng cái hình dạng phế nhân này, tớ cũng đéo “ ăn xin “ thằng nào, tớ chỉ… tống tiền, tống tiền một cách … lương thiện vì các nạn nhân của tớ không có ai phải táng gia bại sản, bán vợ đợ con , còn lương thiện gấp ngàn lần những đứa bóp hầu bóp cổ dân nghèo. Thôi đéo nói đâu xa, cứ lấy cậu làm ví dụ, một cuốn sách cậu dịch in ra bán được bao nhiêu ? Phần chúng nó quẳng cho cậu liệu có bằng cái móng tay thằng chủ nhà in, chủ xuất bản không ? Tớ cũng đã từng bị chúng nó bóc lột như thế, suốt ngày còng lưng cạo giấy, cuối tháng nó thí cho đồng lương còm chỉ đủ đút miệng, tiền bạc chạy hết vào túi mấy thằng Giám đốc, Trưởng phòng ăn hại, và nói cho cùng đến Nhà nước cũng chẵng được lãi đồng cắc nào. Địt mẹ Nhà nước  … 
Gã hành khất say lắm rồi, nhưng vẫn đủ tỉnh táo nhận ra gã đang moi gan móc ruột, lộ hé ra cái phần đời tư của gã, bởi vậy gã im bặt, rót chén nữa, ấn vào tay gã :
- Uống đi, uống đi chứ, sao cứ ngồi giỏng tai ra nghe thế ?
 Quả thực cái “bài ca ăn mày “ làm gã ngẩn ngơ, bàng hoàng  như đứng trước  một ca mổ phanh phui hết tim, phổi lòng gan con người, lộ hé cho gã thấy mọi chiều cạnh của đời sống  mà trong cái tháp ngà căn phòng tầng ba gã chẳng bao giờ tưởng tượng nổi.
Thế rồi trong lúc tâm tưởng đặc sệt nỗi buồn vô cớ, tiếng còi xe máy thúc vào tai làm gã mở choàng mắt. Gã hành khất đang nằm gác một chân lên người gã cũng ngồi nhỏm dậy, đập gã :
 - Nhìn kìa, thơm chưa ? Được ngủ với con mẹ này mất một chỉ một đêm tớ cũng chịu. 
Chao ôi, chưa bao giờ gã được ở gần cô vợ anh hàng xóm đến như thế,  Mùi xà bông trầm thoảng tới làm gã giương mũi hít lấy hít để. Chiếc váy ngắn màu cà phê ôm sát khổ người mỡ màng.mái tóc dài xoã xuống, lấp ló đôi bờ vai trắng nuột, người đàn bà uyển chuyển trên đôi giày cao dựng xe, đi tới bấm chuông ngay trên đầu gã. Gã thấy như tắc cả thở khi đôi chân trần nõn nà tiến đến, gần đến nỗi chỉ cần dang tay gã  có thể ôm gọn lấy nó.
Không đầy hai phút sau, cánh cửa mở ra để anh chồng dắt xe máy vào nhà, theo sau là cô vợ nhún nhảy trên đôi giày cao bỏ lại sau mùi trầm làm gã mê mẩn.
Gã hành khất cười phá :
-  Thèm rỏ rãi ra ngồi phải không ? Này, nom thế mà chỉ được cái mẽ ngoài , trong thì khắm như cứt.
 Nghe gã xúc phạm   “người đẹp “, gã bực tức :
-  Ông biết quái gì mà nói xấu người ta.
Gã hành khất trợn mắt :
 - Sao không biết ?  Tối nào tớ chẳng nằm ở đây không biết sao được. Thỉnh thoảng cứ tầm mười giờ lại có một thằng cha đầu hói đánh xe con đưa chị ta về tận cửa. Xuống xe còn uốn éo: “ Thủ trưởng về nhé,chúc thủ trưởng ngủ ngon… “.
Gã cãi :
- Có thể người ta đi công tác muộn, cơ quan phải đưa xe về.
- Xì,  có công tác ở… trên giường. Không thế sao có tiền ăn diện như bà hoàng vậy ?  Lương chị ta khéo chỉ đủ son phấn .
