Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀNỘI (KỲ 28)


                                             

                                         (tiếp theo)
 
                                         7.

      Nhà thơ sống trong ngõ vắng có cái tên cổ lỗ chẳng dính dáng gì tới đời sống hiện tại khiến tôi nảy ra ý nghĩ mai kia nó sẽ đổi thành tên cụ X. Hai tập tuyển thơ, cộng thêm một cái tên ngõ nữa, theo tôi cũng đền bù xứng đáng cho nhà thơ sau hơn nửa thế kỷ cầm bút. Ở địa vị tôi, nếu được một ân thưởng lớn thế, chắc chắn lúc chết, tôi sẽ cười ha hả.
      Ông Trưởng phòng biên tập đón tôi ngay ngoài cửa, cạnh chiếc xe con cơ quan, đóng kín mít, bác lái biến đâu mất. Tôi tưởng ông sẽ gắt toáng, không ngờ ông reo lên hoan hỉ:
     - May quá, cứ lo không có máy ghi âm.
      Tôi thở phào, hóa ra các ông chờ cái máy của tôi chứ không phải tôi đã trở nên quan trọng như tôi tưởng. Tôi tính bịa ra cớ cho tội chậm trễ nhưng ông Trưởng phòng đã ra hiệu cho tôi im lặng, đi theo ông.
Xe đạp, xe máy để gần kín sân gạch tôi đang líu ríu bước qua bỗng làm tôi lo. Quái, sao nhà thơ mới ốm đã lắm người tới thăm thế ? Họ nghĩ gì về tôi trong bộ cánh vốn chỉ dùng đi “pinic” hay đi party, lại còn dòng chữ tai hại trên áo và bộ ngực cứ tớn lên như hai con chim câu vùng vẫy trong lồng chật hẹp mới chết chớ ! Biết thế này tôi nghe Bình thay bộ khác khỏi rắc rối.
      Bà con gái nhà thơ đón tôi ở cửa, nói nhỏ:
     - Cụ mới chỉ cho ông Giám đốc vào , cô ngồi đợi phòng khách, chừng nào vào được tôi sẽ báo.
      Tôi nép đằng sau ông Trưởng phòng bước vào, rúm cả người lại trước cái nhìn của mấy ông ngồi sẵn xalông đồng loạt hướng cả về tôi như hoa hướng dương hướng về mặt trời. Mắt ông nào cũng cháy rực chắc không phải lửa của thơ. Không khí trang nghiêm và im lặng tới mức nghe thấy cả tiếng bút BIC rơi trên mặt sàn gỗ. Rút cuộc tôi cũng ngồi xuống cái ghế một ông mang từ góc phòng tới và đặt vào vị trí ai cũng có thể thấy được.
 Ông Trưởng phòng biên tập ghé tai tôi thì thào  giới thiệu những người đang chờ. Một ông Hội nhà văn, một ông phát thanh, một ông truyền hình, một ông tuyên giáo…. Tóm lại, toàn những ông sẽ phải bận rộn bởi cái chết sắp tới của cụ X. Cáo phó, thân thế, sự nghiệp, hồi tưởng... Rồi đây ông cụ X. vốn sống lặng lẽ trong ngõ nhỏ, sẽ được ồn ào nhắc tới trên báo chí, phát thanh, tất cả đều do mấy ông đây thực hiện.
Tôi không quen ông nào nhưng  bằng vào câu chuyện rì rầm tôi hiểu họ đều là những cây bút xông xáo làng báo. Họ đang nhắc tới ông nhà văn Y, nghe nói đang nằm bệnh viện Thống nhất thành phố Hồ Chí Minh, tuổi còn cao hơn cả nhà thơ X. và chắc kỳ này cũng ra đi cùng lượt.
- Đáng lo thật đấy, một ông thở dài, chồi non chưa mọc nhiều, vườn văn học của ta đã đi vào mùa lá rụng, rồi các ông xem, sang thập kỷ 90 tôi sợ rằng không khéo “cáo phó” cả loạt.
-  Thôi tôi xin các ông, chuyện đó để giành ra quán bia, tôi e rằng không khéo các ông lại đi trước cả các cụ kia ấy chớ.
- Đúng, đúng, cứ cái đà đi moi mãi các vụ tiêu cực có ngày bị bắn rụng...
Tôi co người trên ghế, thầm mong các vị cứ mải chuyện, đừng chú ý tới dòng chữ tôi đang cố tình ôm cái túi trước ngực cũng không che được hết. Tôi chợt nhận ra có một ông từ nãy cứ ngồi im và chắc vì câu chuyện rôm rả kia không hấp dẫn nên ông đành phải nhìn tôi chằm chằm. Tôi đoán  ông đang cố đọc dòng chữ trên ngực tôi mà tính tò mò của nhà báo nhất định sẽ thúc đẩy ông đọc bằng được. Biết thế tôi mặc cái áo có dòng chữ “Don’t look at here, please” – “xin đừng dòm vào đây” có hơn không ? Tôi  đành phải bỏ cái túi xuống, hy vọng đọc xong, ông sẽ quay sang góp chuyện với mấy ông kia. Hỡi ơi, tôi đã lầm, hóa ra không phải dòng chữ mà cái ở bên dưới nó đang bị chiếc áo pull làm cong tớn lên làm ông chẳng còn hồn vía đâu bắt chuyện với đồng nghiệp . Giữa lúc tôi đang nhớn nhác tìm chỗ khuất  tránh cái nhìn đầy “hưởng thụ”, may thay, bà con gái nhà thơ bước ra, ghé  tai tôi báo tin cụ cho phép tôi vào ghi âm. Tôi mừng rỡ đứng dậy, bước thật mau khỏi phòng khách, theo chân nguời đàn bà dọc theo hành lang tối thoang thoảng mùi củi mục.
      Lách người qua cánh cửa hé ra lại khép vào ngay trước mắt tôi là một căn buồng hẹp, mờ mờ ánh sáng hắt xuống từ ô kính gắn trên trần. Một cái sập kê sát góc trên đó một cụ già đang nằm, hai tay chắp lên bụng, đôi chân ruỗi dài kê lên cái gối bông, không, cái xác chết chưa chôn đó không phải nhà thơ, tôi hoảng sợ quay đi và để tự trấn an, tôi nhìn chằm chằm cuốn sổ để trên bàn, cạnh đó, ông Giám đốc  đang ngồi với vẻ quan  trọng.
      - Máy ghi âm tốt chứ?
      - Dạ tốt.
      - Cô chuẩn bị đi, lúc nào cụ tỉnh mình sẽ ghi.
      Tôi lúng túng lôi máy trong túi xách ra, tìm mãi mới thấy ổ điện, may quá nó ở cách xa giường, nếu không tôi phải quẩn quanh bên cái hình người khô đét không thể chấp nhận được đó lại là nhà thơ. Lúc này trong phòng chỉ còn lại có ba người, im lặng tới mức tôi không còn dám cả thở. Ánh sáng lạnh từ ô kính trên trần bỗng dưng làm tôi cảm giác như đang trong khoang kín con tàu vũ trụ đã rời quá xa trái đất và đang đi vào thế giới vĩnh hằng.
Tôi cử động lui tới nhẹ bỗng trong một môi trường phi trọng lượng, toàn bộ thao tác không còn do ý thức điều khiển nữa, nó hoạt động theo một chương trình định sẵn và tôi chỉ còn ấn công tắc xuống một cách máy móc.
      “Xích lại gần đây thêm chút nữa...
      Hôn anh đi trời chưa ngã chiều hôm...
      Ha ha...ha ha...ha ha...
      Trời ơi, tiếng chồng tôi thử máy, tôi lạnh toát người, nếu tay tôi không nhanh rút phích cắm khỏi ổ điện, hẳn là tay còn lại quật nát chiếc máy ghi âm xuống mặt sàn.
      - Gì thế ? Cái gì thế ?
      Ông Giám đốc trừng mắt giận dữ. Tôi không thể nói được khi từ trên giường bỗng dội lên tiếng thở khè khè, tiếng ho và tiếng nói đứt quãng mà tôi không hiểu gì,chỉ thấy ông Giám đốc đứng dậy, lặng lẽ bước lại giường và cúi xuống.
Tôi phải làm một cái gì chứ, tôi chịu, không biết phải làm gì trong trường hợp thế này, đầu óc tôi có lẽ đã đông cứng, nó không cho tôi câu trả lời nào, đành đứng đực ra, ngước nhìn bầu trời qua ô kính đã trở nên xa lạ không còn giống như mọi lần từ ban công nhà tôi nhìn lên nữa.
 Ông Giám đốc đã trở lại bàn vẫy tôi lại gần. Ông cầm cuốn sổ trao vào tay tôi và khi tôi mở ra chợt thoảng lên một mùi giống như cái mùi đôi lần tôi ngửi thấy khi đi sát  qua một đám tang. Tôi cố nghĩ xem tên của nó là cái gì ?
      - Tôi đã bàn với cụ rồi. Mình sẽ ghi ba bài tiêu biểu cho ba giai đoạn : trước cách mạng, chống Pháp và xây dưng chủ nghĩa xã hội.
      - Vâng.
      - Những bài sẽ ghi đã được đánh dấu trong cuốn sổ này rồi.
      - Vâng.
      Tôi máy móc trả lời trong khi óc tôi vẫn căng ra nghĩ  xem cái mùi vừa thoảng lên trong các trang sổ ghi có  tên là gì ?
      - Lúc cụ đọc, cô phải theo dõi xem có sót chữ nào, hoặc cụ có quên thì nhắc.
      - Vâng.
      - Băng tốt chứ.
      - Dạ tốt.
      Trên giường lại có tiếng nói đứt quãng. Trong lúc ông Giám đốc tiến lại để cúi xuống như ban nãy, tôi vẫn căng óc ra tìm. A, tôi thấy nó rồi, cái đó người ta thường gọi là mùi “tử khí”. Tuy nhiên cái mùi đó chỉ thoảng lên có một lần, nó biến mất khi tôi cố tình tìm lại trong cuốn sổ, trong không khí, trong làn gió nhẹ không biết thoảng tới từ đâu khiến tôi phải nghi ngờ khứu giác của mình, phải chăng tôi đã thấy nó trong tưởng tượng ?
      Ông giám đốc đã nói chuyện xong với người nằm trên giường. Giọng đầy mệt mỏi, ông thì thầm vào tai tôi:
      - Cụ muốn sửa một chữ trong bài “Trăng”, hóa ra từ nãy cụ vẫn thức để tìm chữ.
      Bất giác tôi nhìn lên giường, thật không thể ngờ được cái đầu đã khô tóp lại thế vẫn còn làm được cái công việc nhọc nhằn cụ đã kéo dài hơn nửa thế kỷ ấy. Ông giám đốc lật cuốn sổ, reo lên khe khẽ:
      - Đây rồi, trong câu “Trên hồ, một mảnh vàng ánh sắc”, cụ muốn dùng chữ “mảy” thay chữ  “mảnh”. Cô lấy bút sửa lại đi.
      Tôi làm theo lời ông Giám đốc và đọc lại ông nghe:
      - Trên hồ, một mảy vàng ánh sắc.
      - Được rồi, bây giờ cô bắt đầu thu đi, cụ vẫn đợi đấy. Thu bài “Trăng” trước.
      Tôi bước khẽ lại gần giường, tay xách máy, tay cầm sẵn micrô và cuốn sổ, cái mùi ấy, cái mùi từ nãy tôi tìm mãi không thấy, giờ bất chợt lại thoảng lên làm tôi ớn lạnh. Lúc này tôi đã thấy rõ toàn bộ gương mặt mà từ nãy, tôi không dám nhìn. Đôi hốc mắt hõm sâu xuống tạo thành hai vùng tối nằm phía trên đôi xương gò má nhô cao, nhân trung đã lệch hẳn đổ xuống cái miệng đang há ra thở gấp.
      Tôi run bắn, ngồi bên mép giường, cúi xuống, lắp bắp:
      - Thưa cụ, thưa cụ...
      Đôi mi mắt đang nhắm nghiền bỗng động đậy và mở ra một đôi tròng đục mờ. Tôi nhoài người, giơ lên chiếc micrô:
      - Cụ đọc cho cháu bài “Trăng” để thu băng.
      Tôi thấy đôi mắt của cụ hơi đảo xuống, không nhìn vào micrô, cũng không nhìn vào mặt tôi, một ý nghĩ làm tôi chợt bủn rủn cả người. Cụ đang nhìn dòng chữ trên ngực tôi. Trời ơi, sao tôi ác thế, đùa cợt cả đến cái chết của một nhà thơ tận tụy. Tôi nghẹn ngào, cố giữ khỏi bật khóc:
      - Thưa cụ, cụ tha lỗi cho cháu...
      Một cử động cố gắng như là cái lắc đầu, tôi cảm nhận rõ ràng mắt cụ rạng lên kỳ lạ, miệng nhếch lên như là sự chuyển động cơ giới của các thớ thịt từ đó thoát ra tiếng âm u như vẳng tới từ nơi nào rất xa:
      - BON VOYAGE …BON VOYAGE…BON VOYAGE...(*)
     
                                          (còn tiếp)
(*)Thương lộ bình an

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 29)


  NHÀ VĂN NGUYỄN KHẢI



Tôi có cơ may gặp nhà văn Nguyễn Khải từ thời lý tưởng cộng sản còn mê hoặc lòng người đến mức tôi đang là học sinh tốt nghiệp lớp 10 , học sinh cá biệt, hạnh kiểm 3 vì nói năng nhăng nhít, cấm cửa đại học phải lên rừng núi Tây Bắc lao động dài hạn, ấy vậy mà chỉ hai năm sau, tôi đã trở thành “chiến sĩ thi đua toàn quốc”, được bác Hồ tặng bằng khen, được cử đi dự Đại hội lên hoan chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3 ở Hànội, và ở đây tôi vinh dự được gặp nhà văn Nguyễn Khải.
Hồi đó tôi ngồi hàng ghế gần  Chủ tịch đoàn, ngồi hàng ghế sát tôi là hai ông trạc 30, trắng trẻo, đẹp trai, đang ghé tai nhau thì thào chuyện gì đó. Sau mới biết đó là nhà thơ Việt Phương, thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang nhờ nhà văn Nguyễn Khải góp ý bản nháp “Thư gửi đồng bào miền Nam” của đại hội.
Họp xong, tôi lại lên Tây Bắc làm thằng thợ rừng còn Nguyễn Khải vẫn  ở Hànội trong hào quang nhà văn quân đội danh nổi như cồn.
Trong đoàn “lực sĩ” chạy marathon trên “đường cách mệnh” nhằm tới   cái đích xa vời là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa : Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Nguyễn văn Bổng,  Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn  Minh Châu, Anh Đức …có một  “đại kiện tướng” vừa bền bỉ không mệt mỏi vừa khôn ngoan  luồn lách qua mọi chướng ngại vật, vừa “nhát sợ” phòng thân để về đích lĩnh ân sủng của Đảng :  Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật – đó là nhà văn Nguyễn Khải .
Ong sinh năm1930, ở Hà Nội , cha là tri huyện, mẹ là vợ bé, thủa nhỏ sống nhiều với mẹ ở quê ngoại Hưng Yên . 17 tuổi làm y tá cho một đơn vị bộ đội địa phương. 19 tuổi làm phóng viên báo tỉnh Hưng Yên. 21 tuổi làm báo “chiến sĩ” Quân khu 3. Sau hoà bình, 26 tuổi về công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân đội.Nhiều năm là Uỷ viên chấp hành Hội nhà văn.
Cứ xem quá trình ‘công tác” đủ thấy suốt đời ông là một thư lại, lính văn phòng, đeo chữ thọ sau lưng , chưa một ngày đặt chân vào chiến trường khiến ông trở nên nổi tiếng trong hai câu thơ dân gian khi ông viết “Bút ký Hoà Vang” lấy tài liệu từ các bản thành tích thi đua từ trong Nam gửi ra  :
“ Hoà Vang nào ở đâu xa
Hoà Vang là ở ngay nhà đó em..”
Truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Khải là “ Ra ngoài”, “Xây dựng” chẳng có giá trị gì. Năm 1956 viết tiểu thuyết “ Người con gái quang vinh”  nữ anh hùng Mạc thị Bưởi  chìm nghỉm ngay khi mới xuất bản. Chỉ đến tiểu thuyết “Xung đột “ – phần 1 năm 1956 và phần 2 năm 1960, danh tiếng Nguyễn Khải  mới nổi lên rầm rĩ  trên bầu trời văn học cách mạng vốn còn rất thưa thớt sao.
Sau “Xung đột” , Nguyễn Khải  viết chừng hơn 20 đầu sách  khác nữa, nhưng nhắc tới ông người ta vẫn chỉ nhắc tới “Xung đột” như là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp được nhà phê bình  chính thống “gạo cội”, Giáo sư Phan Cự Đệ tâng bốc :
” Từ nhiều năm nay , với tư cách là một nhà văn quân đội, Nguyễn Khải luôn luôn có mặt ở những vị trí hàng đầu của cuộc sống. Tác phẩm của anh phản ánh những mảng hiện thực mang tính thời sự nóng bỏng, đồng thời vẫn nêu lên được những vấn đề triết học, đạo đức có tầm khái quát cao. Tài năng và phong  cách Nguyễn Khải bắt đầu hình thành và khẳng định từ khi Xung đột – tập I được giới thiệu lần đầu tiên trên tạp chí Văn Nghệ Quân đội năm 1957…”
“ Xung đột” – tập 1 viết về cải cách ruộng đất và sửa sai  tại một làng công giáo toàn tòng – thôn Hỗ thuộc Giáo  phận Bùi Chu. Xưa nay viết về đề tài cải cách ruộng đất, thông thường các nhà văn miền Bắc có hai chọn lựa :
- Hoặc diễn tả nó như là cuộc đấu tranh giai cấp với mâu thuẫn đối kháng, địch ta : một bên là nông dân, một bên là địa chủ, cường hào đại gian đại ác. Cuộc đấu tranh này là “một mất một còn” , ranh giới địch – ta rõ ràng và tuyệt đối. Viết theo lối này các nhà văn được đeo chữ thọ sau lưng, rất an toàn và được “bảo hiểm” bởi lẽ họ thả sức bôi xấu phe địch – tức địa chủ và thoải mái ca ngợi phe ta – tức nông dân được Đảng phóng tay phát động. Tuyệt đại đa số các nhà văn cây đa cây đề đều theo lối viết này : “ Nông dân với địa chủ” của Nguyễn Công Hoan, “Con trâu” của Nguyễn Văn Bổng, “ Mẹ con đồng chí Chanh” của Nguyễn Đình Thi. Mặc dù được báo chí của Đảng khen “kịp thời, kịp thời” nhưng tất cả đều đi vào bến lú sông quên  chỉ vài tháng sau khi xuất bản.
- Hoặc diễn tả nó như là một cuộc đấu tranh “nội bộ nhân dân” – tức đi sâu vào chuyện “nhất đội nhì trời”, chuyện “con tố cha, vợ tố chồng”, chuyện “án oan biết oán ai” ….Viết theo lối này nhất định dễ “ăn đòn” bởi tội  “nói xấu cách mạng”, chê Đảng lúc nào cũng tự nhận sáng suốt mà sai be sai bét.. Đi theo con đường dễ vỡ nồi cơm này có rất ít người và thường là “thân tàn ma dại” như Vũ Bão với “Sắp cưới” ,Hoàng Tích Linh với “Cơm mới”, Nguyễn Khắc Dực với “Chuyến tàu xuôi”. Gần đây có cởi mở hơn, viết về cải cách ruộng đất theo kiểu “mâu thuẫn nội bộ” như “ Dòng sông mía” của Đào Thắng còn được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2005.