  Gã thở dài ngao ngán :
- Liệu anh chồng có biết không ?
- Có hoạ mù mới không biết. Biết mà bấm bụng lờ thôi. Có khi còn xúi vợ ngủ với thủ trưởng kiếm chút  bổng ấy chứ. 
- Khiếp, ông nói ghê quá, cứ đúng như  ông nói thì đời toàn cứt cả.
-  Chứ  lại không ư ? Trí thức, trí ngủ, suốt ngày cắm đầu vào sách như cậu còn biết cái chó gì.  
Gã xoay người, quay lưng lại khỏi nghe những lời làm gã buồn nôn. Chưa bao giờ gã gặp một người thù ghét, khinh bỉ người đời như cái gã ăn mày này, chắc gã đã phải chịu nhiều cay đắng lắm mới ra cái nông nỗi thế, và chẳng hiểu sao lại tử tế với mình vậy ?

                          (còn tiếp)

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 49)


                           


                                (tiếp theo)          

Chắc chắn phải sinh ra, lớn lên, bú mớm “sữa” của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có nhận xét “gan ruột” như Nguyễn Khải khi ông hạ bút  :
“ Tính hài hước là cái thứ mà người cộng sản ghét nhất vì nó có thể biến mọi chuyện thiêng liêng thành trò cười.”
Bởi vậy mọi chuyện tiếu lâm, chuyện cười trước khi Đảng ra đời thì được coi là “vốn quý dân tộc” còn ra đời sau khi “đời ta có Đảng” thì bị cấm đoán, rượt đuổi có khi tù tội như nhà thơ Tuân Nguyễn với hai câu thơ :
“ Tiến lên ta quyết tiến lên
Tiến lên ta gọi cấp trên bằng…thằng”.                 
Để nói rõ hơn việc “biến mọi chuyện thiêng liêng thành trò cười.”, ông giải thích :
“. Học thuyết xã hội đã phải đội lốt tôn giáo để tồn tại thì mọi thứ thuộc về nó đều là thiêng liêng. Lãnh tụ thành thần thánh, lời nói bài viết của họ thành kinh bổn, cuộc sống cá nhân và xã hội của họ đầy ắp những chuyện phi thường. Hình ảnh của Lenin và Stalin, của Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành và lời nói của các vị ấy bao trùm lên toàn bộ cuộc sống tinh thần của các quốc gia họ cầm quyền, làm gì, nói gì, nghĩ gì đều không thoát ra khỏi cái bóng che ấy.. “
Vậy  một cách không trực tiếp, Nguyễn Khải nói chủ nghĩa cộng sản chẳng qua cũng là một thứ tôn giáo vì những lãnh tụ của nó đều đã thành “thần thánh” như  Lênin, Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành…tất nhiên ông không dám nói tới  Hồ Chí Minh. Và một khi “chủ nghĩa cộng sản” đã trở  thành tôn giáo thì tội ác của nó ghê gớm hơn tôn giáo nhiều :
“Vì tôn giáo là niềm tin, là thói quen, là tập quán, là vâng phục, là ở thế giới này chỉ có một chân lý, ngờ vực nó, đặt quá nhiều câu hỏi về nó chỉ là kẻ phản đồ, phải bị trục xuất khỏi cộng đồng, phải bị cách ly, bị ngồi tù để tránh mọi sự truyền nhiễm có thể.”
Tức là dưới cái bóng của lãnh tụ, con người đã bị tan biến thành những giun dế thấp nhỏ và run sợ :
“Bài hát về lãnh tụ trang nghiêm như thánh ca, người hát có dáng điệu sùng bái như tín đồ. Cái thế giới cá nhân của các công dân đã bị đốt cháy, đã thành tro bụi và tan biến trong hương khói của đền đài…”
Trong cái đám quần chúng giun dế ấy, tội nghiệp nhất là những người  trí thức, họ biết trốn vào đâu trong cái biển mê cuồng và tăm tối đó :
“Trong không khí ngùn ngụt lửa cháy cùng với tiếng sóng hoan hô khi gần khi xa không lúc nào dứt, vậy những người làm việc bằng trí tuệ sẽ tìm đâu ra một khoảng trời yên tĩnh và tự do để suy nghĩ về những công trình một đời của riêng mình..”