Tất nhiên khôn lõi đời như Nguyễn Khải chẳng dại gì chọn kiểu viết thứ hai – tức diễn tả  cải cách ruộng đất  như là cuộc đấu tranh “nội bộ” nhân dân – tức mâu thuẫn để đi tới  thống nhất – dễ bị quy chụp, dễ bị ăn đòn là  thứ Nguyễn Khải tránh cho thật xa.
Vậy thì tốt nhất chọn lối viết thứ nhất tức diễn tả mâu thuẫn đối kháng, có tao không có mày, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, và để an toàn hơn thế nữa, Nguyễn Khải không chọn chiến tuyến đối lập địa chủ với nông dân như các nhà văn cây đa cây đề mà chọn  tuyến đối lập có tính đối kháng : một bên là bọn phản động đội lốt tôn giáo với bên kia là những nông dân nòng cốt cách mạng, trung kiên, một lòng theo Đảng.
 Bởi thế tiểu thuyết Xung đột – Tập 1 của Nguyễn Khải thực ra là chuyện đấu tranh “địch ta” kiểu “câu chuyện cảnh giác “được vẽ vời công phu bằng văn chương câu khách.
Xung đột – Tập I xảy ra vào năm 1956, cuộc cải cách ruộng đất vừa hoàn thành với bao sai lầm và làng thôn bắt đầu sửa sai theo hướng dẫn của cấp trên. Tuy nhiên cái sai lầm cải cách ruộng đất ở đây không phải do Đảng nhắm mắt học theo kinh nghiệm Trung Quốc, quy định tỷ lệ địa chủ để cố ép tìm ra cho đủ số – viết như vậy dễ “vỡ nồi cơm”, Nguyễn Khải lái thủ phạm gây nên bao sai lầm trong cải cách  sang các …cha cố.
Ông lu loa rằng khi Đội cải cách về làng , cha xứ đã ngầm gài người  cho đội “bắt rễ” và trở thành chỗ dựa cho Đội, từ đó tố oan cho những cán bộ cốt cán của Đảng để đến nỗi họ bị xử trí như Môn, xã đội trưởng, Thuỵ, cán bộ xã…có người còn bị xử tử như Rỹ , Bí thư Chi bộ…Bao nhiêu tội lỗi đều do…nhà thờ gây ra cả, cách mạng chỉ có…mất cảnh giác chút thôi.
Thực chất trong Xung đột – tập I Nguyễn Khải đã bẻ queo sự thực lịch sử, chạy tội  cho Đảng trong việc bắn giết cả những đồng chí của mình, trút tội giết người đó sang… âm mưu thâm độc của Nhà thờ chứ không phải do sự ngu dốt sai lầm trong đường lối cải cách ruộng đất . 
Trên cái “bệ đỡ an toàn” đó, Nguyễn Khải tha hồ phóng bút trách gì nhà phê bình Phan Cự Đệ chẳng tấm tắc khen :
” Người đọc như bị hút vào những sự kiện nóng bỏng trong những năm khôi phục và cải tạo kinh tế : cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh trong nội bộ nhân dân diễn ra căng thẳng , ác liệt và vô cùng phức tạp vào khoảng cuối năm 1956 ở một số vùng đạo gốc tỉnh Nam Định, khi Đảng ta tiến hành sửa chữa những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bắt đầu cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp”.
Chơi trò lập lờ đánh lận con đen, xuý xoá sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất, trách gì Xung đột – tập I chẳng được cả một hệ thống tuyên truyền của Đảng kéo lên mây xanh ngay trong thời gian  Đảng đàn áp văn nghệ sĩ, khét lẹt nhất qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Trong khi những tác phẩm  phản ánh được  chút ít hiện thực khách quan như  những truyện ngắn và thơ trong nhóm Nhân văn Giai phẩm , tiểu thuyết “Vào đời” của Hà Minh Tuân, “ Phá Vây” của Phù Thăng, kịch của Hoàng Tích Linh, Nguyễn Khắc Dực… bị đòn vọt thì hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Khải cứ nối đuôi nhau ra đời trong sự reo mừng, tâng bốc của cả một bộ máy các nhà phê bình văn học của Đảng.
Mở đầu “Xung đột” – Tập 1, Nguyễn Khải chơi trò “giật gân” miêu tả một “sự kiện động trời” ngay khi làng xã mới bước vào đợt “sửa sai” sau cải cách ruộng đất. Đó là “ Đại hội công giáo tám xứ toàn miền” với đủ các gương mặt của “phe đối nghịch” tức toàn bộ các gương mặt “phản động” của nhà thờ cũng các con chiên bị dụ dỗ và mê hoặc họp thành một mặt trận, một chiến tuyến chống lại chính quyền cách mạng. Đánh vào trí tò mò của độc giả vậy, trách gì cuốn sách không hấp dẫn ?
Bộ chỉ huy của lực lượng chống đối này gồm toàn những người khoác áo choàng thâm. Trước hết là tu sĩ Thịnh , “hoạt động phần đời nhiều hơn là phần đạo…Thầy không phải là người tu tầm thường mà là một người hoạt động chính trị xuất sắc. Năm nay thầy mới hai mươi tám mà năm hai mươi bốn đã làm tới trưởng khu Cao Mại, một tay xây dựng hai mươi bảy  ban xã uỷ, lãnh tụ liên tôn diệt cộng toàn khu…”.
Rồi đến cha Vinh là người đã “mang quân từ Phát Diệm về đốt trụi xóm, lấy thóc của nhà xứ, thóc của dân đổ đầy hàng trăm chiếc thuyền đậu kín như lá tre ở cống Cả, đã quay điện con ông Thiềm bây giờ nửa sống nửa chế,đã ngủ với cô Mến có thai ba tháng, thuốc độc chết ông trùm Thuý…Rồi thì cha Thịnh dẫu được “ đi Hà Nội họp, ăn một ngày bảy tám cân *, được  gặp cả Hồ Chủ tịch”  ấy vậy mà khi trở về giáo xứ lại dấu mặt tổ chức đại hội công giáo, xui con chiên :
” Bây giờ các nơi công giáo đều nổi dậy cả rồi, chúng ta phải đòi công giáo tự trị…chiến tranh tàn khốc, chế độ đổi thay , chỉ có đạo Chúa là không gì diệt nổi…”.
Tóm lại các tu sĩ đều là loại núp áo choàng thâm làm việc xấu xa, bỉ ổi, gây hoạ cho dân cả. Chẳng hiểu khi bôi bác nhà thờ như vậy, Nguyễn Khải có khi nào nghĩ một thời mình cũng từ đó mà ra ?

                              (còn tiếp)

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

VỀ MỘT THỜI HÀNỘI (KỲ 27)


   
                                 
                                       (tiếp theo)

 - Thưa cô, Bộ họp xếp danh sách tham quan CHDC Đức, cô nhắc cô Hồng Loan nói giúp... nói giúp...”
Từ nãy Bình vẫn mặc tôi đối phó, giờ thấy ông Giám đốc ảo não quá, lại sợ tôi đốp chát thì đáng thương, anh vội sốt sắng kéo ghế mời ngồi, ấn vào tay chén nước làm tôi lo rằng ông hiểu lầm vì sự có mặt của cục xà bông Camay trên bàn.
     - Bác cần đi Đức lắm à? - Tôi hỏi.
    - Thưa cô cần lắm , xí nghiệp tôi phải khẩn trương đổi mới qui trình sản xuất và trang thiết bị kỹ thuật...
    Ông nói say sưa và làu làu như đang trình bày “ luận chứng kinh tế kỹ thuật” trước hội đồng xét duyệt cấp quốc gia. Tôi cố nhịn khỏi nổ ra trận cười như lúc nãy bởi vậy tôi đành phải nghĩ tới chuyện gì đó thật nghiêm trang, bi thiết, chẳng hạn như việc sắp ra đi của nhà thơ  chiều nay tôi phải tới thăm.
 Tôi tưởng tượng ra một người già đang nằm, vây quanh là những đôi mắt cảm thương, lo lắng của vợ con...rất tiếc, khi hình ảnh bi thương đó hiện dần ra trong óc , ông Giám đốc Xí nghiệp may lại xoá nó đi bằng cái giọng mỗi lúc mỗi hùng hồn bảo vệ “luận chứng kinh tế kỹ thuật” của ông. Thế là tôi cứ đứng ngẩn, dằng xé về hai phía của  hai cái ngày xưa trong giáo trình mỹ học người ta gọi là cái bi và cái hài. Rất may, Bình đã cứu tôi khỏi tình trạng “phân thân” mỗi lúc một căng thẳng, anh trợn mắt, quát to :
       - Tóm lại...
        Ông Giám đốc Xí nghiệp ngớ người :
      - Tóm lại?
       Rồi như sực nhớ tới vấn đề ông đang thuyết trình vừa bị hãm đột ngột, ông chạy tiếp theo đà của nó :
      - Dạ vâng, tóm lại chuyến tham quan CHDC Đức sắp tới đóng  vai trò quyết định trong đổi mới quy trình kỹ thuật, đổi mới trang thuyết bị...
    - Ha ha...ha ha...ha ha
     Trời ơi, cái” hài” đã kéo tuột tôi về phía nó để nổ ra một tràng cười làm kinh hoàng ông Giám đốc. Không còn kịp nói với ông câu nào, tôi phóng ngay vào phòng tắm, đóng sập cửa lại và cứ thế sằng sặc cười vào cái lavabo. Lúc hết cơn, tôi ngẩng lên và nhìn trong gương thấy một bộ mặt bơ phờ, đầu tóc rối bù, đôi con mắt đỏ ngầu, nốt ruồi ngày xưa Biên Cương vẫn gọi là “giọt nước mắt giả” không bao giờ rơi, ở trên má.
 Tôi đó ư? Không phải, quỷ sứ chui lên từ âm ty địa ngục thì đúng hơn. Tôi, đứa con gái gia đình nề nếp, vợ một kỹ sư Trưởng phòng, tốt nghiệp bằng đỏ Đại học Tổng hợp văn , biên tập viên Nhà xuất bản quốc gia... chẳng lẽ là cái con điên đang nhìn trừng trừng kia ấy ư?
Tôi hoảng lên, vội vội vàng vàng mở chum nước dội ào ào lên người. Bước ra khỏi phòng tắm, việc đầu tiên là vớ lấy túi trang điểm, lôi ra cục son và bút chì tô mắt tô môi, chăm chú tới mức quên cả ông chồng  đứng nhìn.
      - Em không biết? Ông giám đốc may tưởng em chập thần kinh thật đấy, ông ta cứ băn khoăn hỏi anh hồi nhỏ em có lần nào bị đau màng não không, trái nắng giở trời có bị nhức đầu không, đêm ngủ có nói lảm nhảm không?
      - Vậy anh trả lời sao?
      - Anh nói em khỏe như vâm, chẳng đau màng não, chẳng nhức đầu và đêm ngủ thì súng bắn bên cạnh cũng chẳng thấy động đậy.
    - Rồi ông ấy bảo sao ?
    - Ong ấy bảo lạ thật, một người có thần kinh bình thường không thể cười như vậy. Ông ấy khuyên anh nên đưa em đi bệnh viện Bạch Mai.
   - Đúng đấy, có khi em phải đi khám thần kinh, không khéo em điên thật đấy.
    -  Khỏi đi đâu, cứ ở nhà anh khám cho...
    Lợi dụng tôi thay áo, anh lại xấn tới sục vào ngực tôi.
    - Thôi bố, thần kinh đâu nằm ở đó.
    Tôi hất tay anh ra và lẳng lặng bước vào buồng tắm, ngắm mình trong gương. Đó, thấy chưa? Cô gái son phấn, xinh đẹp, đôi mắt lạnh lùng, cặp môi hìmh trái tim tươi ướt kia mới chính là tôi đó, chứ đâu phải cái con “Vân dại” lúc nãy.
Vậy là con người đâu chỉ có lớp vỏ bọc duy nhất là quần áo, không, còn một cái gì đó khó cắt nghĩa lắm khiến cho con quỷ sứ lúc nãy biến thành cô gái xinh đẹp lúc này. Tôi đâm ngờ ngoài quần áo ra, xưa nay tôi vẫn sống trong cái vỏ bọc nào đó mà chính tôi và những người bao quanh tôi không ai biết được. Và như thế, phải chăng mới đúng là con người? Tôi nhoẻn cười trong gương, trừng mắt lên, rồi nhăn mũi lại, đó những thứ đó toàn là đồ phụ tùng cả thôi, nếu quẳng hết đi liệu tôi sẽ thành cái thứ gì?
Tôi bước ra phòng ngoài với cái dáng uyển chuyển tự tạo khiến Bình phải ngây người :
      - Sao hôm nay em đẹp thế?
     Đó, thấy chưa, nếu tôi không “trình diễn” một chút, đời nào chồng tôi reo một cách thành thực thế. Hóa ra “của giả” có khi là hấp dẫn hơn “ thứ thiệt” đấy.
      - Em mặc thế người ta sẽ tưởng em đi dạ hội chứ không phải đi thăm người ốm.
      Ừ nhỉ, anh không nhắc, tôi quên biến mất chiều nay phải có mặt ở cơ quan để cùng ông Giám đốc, ông Trưởng phòng đi thăm cụ nhà thơ đang ốm. Nói theo nhà tu từ, trong cái “văn cảnh” ấy, tôi phải chọn một “từ ngữ” khác, khác cái vỏ bọc vui tươi, bóng lộn tôi đang khoác đây.
Bình nhìn tôi chăm chú chợt phá ra cười :
      - Em mới mua cái áo này của ai thế ?
 Tôi cúi xuống dòng chữ in trên ngực áo, chợt hiểu, khỉ thật, sao lú lẫn ruột gan đến thế, chiếc áo pull  này mua lại của bà phòng hành chánh mới thăm con trong Sài Gòn ra, tôi thích cái màu vàng tơ và cái dáng khỏe khoắn của nó, cứ để giành mãi trong tủ, giờ mới hứng lôi ra mặc.
      - BON VOYAGE... chúc cụ thượng lộ bình an...ha ha...
      Bình reo lên, cười cùng cục như chọc tức làm tôi nóng mắt :
      - Có cái gì lạ đâu mà cười ?
      Ừ nhỉ, có gì lạ đâu, người ta sinh ra ai chẳng phải chết, chết cũng là một hành trình, một chuyến đi chứ sao,vậy thì chúc tụng trước khi lên đường thì có gì lạ.
      Bình cãi :
      - Nhưng mà cụ ấy chưa chết.
      - Anh thật dở hơi, chưa chết thì mới chúc chứ, chết rồi còn biết gì nữa mà chúc.
      Tôi toét miệng ra cười khiến Bình xích lại nhìn chòng chọc vào mắt tôi :
      - Em có loạn thần kinh không đấy ?
      - Có anh loạn ấy, thôi xê ra cho tôi đi .
      Tôi vớ mấy cuộn băng nhét vào túi xách bước ra cửa.
      - Vân, quay lại thay áo đã.
      Kể ra anh đừng gọi tôi như quát thế, đừng chọc tức tôi bằng hồi cười cùng cục như nước chảy trong ống, đừng cãi lý tay đôi, nhất định tôi sẽ vui vẻ thay áo khác, thậm chí có thể mặc áo sơ mi đen đến thăm người ốm cũng được. Tuy nhiên, mọi việc đã diễn ra không như thế, tự ái của tôi đã nổi đùng đùng, nó đẩy tôi phăng phăng dắt xe khỏi nhà, ở đầu khu tập thể, tôi “vấp” ngay phải ông Giám đốc may  nếu tôi không lầm, ông có ý chờ sẵn.
      - Chào cô Vân đi làm.
      - Chào bác...
      Nếu không có việc nhờ cậy kia hẳn ông sẽ nhìn xoáy vào ngực tôi trong cái pull này, ý thức mục tiêu của ông ghê vậy đấy, đè bẹp cả dục vọng bản năng. Bởi vậy, không nhìn vào tôi, mắt ông cụp xuống :
      - Cô Vân không kiếm lấy cái Babetta đi cho đỡ vất vả.
      - Tôi phải đi xe đạp cho bớt phì bác ạ.
      - Ồ, cô nói chơi vậy thôi
      Ông bẽn lẽn nhìn xuống cái bụng khổng lồ của mình có thể giấu giếm mọi thứ ở bên trong trừ ra thể tích của chính nó. Cũng may lúc nãy tôi phanh kịp khi ông nhào tới đón đầu xe đạp, nếu không hẳn bụng ông sẽ nổ như quả bom.
    - Bác yên tâm, chiều nay tôi sẽ tới Hồng Loan nhắc chuyện đó.
     Ông reo lên, lắp bắp cảm ơn, hứa hẹn chuyện gì đó chưa kịp nói hết tôi đã nhảy lên xe đạp đi để mặc ông ta nhìn theo với ánh mắt mà tôi chắc nếu quay phắt lại hẳn nhìn thấy ông ta bối rối.
     Bà trưởng phòng hành chánh giơ cả hai tay lên trời khi thấy tôi dắt xe vào cơ quan.
     - Ôi giời, sao cô tới muộn thế, các ông ấy chờ cô cả tiếng đồng hồ, thôi, họ đi mất rồi.
    - Vậy cháu khỏi đi.
    - Không , cô phải đến đó chứ, ông Giám đốc dặn rồi, cô phải đến đó.
    Bà hốt hoảng làm như nếu tôi không đi, trách nhiệm sẽ trút hết lên đầu bà. Cô nên đi, nghĩa tử là nghĩa tận, cụ ấy gần đất xa trời lắm rồi. Trưa nay người nhà đến báo lần nữa, mà tôi thấy cụ ấy quí cô lắm đấy, lần nào tới lãnh tiền, cụ ấy cũng hỏi cô trước tiên. À, mà này, cái áo bữa trước nhiều người cứ chê màu dợ quá không dám lấy, thế mà cô mặc lại hợp, gớm, cứ nõn nà như con gái còn tân ấy thôi...
 Bà nắm lấy ghi - đông xe tôi, vừa đi vừa nói líu lo liên hồi như thể nếu dừng lại, tôi sẽ đổi ý không đi nữa thì chết bà. Ra tới tận ngoài đường bà mới đẩy tay vào người tôi, thở ra:
     - Đạp nhanh lên không mấy ông ấy chờ. À mà đi thăm người ốm sao lại mặc cái áo ấy?
     - Vậy để cháu về thay áo khác.
     - Thôi thôi, vẽ chuyện, mặc gì chả được, cốt nhất là ở cái tấm lòng.
      Bà hốt hoảng đẩy mạnh xe tôi cái nữa và yên chí rằng tôi đã đi, bà xoa tay, thở phào...