Ngay cả khi vạch trần thân phận trí thức dưới chế độ cộng sản, nhà văn Nguyễn Khải vẫn còn len lét sợ không dám gọi trực tiếp tên “trí thức” mà phải nhái thành “ những người làm việc bằng trí tuệ” đủ biết nỗi sợ trong ông vẫn còn dai dẳng biết chừng nào. Cái yêu cầu phải “nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” đối với ông thật nực cười khi ông dám huỵch toẹt Đảng còn lâu mới hiểu nổi trí thức :
“Người cộng sản sẽ không bao giờ hiểu được cách làm việc cá nhân, đơn độc, xa rời quần chúng, xa rời các phong trào cách mạng có tính địa phương của các nhà trí thức thấm đẫm “tư tưởng tư sản” ấy. Phải cải tạo họ bằng các chuyến đi thực tế, bằng các lớp học chính trị ngắn hoặc dài ngày, và bằng cả những lần được gặp gỡ thân mật với lãnh tụ để có thêm lòng tin vào những lý do phải tự phủ định, để khẳng định sự nghiệp vĩ đại của quần chúng.  “
Chính vì không hiểu nổi hoặc cố tình không hiểu, Đảng đã đề ra những yêu cầu thật quái gở đối với trí thức :
“Phải bỏ hẳn những tư tưởng triết học và thế giới quan phù hợp với cách nghĩ, cách nhìn, cách đánh giá của riêng mình, đã được chứng minh qua những trải nghiệm của bản thân để nhập vào dòng tư tưởng chính thống, cái triết học chính thống, cách nhìn nhận và đánh giá chính thống, xét cho cùng chả liên quan bao nhiêu tới cái tâm sự đang ấp ủ, tới những điều cần phải viết, và trên hết, máu thịt hơn hết là những phát hiện độc đáo của riêng mình trong lịch sử, trong văn hoá, trong nhân sinh.”
Vậy tất cả những gì “khác biệt” với tư tưởng của Đảng đều phải bị triệt bỏ. Toàn bộ xã hội chỉ duy nhất được phép có một dòng “tư tưởng chính thống, cái triết học chính thống, cách nhìn nhận và đánh giá chính thống “ mà hồi đương chức ông Bộ trưởng VHTT Lê Doãn Hợp gọi nó là “lề đường bên phải”. Vậy nhưng nếu chiều theo Đảng thì trí thức  - ông nhà văn đâu còn là mình ? Nhà văn Nguyễn Khải không dám “chống lại” mà chỉ dám “than vãn” :
“ Mất những cái đó thì còn sống tiếp làm gì, còn viết tiếp làm gì nên một số đã phải đổi nghề, bỏ nghề sáng tạo sang nghề cạo giấy, làm một anh công chức hiền lành, mẫu mực, vừa có quyền vừa có lợi. Cái danh cái lợi cũng có sức quyến rũ người ta lắm, qua nhiều năm tháng nó đã trở thành ý nghĩa quan trọng nhất để sống, sống với vợ con, với bạn bè, với xóm làng, với xã hội. “
Đó là một lời than “nhói lòng” một lời cảnh báo cho an nguy dân tộc khi kẻ sĩ tự chối bỏ vai trò của mình nhưng lại là một “tiếng đàn gẩy tai trâu “ bên những ông quan văn hoá văn nghệ của Đảng vừa dốt nát lại vừa vô cảm.