                            (còn nữa)

_______
(*) Bon voyage: chúc lên đường bình yên

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ? (KỲ 28)

                                 
                                                                     (tiếp theo)

Trước hết, ông  Trúc Anh cho rằng “ bi kịch về những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Ba người khác, với những người quan tâm hoặc hiểu biết về nó, đều đã quen thuộc. Có lẽ cũng biết điều này, để tránh sự “quen thuộc”, nhà văn Tô Hoài đã chọn cách viết tác phẩm từ lời kể của tên tội phạm, khác với những tác giả trước đây, viết với tư thế là nạn nhân, pháp quan, thầy đời v.v… “
Cách lựa chọn “khôn ngoan”  của Tô Hoài bị Trúc Anh  riễu cợt :
“Và sự lựa chọn này đã khiến Ba người khác ngay lập tức được các nhà phê bình, nhà văn “tài cao, đức trọng”, tôn vinh nhiệt liệt như đón chào ngôi sao rực sáng trên bầu trời văn chương Việt Nam…”
Từ đó, Trúc Anh “lật tẩy” thái độ của Tô Hoài với cải cách ruộng đất :
” bằng thứ giọng bình thường hoá tội ác, toàn bộ lời kể của Đội Bối, trong Ba người khác, không chỗ nào tỏ ra đau khổ hay sám hối. “
và quy trách nhiệm cho Đội Bối mà thực chất là Tô Hoài :
“Không biết khi kể chuyện, Bối đã hết chất lưu manh, dối trá hay chưa, nhưng ở cái xã và các xã đang “thổ cải” thời kỳ ấy, những nơi mà mầm mống nhân tính đã bị chính những người như họ tiêu diệt thì chắc chắn không thể có một ông Đội Bối vô can, và bây giờ lại uốn éo thanh minh rằng mình cũng chỉ là nạn nhân….”
Trúc Anh kết tội Tô Hoài chỉ chăm chăm vào chuyện dâm dục :
“ Trong Ba người khác, chuyện tình dục tội lỗi được kể bằng thứ ngôn ngữ chính xác, khoái cảm hả hê, tâm đắc. Chỉ với 250 trang sách mỏng, những cảnh hoang dâm, quần dâm diễn ra thường xuyên, mọi lúc mọi nơi: Ba anh Đội: Cự, Bối, Đình thay nhau, nhường nhau làm tình các nữ dân quân, bần cố nông “rễ, chuỗi”: Đơm, Duyên… bất kể ban đêm, ban ngày, trước, sau lúc hội họp, lúc đấu tố; làm tình ngay bụi cây bên đường làng, bên đống rạ trong sân; làm tình cô Đơm trước người mẹ tàn tật, làm tình cô Duyên bên ông bố điếc; Đội Bối quần dâm với nhiều nữ dân quân trong một đêm ở lán gác…”
Nhưng có thực trong những ngày “ long trời lở đất”, tức những ngày nông thôn chìm đắm trong không khí khủng bố, đàn áp thời cải cách; chuyện sex, tức chuyện “dâm dục” có nổi lên tràn lan vậy, hay chỉ là cái cách nhà văn Tô Hoài phóng đại để làm lu mờ những chuyện khác ?
“Trong Ba người khác, Đội thấy gái và gái thấy Đội, bất cứ hoàn cảnh nào, cũng như lũ cuồng dâm vồ nhau làm tình, không hề từ tình cảm mà chỉ từ động dục, đổi chác, lợi dụng nhau... giữa làng xã tiêu điều, đói khát, oan khốc, đấu tố tuỳ tiện. Viết về tình dục và dâm đãng để tạo ra sự rùng rợn về một loài kinh tởm hơn cầm thú và man di mọi rợ chưa từng có trong xã hội loài người, thì Ba người khác quả là “ép phê”.

Tác giả bài báo đặt câu hỏi nghi ngờ anh “Đội Tô Hoài “ tố điêu:

“Nhưng người đọc buộc phải ngờ anh Đội Bối “tố điêu”, vì chắc chắn cái hiện thực hoang dâm hủ bại ngập ngụa trên, chỉ có trong trí tưởng tượng ác độc, vô luân của bọn tố điêu, chứ không thể có ở làng quê Việt Nam bất cứ thời kỳ nào. Cái giỏi của nhà văn lớn Tô Hoài chính là ở chỗ này: Vừa làm cho Ba người khác trở thành tác phẩm ăn khách mà vẫn tiếp tục lột trần Đội Bối, cà cuống chết đến đít còn cay, đã thất bại thảm hại, rơi xuống dưới đáy xã hội mà vẫn nguyên vẹn bản chất dối trá, lưu manh của anh Đội Bối ngày xưa”.
Và dẫu anh Đội phó  Bối có chìm ngập trong những chuyện dâm dục , đổ hết tội cho Đội trưởng Cự, nhưng cái chức Chánh án của anh ( cũng là của Tô Hoài) đã tự tố cáo anh:
“Trong Ba người khác, đội phó Bối, kiêm chánh án, không chỉ dùng “nghệ thuật” hoang dâm (vì ngày nay, hoang dâm đang được nhìn nhận là “đổi mới tư duy”) để bình thường hoá tội ác, mà còn trút hết mọi tội ác diễn ra ở xã thời cải cách, lên đầu đội trưởng Cự, một kẻ theo địch, đã chết, chẳng bao giờ có cơ hội viết tự truyện để bào chữa cho mình, đổ tội sang người khác, và nói thêm: Hàng nghìn vụ xử án, kết án oan “kẻ thù giai cấp” hồi đó đều không thể thiếu chữ ký của chánh án Bối. “
Tác giả bài viết cho rằng Tô Hoài muốn chạy tội cho mình trong cuốn “tự truyện” này, đổ hết lỗi cho người khác cho dù thời cải cách ruộng đất ông đã làm tới chức…Chánh án Toà án nhân dân :
“ Song đỉnh điểm cao thâm của nhà văn lớn Tô Hoài trong Ba người khác lại ở chỗ, vừa rút hết vốn sống của người trong cuộc, viết ra loại sự thật đáp ứng được khẩu vị và sự hiếu kỳ, khiến người đọc, nhất là các nhà phê bình đang muốn nổi của nền văn học Việt Nam, phải trầm trồ tâm phục khẩu phục, ông đồng thời vẫn tách bạch được sự thanh cao, thánh thiện bằng giọng văn dưng dửng, biếm biếm, như mình hoàn toàn là người ngoài cuộc, nên cùng lúc, ông cũng được ca ngợi là khách quan, dũng cảm khi dám mổ xẻ, phanh phui đến tận cùng một đề tài nhạy cảm.”
Và chính vì lối “chạy tội” đó, Tô Hoài đã không dám chỉ đích danh thủ phạm gây nên thảm trạng cải cách ruộng đất chính là Đảng và Nhà nước mà là do người của…địch cài vào :
“Bi kịch cải cách ruộng đất ở xã nọ kết thúc có hậu, kèm theo lời giải đáp “đúng hướng” về nguyên nhân đẻ ra sự xáo trộn làng quê kinh hoàng: Đội Cự có vẻ như do địch cài vào, Đội Bối là đảng viên giả mạo, còn Đội Đình, đảng viên thật sự, chỉ có mỗi tội lãng mạn không tưởng.”
Vậy là đảng viên Tô Hoài và Đảng cộng sản của ông là…vô can, lỗi là ở “kẻ xấu” chui vào hàng ngũ ta. Để thực hiện được “ý đồ chạy tội “ đó, Trúc Anh đã tố cáo Tô Hoài dùng mẹo “ve sầu thoát xác” :
“Nhiều người bảo Ba người khác đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam. Nói như thế là chưa thấy hết tầm cỡ của Tô Hoài, chưa hiểu thế nào là thuật kim thiền thoát xác. Đọc xong Ba người khác, không nhìn ra người thứ tư, một anh Đội Bối B, sau cải cách, sau sửa sai, vẫn tiếp tục được thăng quan tiến chức, hưởng ngập mặt những bổng lộc, quyền lợi, nhờ cải cách ruộng đất, và đến tận cuối đời, chứng khôn ranh vẫn nguyên vẹn, vẫn thu hút được quanh mình đủ loại “chuỗi, rễ” đời mới, là chưa hiểu hết cái sâu xa, cái vô cùng của tác phẩm …”
Anh Đội Bối B chẳng phải ai khác, chính là nhà văn Tô Hoài, sau cải cách vẫn thăng quan trong Hội nhà văn, vẫn “ lập kỷ lục quốc gia” về …số lần đi nước ngoài .

                                    *
                                 *    *

Bài “Đọc tác phẩm “Ba người khác” của nhà văn lão thành Tô Hoài “ của Trúc Anh rõ ràng lên án nhà văn Tô Hoài với lời lẽ thật quyết liệt, sâu cay, vậy mà chắc do “trình độ có hạn”, hoặc đầu óc lú lẫn vì đấu đá nội bộ, ông NTK Vụ trưởng Vụ báo chí “hồi ấy” đọc xong lại “nhầm tưởng” là …bài báo quá khen “ Ba người khác “ của Tô Hoài, trái với chỉ đạo của Ban tư tưởng là không được khen, chỉ có…chê. Lập tức ông nổi giận đùng đùng, tại cuộc giao ban báo chí ngày 6-2-2007, ông lên giọng “lãnh đạo” :
“Nếu ý của tác giả là phê phán cuốn sách thì tự bài viết đã bộc lộ sự non tay, né tránh và sơ hở, nhiều đoạn trong đó vô hình chung ca ngợi tác phẩm một cách quá lời. Nhìn toàn cục, bài viết nhập nhằng giữa khen và chê, chê qua loa nhưng khen  thì quá rõ…”
Và rồi ông Vụ trưởng Vụ báo chí kết cho tác giả Trúc Anh và  báo Sàigòn  giải phóng  cái tội “chết người” :
“ …thiếu tính định hướng…”
Trong làng báo Việt Nam, đây là tội nặng nhất, báo chí có thể đưa tin sai lệch, thiếu chính xác, nhưng “thiếu định hướng” tức là cãi bướng, không tuân theo sự chỉ đạo của Ban tư tưởng” là…chết.
Mặc dầu thừa biết là thủ trưởng “phán láo”, kết tội oan uổng  nhưng mấy ông Tổng biên tập vẫn ngồi im thin thít, không ông nào dám cãi lại. Bởi lẽ im lặng là vàng , anh nào dám ho he cãi lại cấp trên thì  coi chừng, mất ghế có ngày. Biên bản cuộc họp giao ban này chắc được giấu biến để khỏi tới tay lão nhà văn Tô Hoài tránh cho ông nổi giận rất có hại cho sức khoẻ người già.
Dẫu sao, dù Tô Hoài có “chạy tội” hay không, “Ba người khác” vẫn là một dấu son trong sự nghiệp , vẫn là cuốn tiểu  thuyết phản ánh chân thực, lên án mạnh mẽ cuộc cải cách ruộng đất do Đảng phát động, mà hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nay vẫn còn là vùng đất cấm đối với các nhà văn ăn bổng lộc của Đảng.
 Ngày xưa ở Hànội hồi trước 1954, hàng năm vẫn tổ chức đua xe đạp quanh bờ hồ. Trong các cua-rơ – vận động viên đua xe – nổi lên một người  được gọi đầy thiện cảm là “cua-rơ Bát Già”. Xấp xỉ tuổi 70, sức đã yếu so với đàn em trẻ, nhưng cua-rơ Bát Già vẫn bền bỉ bám đường đua, nhất định không  bỏ cuộc, vẫn cán đích trong tiếng vỗ tay râm ran của hàng ngàn người hâm mộ cho dù cuộc đua đã kết thúc. Hình ảnh lão nhà văn Tô Hoài ngoài 90 tuổi vẫn miệt mài cầm bút gợi nhớ tới cua-rơ Bát Già ngày xưa. Kính chúc bác Tô Hoài sống lâu trăm tuổi để còn viết nhiều và viết hay hơn nữa.