Tuy nhiên không phải văn nghệ sĩ nào cũng đổi nghề thành “cán bộ cạo giấy”, còn những người không chịu buông bút vì không thể kiếm sống bằng nghề khác đành cam chịu uốn ngòi bút theo yêu cầu của Đảng và lắm khi cũng bị đòn vọt trong những vụ án văn chương vì dám “buông thả mình theo cảm xúc tự nhiên “ mà đi trệch khỏi lề đường bên phải nên bị trừng phạt khiến tài năng bị thui chột :
“ Còn một số nhỏ vì không làm nghề gì khác ngoài cái nghề văn chương nên đã đầu quân về các nhà xuất bản, tuần báo, tạp chí tiếp tục làm nghề nhưng phải viết trong khuôn phép đã quy định, cũng có đôi lúc đã tự buông thả theo những cảm xúc tự nhiên hoặc bất chợt bị mê hoặc bởi những hình tượng nghệ thuật quá đẹp đã trở thành những nạn nhân oan uổng của nhiều vụ án văn tự, nghĩ lại mà tiếc cho nhiều người, mộng mơ nhiều thì tài năng cũng nhiều đều bị thui chột ngay từ những năm còn trẻ.”
Vậy là mấy chục năm qua, mấy chục triệu con người Việt Nam phải sống theo một dòng tư tưởng, đi theo một lề đường bên phải, tuân theo một cách đánh giá và nhìn nhận và theo nhà văn Nguyễn Khải đó là “một tai hoạ khôn lường” :
“Trong suốt ba chục năm chiến tranh, mỗi người Việt Nam đã quên hẳn những nhu cầu vật chất và tinh thần của riêng mình để được cùng sống như mọi người, cùng cảm nghĩ như mọi người, sống cùng sống chết cùng chết. Học thuyết Mác và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản được tôn vinh đến tuyệt đối. Vì số phận cá nhân gắn liền với tập thể với dân tộc, trùng hợp khít khao với các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền và những tham vọng của người lãnh đạo. Nhưng cả mấy thế hệ cùng tham gia chiến tranh, sống trong một môi trường xã hội, chính trị của một đất nước đang có chiến tranh cũng là một tai hoạ khôn lường. “
Cái tai hoạ khôn lường đó đã tác hại tới toàn thể dân tộc ra sao. Ta hãy coi nhà văn Nguyễn Khải phân tích về sự xoá bỏ “cá nhân” trong thời kỳ chiến tranh :
“Trong chiến tranh tập thể gạt phắt cá thể sang một bên, có thể giẫm đạp lên nó cũng chả mất mát gì, vì chiến tranh đòi hỏi sự nhất trí, cần sự ra lệnh đúng lúc của một  cái đầu chứ không có thời gian bàn luận, sai đúng có sự tham gia của nhiều cái đầu. Vả lại nếu người lãnh đạo tính toán sai lập tức sẽ bị đối phương trừng phạt ngay, không sớm tỉnh ngộ thì cả sự nghiệp có thể bị đổ vỡ. “
Nhưng khi chiến tranh kết thúc rồi cái “cá nhân” vẫn bị xoá nhoà trong đám đông “quần chúng nhân dân” – tất nhiên là “ quần chúng cách mạng” của Đảng :
” Đến thời hoà bình thì chỉ còn dân chúng đối mặt với chính quyền, quyền lợi khác nhau, nguyện vọng khác nhau, có trăm ngàn thứ khác nhau trong một cộng đồng : dân tộc, tôn giáo, văn hoá, điều kiện sống… trong một thời gian dài tạm quên đi, tạm gác lại để lo việc lớn, lúc này nhất loạt trỗi dậy, đòi hỏi và mỗi cá nhân đều thấy cái mình đòi là quan trọng nhất, bức thiết nhất. Độc lập có rồi, tự do có rồi, vậy cái hạnh phúc của mỗi chúng tôi nhà nước định quên sao ?
Nhưng để đòi hỏi cái quyền sống cho cá nhân đó, toàn xã hội  đã bị bịt miệng :
“Nhưng người dân phải tìm ra cơ hội nào để nói, đến chỗ nào để nói, dùng phương tiện gì để nói. Nói với tổ chức, với các đoàn thể mình là một hội viên, không ai nghe cả. Nói trên báo chí không báo nào dám đăng. Viết kế sách, thỉnh nguyện gửi lên các cấp có thẩm quyền thì chả bao giờ nhận được trả lời. Vậy phải làm gì nhỉ ? Làm loạn không dám, biểu tình đúng pháp luật cũng chưa có tiền lệ. Người đứng đắn bộc lộ sự không bằng lòng của mình tại các cuộc họp lập tức bị những kẻ cơ hội trấn áp tức thì, bị cơ quan an ninh ghi vào sổ đen, thăng chức nên lương từ nay không thể, chỉ còn đợi ngày về hưu thôi.”
Vậy thì lương tri của dân tộc sẽ được cất lên từ diễn đàn nào ?

                                                                         (còn tiếp)

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

MIỀN "CỤP LẠC" (KỲ 5 )



                                  (tiếp theo)

Ba      

Gã tái mặt nhìn chiếc ví há cái miệng rỗng còn sót lại mấy tờ bạc lẻ. Số tiền định tiêu cả tháng đã bốc hơi chỉ sau một đêm “tâm tình” với người  đẹp có tên là Tình tại ngôi nhà trong hẻm gã xích lô đưa gã tới . Phải mất một phút gã mới nhận thấy hết cái thảm trạng gã đang lâm vào : gạo hết , mắm mỡ hết, bao thuốc cuối cùng xẹp lép và ít ra cả tháng nữa mới mong nhận được tiền tạm ứng của nhà xuất bản nếu như gã dịch xong cuốn tiểu thuyết  dày cộp vẫn đang nằm trên bàn kia .
Không thể cứ nằm suy tưởng với cái bụng  rỗng gã đành khoá  buồng , rời “tháp ngà” xuống phố đánh đi một bức khẩn cho nhà xuất bản :
”Mười ngày nữa dịch xong . Xin gửi gấp tiền tạm ứng”
Trước khi đưa cho cô nhân viên có bộ mặt ướp lạnh ,gã đọc lại lần nữa. Không,viết thế chưa đủ độ cần kíp , dù tốn thêm vài trăm cước phí cũng đành viết thêm ba chữ :”để đong gạo”. Gã bước thật nhanh khỏi cái nhìn tò mò cô bưu điện , thả bộ qua vỉa hè san sát quán nhậu cho mũi tranh thủ hưởng miễn phí mùi xào xáo từ những chiếc chảo đang đặt trên bếp lửa xanh lét.
Dãy phố nhậu qua rồi, giờ đến mùi khói xe lam, xe máy thốc vào mũi làm buồn nôn . Gã ghé đám đông xúm xít trên sân ga xe lửa .Trời ơi , xác một người đàn ông nằm co quắp bên chiếc ba lô con cóc. Cái nhà ông  này quanh quẩn ở đây cả tuần nay  .Đói quá mà lại “ sĩ “ không thèm ăn xin , cứ ngồi thu lu hết đầu ga lại cuối ga. Gã thấy gai người,  quay ngoắt , không dám nhìn cảnh tượng có vẻ như đang gần gũi gã.
Tiếng còi xe cứu thương rúc inh ỏi làm rãn ra lối đi qua đám đông. Một thằng  bé đuổi theo níu tay gã :
- Vé số chiều xổ đây. Mua một cặp đi chú Hai. Độc đắc hai chục triệu tha hồ tậu nhà lầu, bao vợ nhỏ…”
Gã thò tay vào túi , ngập ngừng. Biết đâu, phải biết đâu, chả cần độc đắc, cứ giải ba, tư cũng đổi đời rồi. Xưa nay gã chúa ghét trò “ đánh bạc với Nhà nước”, có khi trong túi có cả xấp bạc lớn gã cũng chưa bao giờ chịu mua lấy một tấm vé số. Phúc lớn thì hoạ cũng không nhỏ, tiền từ trên trời rơi  vào túi thì cũng đến lượt tai ách đổ xuống đầu . Mèo nhỏ bắt chuột con , cứ kiếm đồng nào xào đồng ấy là yên tâm .
Thế nhưng vào lúc này “triết lý” ấy xem ra chẳng hợp với gã. Cứ cầu trúng số cái đã , mai kia gặp hoạ hay không biết đâu mà lường.                                                                                      Vả lại tháng này đã mắc phải nạn dính dáng cửa quyền bị cảnh sát gọi lên sở rồi, biết đâu bù lại trúng xổ số. Gã lý sự vậy và quyết định rút trong túi ra tờ giấy bạc đổi lấy tấm vé số có in hình cô gái “thần tài” đứng ngoẹo đầu mỉm cười. Một phần ngàn tia hy vọng le lói ở trong lòng làm dịu hẳn  đói.