18-4-2012

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (KỲ 26)

                                   
                                             (tiếp theo)

                                      6.

      Bao giờ cũng thế, là người con gái độc nhất phòng, tôi mở đầu ngày làm việc bằng cầm cái chổi đưa chiếu lệ trên sàn gỗ “một nhát đến tai, hai nhát đến gáy” rồi bưng ấm chén cáu cặn trà xuống  bếp lấy tro cọ thật trắng cho các ông biên tập ra sức bôi đen bằng thứ nước trà đặc quánh . Chỉ nguyên hai việc mở đầu một ngày đó cũng đủ làm ông Trưởng phòng hài lòng, bỏ qua cho tôi các tội tày đình khác: nào chậm đọc bản thảo, nào giữa giờ bỏ đi chơi, nào hẹn cộng tác viên tới làm phiếu tạm ứng mà tôi lại mất mặt. Tuy vậy,  lần  nào cái việc “tối quan trọng” ấy, tôi đều ghi lên bảng để dù mưa bão, ô tô chẹt ngoài đường, tôi cũng cố sống cố chết có mặt ở cơ quan vào đúng giờ hẹn. Sáng nay tôi đã viết xong giấy tạm ứng cho nhà thơ X., nhà thơ lớn cấp quốc gia, tác giả tập tuyển thơ tháng trước ông Giám đốc ra lệnh phải đưa vào cả bài “Thu thuế nông nghiệp” lẫn bài “Cõng con đi kể khổ”.
Tôi thi hành vượt mức cả yêu cầu của ông, bao nhiêu bài lớn, bài nhỏ tôi chọn tất, trừ mỗi loại thơ tặng các cô gái “ái mộ” rải rác trên toàn quốc là  chưa sưu tầm được, công việc lớn lao đó đành phải giành cho các thế hệ sau.
Ông giám đốc rất hài lòng, phần thơ sau cách mạng rõ ràng đánh máy dày gấp đôi phần trước cách mạng, điều đó chứng tỏ thực sự cụ X : “đã lột xác tiểu tư sản trí thức để trở thành một người lính tiên phong trên mặt trận văn hóa nghệ thuật phục vụ công nông binh” như cụ đã viết trong bài mở đầu tập tuyển.
Phần biên tập của tôi đã xong, ông giám đốc lại ra lệnh gấp cho bộ phận chạy in. Cụ X năm nay đã ngoài cái tuổi xưa nay hiếm, tuy vậy ở độ tuổi 75, cụ không được khỏe như nhiều cụ khác, phải chống batoong,và cứ mỗi lần tới nhà xuất bản, tôi lại thấy cụ bớt đi nhiều cái sang sảng trong giọng nói lúc nào cũng véo von như ngâm thơ. Lần đầu tiên được tiếp cụ, tôi kính nể lắm, chắp tay lại, lễ phép : “chào cụ ạ...”
Lập tức cụ sầm mặt, ông Trưởng phòng vội ghé tai :
 “Gọi bằng chú thôi”.
Từ đó tôi mới hiểu trong ngôn ngữ của ta, đang có chiều hướng loại bỏ chữ “cụ” nhất đối với các nhà thơ, nếu bạn nghi ngờ điều này, xin mời đón đọc tập tuyển thơ cụ X, tập I có in bài tặng em Lan, tập 2 có bài tặng em Cúc, hai bài thơ cách nhau nửa thế kỷ, cụ vẫn cứ xưng “anh anh, em em” ngọt sớt.
      Tôi ngước nhìn đồng hồ, nhà thơ đã quá hẹn nửa tiếng, một sự lạ so với mọi lần cụ đến lĩnh tiền. Ong Trưởng phòng và các ông biên tập vẫn quây quần quanh  bộ xa lông và đã thay tới ấm trà thứ ba.
Đề tài “bù giá vào lương” đã nhường chỗ cho “chống bao cấp xuất bản” trong câu chuyện liên tục sôi nổi suốt từ đầu giờ, nều như có băng cátxét ghi lại, mấy ông hẳn chết ngất khi nó tới tai cấp trên.
 Tôi tiếc cho các nhà phê bình, nếu thuê tôi ngồi ghi chép mọi câu chuyện nghe được ở cái phòng biên tập này, hẳn các ông có nhiều phát hiện độc đáo khó đưa được vào các bài viết vốn dĩ cân nhắc kỹ lưỡng từng dấu phẩy của mấy ông.
      - Cô Vân có khách.
      Tiếng ai từ dưới cổng vọng lên làm tôi nhẹ cả người. Vậy là tôi đã có cớ để chuồn, cụ X. đã trễ hẹn cả tiếng ông Trưởng phòng chẳng còn trách tôi bỏ hẹn được. Tôi hí hửng khóa ngăn kéo, xách túi xuống cầu thang. Bà con gái nhà thơ chờ tôi ở phòng khách làm tôi châng hẩng, lại phải quay lên rồi.
     - Ông cụ tôi  bị mệt, tôi tới lĩnh thay.
     - Chết, cụ mệt có nặng lắm không cô?
      - Hai hôm nay chỉ nằm một chỗ húp nước cháo thôi.
Vậy tôi nguy rồi, ông Trưởng phòng giao tôi việc thu băng tiếng cụ đọc thơ, sau này cụ có nằm xuống, Nhà xuất bản sẽ có tư liệu quý về một nhà thơ nổi tiếng cấp Nhà nước, chắc chắn nhận giải thưởng Hồ Chi Minh. Việc này lẽ ra phải làm lâu rồi, nhưng cứ nấn ná mãi, nếu chẳng may cụ vội đi, tôi chưa kịp thu băng, ông Trưởng phòng chắc kỷ luật tôi. Tôi vội dắt bà con gái nhà thơ xuống tài vụ lĩnh tiền rồi phóng ngay lên gác gặp ông Trưởng phòng :
      - Chú ơi, nguy rồi, cụ X. mệt nặng.
      - Vậy hả ? Cô xuống báo phòng hành chính chuẩn bị xe và quà chiều nay ta tới thăm.
      - Nhân tiện ta thu băng luôn.
      Ông Trưởng phòng suýt ngã ngửa vì cái việc quan trọng thế mà tới tận giờ tôi chưa chịu làm. Ông định cằn nhằn, may quá, ông Giám đốc bước vào. Ông Trưởng phòng nguội hẳn khi ông Giám đốc khen tôi đã làm tập tuyển của nhà thơ X. rất đầy đủ.
      - “Cụ ấy đang ốm nặng đấy”
 Ông Trưởng phòng trịnh trọng báo tin làm tôi ngạc nhiên vì nhà thơ được lên chức “cụ” quá nhanh. Cả ông Giám đốc nữa, ông cũng không gọi nhà thơ bằng “ông” nữa, ông ra lệnh:
      - Chiều nay ta sẽ đến thăm cụ ấy. Cô Vân xuống báo hành chính chuẩn bị.
      Tôi vội phóng xe về nhà, may quá trưa nay Bình không ở lại cơ quan. Vừa hớt hải lên cầu thang, tôi hỏi ngay :
      - Cái radio- cátxet của mình còn thu băng được không ?
      - Để lát nữa anh phải thử lại, nhưng có việc gì thế?
      - Thu cụ X. ngâm thơ…
      - Lại phát trên Đài nhân ngày giải phóng Thủ đô chứ gì ?
      - Cụ ấy ốm nặng kề miệng lỗ rồi còn thiết gì. Thu băng làm tư liệu  thôi.
      Bình vỡ lẽ, gật đầu :
      - Giá như có máy quay phim ghi hình thì tốt.
      - Thôi ông, bán cả Nhà xuất bản cũng chả sắm nổi .
      Bình còn dài dòng về sự tân tiến của các nước phương Tây, triển vọng kết hợp giữa máy tính và máy thu hình làm tôi sốt ruột suýt nổi cáu, anh mới chịu lôi ra cái rađio - cátxét trên hộc tủ.
Hồi mới mua lại của Điền, anh bạn kỹ sư thủy văn, chẳng tối nào là anh không lôi thu hết ca nhạc, tiếng nói chính anh rồi cả chương trình dạy tiếng Anh đài BBC. Được vài tháng, cơn sốt ghi băng qua đi, anh xếp hết  vào tủ, chiếc máy chỉ còn dùng thỉnh thoảng nghe tin thời sự và buổi tiếng thơ vào lúc anh leo lên giường. Bây giờ anh lôi hết cả ra, hí hoáy chọn băng cátxét, nói thử vào micrô :
“Một, hai, ba, bốn, năm, sáu... anh nói em nghe rõ không ?”.
Tôi phì cười:
      - Anh gào tướng lên thế làm gì máy chẳng thu được. Thử nói thều  thào giọng cụ già ốm nặng xem sao?
      Nghe lời tôi, anh nói thầm:
      - Một, hai, ba...tôi là nhà thơ Kiều Vân đây, tôi là nhà thơ Kiều Vân đây. Một, hai, ba... tôi xin đọc một bài thơ tình.
      Anh cất giọng ư ử như người sốt rét. Không biết là do băng cũ hoặc do điện yếu, lúc thử lại, tiếng anh thều thào, khò khè như người hấp hối đang dối dăng :
      “Xích lại gần đây thêm chút nữa
      Hôn anh đi trời chưa ngã chiều hôm...”
      Trời ôi, tôi không thể nào không phá lên cười.
      - Ha ha...ha ha...ha ha...
      Lợi dụng lúc tôi lăn lộn trên giường, Bình xấn lại làm tôi càng cười to :
      - Ha ha...ha ha...ha ha...
      Khi áo ngực tôi xổ tung, một người ló vào rồi lại thụt ra làm tôi im bặt, chết chửa, quên không đóng cửa. Tôi đẩy vội Bình ra, sửa lại khuy áo, quát ra ngoài :
      - Ai ngoài đó, xin mời vào.
      Trời tưởng ai, ông Giám đốc Xí nghiệp may mặc, lão này kỳ quặc, giờ nghỉ trưa của vợ chồng người ta.
      - Vợ chồng trẻ vui vẻ quá nhỉ ?
      Ông ta nói một câu thật vô duyên rồi cứ đứng đực ra, gãi đầu cười ngớ ngẩn. Tôi đoán chắc ông ta chỉ cần mỗi cái việc nhờ cậy bữa trước, nên  nói ngay:
      - Tháng trước tôi đã nói với Hồng Loan giúp bác rồi.
      - Cảm ơn cô nhiều lắm. Có chút quà... gọi là... gọi là...
      Ông rút trong túi ra cục xà bông Camay rụt rè đặt trên bàn. Phải nói thực tôi rất thích loại này, nó thơm mát dịu chứ không gắt quá. Tuy nhiên túi tiền của cả hai vợ chồng không cho phép tôi dùng thường xuyên loại xa xỉ này. Ông Giám đốc may mặc chẳng hiểu vô tình hay cố ý mà rành tâm lý đến thế?