” Hai mươi triệu… “, gã thì thầm như sợ ai nghe thấy. Không, chỉ cần nửa số đó, gã sẽ mua nhà chỗ khác thoát đôi mắt xoi mói ti tiện của lão gác dan , sẽ đi du lịch thật xa, khuất mặt lão cảnh sát, tung hê cái công việc dịch dọt vừa khổ ải vừa phải chiều chuộng mấy thằng cha Nhà xuất bản dốt nát, toàn bộ thời gian sẽ là của gã, tha hồ đọc sách và làm thơ.
Tưởng đã nắm trong tay uy  lực ghê gớm của đồng tiền, gã ưỡn ngực, ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mặt lão gác dan lúc về nhà. Leo lên phòng rồi, cơn đói mới nhắc quên không mua bắp ngô. Không sao cả, đến chiều thể nào cũng phải xuống phố xem kết quả xổ số, lúc đó biết đâu không phải bắp ngô mà hẳn một bữa đại tiệc nhà hàng. Thế rồi có cái gì chợt đâm nhói trong đầu khi leo lên giường nhắm mắt ngủ cho quên cơn đói. Xác chết người đàn ông trên sân ga? Ong ta là ai nhỉ? Một người hẳn đã cầm súng từ chiến trường rồi phiêu dạt từ một gia đình tan tác vì lũ lụt,vì nhà máy đóng cửa hoặc vì hợp tác xã nông nghiệp thối ruỗng bởi nạn cường hào? Hình ảnh chiếc ba lô con cóc của người chết cứ lăn lóc mãi trong óc gã làm tan biến cả cái đói lẫn cơn buồn ngủ. Gã ngồi phắt dậy và chợt thấy cái ảo tưởng trúng số mới đê tiện và thảm hại biết chừng nào.
”Tiên sư chúng nó”, gã vọt miệng chửi và cơn giận bùng lên làm gã hùng hổ đi lại trong căn phòng lúc này đã trở nên chật  chội như cái chuồng cọp. Than ôi chẳng có gì đáng giá để gã có thể đập phá  cho xứng với cơn cuồng nộ đang hoành hành, cuối cùng lại chỉ có cái mặt giường chường ra cho thân xác gã quật mạnh xuống. Có tiếng gió đập mạnh ngoài cửa sổ, tiếng sấm rền và một trận mưa dường như đã tới đúng lúc làm tắt cái đầu bốc lửa  và làm mát bầu không khí oi ngộp lèn chặt căn phòng.
 Gã ngủ thiếp cho tới khi tiếng radio đọc kết quả xổ số văng vẳng  phòng bên. Mọi ngày chuyện đó chẳng là gì, nhưng hôm nay, nhớ tới tấm vé số đang nằm túi ngực, gã ngồi bật dậy. Thà còn một phần ngàn tia hy vọng còn hơn là chẳng có gì, gã mặc vội quần áo, không thiết rửa mặt, nhưng trước khi ra khỏi phòng, gã không bỏ được việc mấy hôm nay đã trở thành  thói quen: mở một cánh cửa sổ, ghé mắt nhìn sang bên kia. Hôm nay gã không gặp may, thay cho người đàn bà ngồi co chân trên ghế ngoài là người chồng mặc quần đùi, áo may ô đang nhai nhồm nhoàm . Hành động lén lút, vô văn hoá của gã đã lộ rồi chăng? Bởi thế anh chồng nổi máu ghen tống cô vợ ngồi vào ghế trong?
Óc rối bời, gã xuống thang, qua lão gác dan bị gọi giật lại :
-         Này, đóng  tiền đi chớ ?
Gã ngớ người :
-         Tiền gì ?
Lão gác dan cười ngoác mồm :
- Lại còn tiền gì ? Tiền nghĩa vụ lao động, tiền góp quỹ dân phòng, tiền tặng  phẩm  người đi nghĩa vụ quân sự, tiền đổ rác… Tất cả mười ngàn đồng, nộp đi !
-         Mười ngàn đồng ?
 Gã kêu lên  như có tiếng sét bên tai.
-         Không muốn nộp thì chịu khó đi cuốc đất mười ngày vậy nhá ?
 Cố nuốt giận vì cái giọng eo éo đầy giễu cợt, gã nói như mếu :
-         Bác nói giúp mấy ông uỷ ban cho tôi khất đến đầu tháng lương.
-         Anh là trí thức phải gương mẫu nộp trước cho dân người ta theo chớ…
 Gã bước nhanh khỏi cái giọng hách dịch của lão, mẹ kiếp, không tiền nhục thế đấy, đến một lão gác dan cũng “lên lớp “ được mình với giọng “ thủ trưởng” . Oi giá như ta trúng độc đắc…  677.835, gã nhẩm lại sáu con số đã thuộc lòng từ lúc nhét tấm vé vào túi áo. Dọc phố, từng quãng lại có dựng tấm bảng ghi kết quả xổ số mới ghi được qua đài phát thanh. Những con số viết phấn trắng đập vào quả tim đang nảy thon thót. Nỗi thất vọng bị nén đầy ngực được thoát ra bằng tiếng thở dài khi những con số cuối cùng trên bảng lọt vào đôi mắt tròn xoe của gã.
Không trúng một cái giải nào cả, gã nở nụ cười vu vơ rồi lê bước qua các phố cố tìm gánh ngô luộc. Quái thật, mọi ngày không nghĩ tới thì nhan nhản, tối nay cần lại biến hết không thấy gánh nào. Dạ dày gã rên lên sốt ruột, tội nghiệp, suốt từ sáng nó chỉ co bóp vào chính nó. Khi phố xá đã thưa thớt, gã đành tắc lưỡi mua gói xôi ngô, món ăn xem  ra có vẻ sa sỉ so với túi tiền. Không thể đợi về nhà, gã rẽ vào công viên, chọn ghế đá vắng vẻ thưởng thức ngay cái hạnh phúc lớn nhất trong ngày là  được nghiền ngẫm vị béo ngậy của những hạt ngô  bung nhuyễn  dưới kẽ răng. Thế rồi cái sung sướng tuyệt đỉnh ấy đột ngột  bị cắt ngang khi một cô gái cứ như ở dưới đất chui lên ngồi ghế sát bên gã.
-         Anh có “ đi ngồi “  không anh ?
Gã giấu biến gói xôi sau lưng :
-         Tôi chẳng đang ngồi đây là gì ?
 Cô gái đặt túi “đồ nghề” lên lòng, nhe hàm răng thưa, cười cợt :
-         Anh mới ở quê ra hả ?
Rồi bất ngờ cô thò tay quẫy lộn trong lòng gã :
-  "Đi ngồi “ là thế này này, còn gọi là “xào khô”  hay “ xúc lọ” . Cứ ngồi yên em làm cho, sướng lắm mà rẻ lắm, năm chục thôi … 
Gã bật dậy, bước hấp tấp bỏ lại sau tiếng cười hắc hắc. Sống sượng, sống sượng đến thế là cùng, gã lầm bầm trong lúc đưa miếng xôi cuối cùng lên miệng. Cử động đó làm gã thêm cay đắng,  cũng vì miếng ăn cả thôi nếu cô ta không muốn chết như người đàn ông trên sân ga.
Chắc rồi mình cũng thế, cũng phải bán cái gì đó đút miệng, khi món hàng chất xám không còn ai mua nữa. Nhưng mình có cái gì để bán ? Những cuốn sách trên giá, chồng báo cũ (luôn cả cuốn sổ thơ) bán cân, bộ bàn ghế và cái giường mọt …  Còn gì nữa ? Lương tâm và nhân phẩm chăng ? Nhưng liệu có người mua không ? Chính vì những suy nghĩ lẩn thẩn vậy, gã về đến khu tập thể đã quá khuya, cổng sắt đã đóng im ỉm và lão gác dan hẳn đã trèo lên giường bà vợ khô đét.

                        (còn tiếp)