                       (còn tiếp)

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ? (KỲ 27)


                                       (tiếp theo)
 
Theo quy trình “phóng tay phát động quần chúng”, khi cán bộ đội về làng bước đầu tiên thăm nghèo, hỏi khổ, tìm cho ra người nghèo khổ nhất  làng  để bắt “rễ” tức là vác ba lô tới “ba cùng”, ôn nghèo , nhớ khổ từ đó tìm ra người nghèo khác  gọi là “chuỗi” hợp thành đám cốt cán của đội, sau này sẽ chia nhau nắm giữ các chức vụ quan trọng ở trong làng.
 Lý thuyết vậy, nhưng ông Đội phó Bối xuống xóm lại chọn ngay nhà lão Diệc cắm chốt vì lão có đứa con gái hơ hớ. Đã chót bóp vú con gái người ta rồi ông Đội phó đành chọn bố cô gái, tức lão Diệc làm “rễ”. Trớ trêu, lão Diệc lại có bố vợ là Phó Thìn vốn có ngót mẫu ruộng, có bát ăn bát để , có nguy cơ bị kích lên thành địa chủ.
Lão Diệc mồ côi từ nhỏ, lớn lên làm công cho nhà  lão Thìn, lão này có đứa con gái Ut bị “xi cà que” tên là Khoèo, chẳng gả được cho ai, tốt nhất là gán cho thằng Diệc. Thế là được bố vợ cho một dẻo đất làm nhà, thằng Diệc cõng cô Khoèo về chung sống đẻ ra cô Thơm. Ong Đội phó Bối bắt rễ vào lão Diệc, lại cả ngày cứ cặp  kè với cô con gái nên mãi vẫn chưa tìm ra ai là địa chủ khiến tên Đội trường Cự phải mắng :. 
“Đồng chí đã biết “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, tố khổ cả tháng mà không tìm ra địa chủ, cái thằng rễ không mở mồm vạch thằng bố vợ gian ác một câu thì còn ai dám nói. Thằng Diệc được bồi dưỡng thế nào mà vẫn là cái đụn rạ, họp thôn không ấp úng nói đủ được câu “thưa toàn thể đồng bào”, người ta xỏ lá phản ánh lên là cốt cán ăn nói khinh nông dân. Tôi biết hết, chẳng cần báo cáo của đồng chí đâu. Việc xóm nào không qua được mắt này. “
Thế là lấy cớ tăng cường cho Đội phó, gã Đội trưởng Cự dọn ngay về nhà lão Diệc và ‘chớp” ngay cô Thơm, nẫng tay trên của ông Đội phó. Do lão Đội trưởng Cự làm mạnh tay, cụ Phó Thìn “một lão già tám mươi tuổi heo hắt như cái dây khoai, mắt thong manh mù dở, khoèo chân không duỗi ra được” bị quy thành địa chủ, bị bắt giam và bị đưa ra pháp trường đấu tố :
“Sớm hôm sau, bốn người đeo súng trường vào chỗ giam địa chủ Thìn. Người nào cũng hăng hái, sững sờ khác thường như vừa có chén rượu. Tôi đứng giữa nhà, nhìn bao quát. Hai người mở chốt cũi. Đũng quần lão già đầy kẹp cứt, cả gian âm u ẩm ướt thối không chịu được. Mấy người nhà xúm lại khóc rưng rức, đỡ lão Thìn.
Tôi hét:
- Cút ra đằng kia!
Một dân quân vào bếp lấy ra cái đòn ống. Trưởng thôn Cối ở đâu xồng xộc chạy vào, cúi xuống, lột cái áo vét đã đen địa chủ Thìn đương mặc, ngẩng lên cười hê hê: “Để cho mày khỏi vướng …” Rồi  xỏ tay vào mặc áo luôn…”
Cảnh đấu tố sau đây là tiêu biểu và phổ biến tại khắp làng thôn miền Bắc vào thời kỳ đen tối của lịch sử đó :
“Bãi mít tinh đông nghịt người. Giữa đám, những tàu dừa kết thành hàng rào xanh trang trí sau bàn toà án.Cuộc đấu  nổ liên tiếp, khi địa chủ Thìn vừa được đặt xuống ngồi tựa vào cái cọc. Người chạy lên chạy xuống, tới tấp.
- Mày có biết tao là ai không?
Thế nào mà tiếng lão già sắp chết này vẫn nói sang sảng:
- Thưa bà nông dân… tôi không biết…
- Tao đi ở cho cháu mày.
- Thế thì tôi không biết thật ạ.
- Mày lấy roi cặc bò đánh tao. Đả đảo địa chủ!
Rồi hớt hải chạy xuống giữa tiếng đả đảo cuồn cuộn trong đám người…Lão Thìn lả người, lăn quay ra giữa bãi đống văn tự, giấy tờ, sổ sách chữ Tây chữ ta trong nhà lão khuân ra đốt, khói urn lên, tàn than lả tả bay như đàn bướm đen. Những tiếng quát rộ  lên: Không cho nó nằm! Nó nằm sập gụ cả đời rồi! Bắt nó đứng! Bắt nó… Địa chủ Thìn bị xốc lên, trói hẳn vào cái cọc đã chôn sẵn. Đầu lão ngật đi. Chốc chốc lại ỉa tháo ra cái quần đã tụt võng hẳn xuống hai đốt chân bằng cái ống nứa…”
Nhưng kinh khủng nhất là cảnh con rể lên tố khổ bố vợ, cháu gái  vác súng chuẩn bị bắn ông ngoại :
“…Giữa những tiếng láo nháo hô đả đảo, bác Diệc run run bước lên. Mặt tái ngoét như con gà cắt tiết. Tổ dân quân mấy xóm dàn hàng ngang. Đơm khoác súng đứng hàng đầu…Bác Diệc chỉ tay vào địa chủ Thìn:
- Tao thù mày ! Tao thù…
Rồi khóc rống lên, chạy xuống. Đội trưởng Cự  xô ngay ra trước loa, quát to:
Hôm nay là ngày thắng lợi của giai cấp nông dân chúng ta, cấm không ai được khóc.”
Cái ngày “đại thắng của nông dân” đó cũng là ngày không biết bao nhiêu người đã ngã xuống chết tức tưởi, chết trong la hét, chửi rủa của đám đông bị kích động một cách mù quáng :
“Cả nghìn con người lại im như tờ. Khi một loạt tiếng súng toả khói xanh um lên, đám đông ở dưới đẩy nhau chạy. Ai cũng khiếp tiếng nổ. Người hãi máu, bịt mắt lại. Người nhốn nháo ra các ngả. Tiếng trống cà rùng của đội thiếu nhi nổi lên khua rầm rầm, vang vang. Thế là địa chủ Thìn chết...”
Cụ Thìn chết oan uổng , chết nhục nhã khi cả con rể, cả cháu ngoại đều đứng trong hàng ngũ những kẻ hành hạ cụ. Duy nhất chỉ có cô con gái – bà Khoèo, vợ thằng “rễ” Diệc và mẹ cô “chuỗi” Thơm vì quá thương xót bố và căm thù bọn tội phạm đã lao đầu vào cối đá tự tử.
  “Người thứ ba” – hay “cán bộ đội “ thứ ba tên Đình, lại cũng chẳng tử tế gì. Theo đánh giá của chính Đội phó cải cách :
“ Mà cái thằng Đình cũng ác ôn ra trò, phét lác một tấc đến trời, lại tỏ vẻ lý sự, đạo đức, phải phết nó một đòn bịt mồm.”
Cũng giống như ông Đội phó, cán bộ Đình vừa xuống xóm đã gạ ngay được cô cốt cán tên Duyên để rồi cô này sang tay Đội phó và sau cùng cả cô Thơm lẫn cô Duyên đều lọt vào tay Đội trưởng cải cách.
“ Ba người khác” của Tô Hoài đưa ra một bức tranh khá toàn cảnh công cuộc cải cách ruộng đất, đặc biệt đi sâu khắc  hoạ chân dung những cán bộ Đảng  thực thi cuộc “cách mạng ruộng đất” ấy . Do cách lựa chọn trung thành với Đảng, đứng vững trên lập trường Mác Lênin nên những kẻ được chọn đều là bọn lưu manh, trộm cướp , thất học. Đó là tình trạng phổ biến được nhà văn Tô Hoài khắc hoạ một cách chân thực và sinh động. Và đó cũng là đóng góp lớn nhất của tiểu thuyết “ Ba người khác” cho đề tài cải cách ruộng đất – đề tài mà văn học và nghệ thuật chắc chắn còn đề cập tới trong những tác phẩm ngày càng sâu sắc hơn, dũng cảm hơn, phơi bày toàn bộ thực chất cuộc vận động “người cày có ruộng”, minh oan cho hàng trăm ngàn oan hồn hiện vẫn còn vất vưởng, chưa được siêu thoát vì những tên tội đồ vẫn chưa bị trừng phạt.
Mặc dầu bấm bụng cho phép xuất bản cuốn “ Ba người khác” của Tô Hoài, nhưng “trên” vẫn chỉ đạo ngầm báo chí , nhất là báo Đảng không được tuyên truyền rùm beng, tốt nhất là tảng lờ, báo nào viết bài về cuốn sách này thì nhất thiết phải…chê.    
Nghiêm chỉnh vâng theo chỉ thị đó, báo Sàigòn giải phóng số ra ngày số ra ngày 28-1-2007 đăng bài “Đọc tác phẩm “Ba người khác” của nhà văn lão thành Tô Hoài “ của Trúc Anh  chê bai kịch liệt với ý là nhà văn Tô Hoài chơi trò ‘chạy tội”  khi chính ông đã từng là Chánh án Toà án nhân dân, là Đội phó Đội cải cách vậy mà bây giờ chưa có lời sám hối nào với nạn nhân trong cải cách ruộng đất, mà còn đổ hết tội cho anh Đội trưởng, còn mình chỉ là anh Đội phó hám gái, chỉ thừa hành lệnh cấp trên.


                 (còn tiếp)


Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (KỲ 25)


                                    
                                            (tiếp theo)

“Đi đâu bây giờ ?”, Hồng Loan hỏi tôi, tôi hỏi lại Hồng Loan, nghĩ mãi chẳng biết đi đâu. “Mua ngô rang về buồng tớ, nằm ăn với nhau”, ừ nhỉ, trời đông lạnh giá thế này, chui vào chăn bông tán gẫu thì tuyệt, chỉ ngại nhất đàn chó ngao nhà Hồng Loan, tôi ngây mặt nghĩ mãi chẳng ra cái trò nào hay hơn, đành nghe lời nó rủ rê.
Thế là suốt chiều, hai đứa nằm đắp chăn, ở giữa để mẹt ngô rang giòn, thỉnh thoảng lại cười rú: “tay ải tay ai”, “tay ảnh tay anh”...khiến bà già nó phải đẩy cửa ngó đầu vào xem hai đứa có lên cơn thần kinh không ? Ôi, cái tuổi đi học, nếu ai không một lần cúp cua, không một lần trật khỏi đường rầy “con ngoan, trò giỏi” thì mai sau khi đã thành “cán bộ nhà nước” rồi, lấy đâu ra kỷ niệm mà bồi hồi tưởng nhớ như tôi lúc này ?
      Thế mà đã cuối thu rồi đấy, đạp xe ra phố lác đác đã thấy vài ba màu áo len mỏng các cô gái diện sớm đủ tạo cho tôi bồi hồi cảm giác sang mùa. Tôi bỏ ngay ý định đến cơ quan vào một buổi sáng dễ lay động lòng người  thế này. Tôi ghé quán chè chén vắng dưới gốc cây bàng góc phố, bà già thắt khăn mỏ quạ co ro trong áo mền bông, ngồi lim dim bên bàn gỗ chỏng chơ vài ba lọ kẹo.
Hai bàn tay ôm chén trà bốc khói, tôi ngồi nhìn sự tàn phá âm ỉ của thời gian in rõ trên những nếp nhăn gương mặt bà già, trên những vết nứt nẻ của đôi tay khô héo.
Một ngày nào đó, tôi cũng sẽ như bà.

“Je vais vous dire ce que me rappellent, tous les ans, le ciel agité de l’automne, les premiers dîners à la lampe et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent ; je vais vous dire ce que je vois quand je traverse le Luxembourg dans les premiers jours d’octobre, alors qu’il est un peu triste et plus beau que jamais ; car c’est le temps où les feuilles tombent une à une sur les blanches épaules des statues..”(*)
“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng…” (**)

Tôi lắc đầu cho giọt nước mắt rơi trong chén trà sóng sánh, không, không bao giờ tôi còn quay trở lại buổi “tựu trường” xưa kia nữa, cũng như bà già đây chẳng còn được đạp xe lang thang phố như tôi.
Chồi lá xanh nào rồi cũng hóa vàng để rồi rơi trên mặt phố cho chiếc chổi tre vun đống lại đủ đun nóng một ấm nước của bà già đang lúi húi thổi bếp kia.
Tôi phải làm một cái gì đó chứ ? Ít ra mai sau cũng là một chiếc lá vàng khô hóa thân thành chút nhiệt năng cho đời.
      - Cô xơi kẹo lạc đi, giòn lắm, đường trắng Cuba kia đấy.
Bà già chắc sốt ruột vì sự im lặng nặng nề của tôi cuối cùng cũng đã lôi được tôi vào câu chuyện về năm nay rét sớm, các chú phòng thuế không cho bán rượu nên hàng họ ế ẩm, bao thuốc lá Sông Cầu vừa lấy chiều qua đã mốc...
Tôi nổi máu tò mò, hỏi han gia cảnh cụ theo kiểu các ông nhà văn đi thực tế. Làm công việc viết lách ấy khổ vậy, canh cánh điều mình định viết, mắt lúc nào cũng giương lên quan sát cuộc đời, tay lăm lăm cuốn sổ ghi chép giống như ông Trưởng phòng đi thực tế nông thôn hỏi giá tiền từng cân phân lợn, cân thịt hơi và cân móc hàm...
Vậy thì tôi cũng phải chú ý lắng nghe bà già này chứ. Tuy vậy phải thú thực câu chuyện dài dòng về ông chồng chết vì đau dạ dày, cậu con trai lấy vợ mãi trong Sài Gòn, cô con gái là bác sĩ trong bệnh viện Bạch Mai cũng yên bề gia thất vân vân và vân vân... cũng chẳng lấy gì làm hấp dẫn khiến tôi phải xem đồng hồ vờ kêu lên đã quá giờ hẹn khám răng, giục bà già tính tiền đi cho kịp.
Thế rồi khi sắp đứng dậy, qua vai bà già, tôi chợt nhìn thấy một người đàn ông ngồi bên trong liếp cửa nhà lá lụp sụp. Trong ánh sáng lờ mờ lọt xuống từ những khe hở mái tranh, ông ta ngồi chìm đắm vào chính ông, đôi mắt vẫn mở nhưng dường như đã thôi không còn muốn tiếp nhận hình ảnh xung quanh nữa.
Tôi bỗng rợn người khi nảy ra ý so sánh ông với một xác chết biết ngồi. Không, đúng là như thế, ông không còn mảy may vận động cái đầu bù xù, gương mặt gầy rộc, cho tới cả hàng mi của cặp mắt vô hồn cũng cứng ngắc. Không phải tò mò để viết văn mà chính là hình ảnh bất an nào đó đã giữ tôi ngồi lại dịu dàng nhìn ông với mối cảm thông không sao cắt nghĩa được.
Bà già đã làm xong mọi việc vặt, trở lại ngồi như tư thế ban đầu khi tôi mới tới. Bà rót cho tôi chén nước nữa và nhận ra tôi đang chú ý tới cái gì. Không đợi tôi gợi chuyện, bà chép miệng :
- Thằng cả nhà tôi đó, ngoi ngóp, ngụp lặn gần hết đời rồi lại trở về sống bên mẹ.
Thật không thể tin được cái hình người ngồi kia đã có một thời làm kỹ sư, làm bộ đội xông pha chiến trường, làm Giám đốc một nhà máy lớn, làm chồng một người đàn bà có học và làm cha của hai đứa con kháu khỉnh.
- Mất hết rồi cô ạ, gia sản người ta tịch biên, chức vụ người ta cách tuột, vợ đem con đi lấy chồng khác, chỉ còn mỗi cái thân xác may mà không phải tù.
- Bác ấy can tội tham ô hả cụ ?
- Nào tôi có biết đầu đuôi ra sao ? Nghe tòa xử vậy tôi cũng biết vậy. Tôi là mẹ đẻ ra nó, tôi chỉ biết nuôi nó lớn khôn, phú quý vinh hoa thì nó hưởng, thân tàn ma dại trở về thì mẹ lại thân cò nuôi con.
Tôi cố đứng người dậy, ấn vào tay bà già cả tờ bạc lớn, lắp bắp vài lời an ủi, ngước nhìn lần nữa  hình người bất động rồi hấp tấp dắt xe xuống mặt phố.
Chao ôi “cây đa, quán nước” bây giờ, chẳng còn mang nỗi buồn hoài vọng “con đò năm xưa” nữa, nó đã là nơi trú ngụ của cả một đời mẹ già, là nơi trú ẩn cuối cùng của đứa con tay trắng trở về. Tôi đã sống thờ ơ quá chăng bên lề cuộc sống đang chất chứa bao nỗi niềm phức tạp đòi hỏi con người đương thời như tôi dấn thân vào gỡ rối. Vậy mà than ôi, tôi chỉ là một con bướm nhởn nhơ rập rờn đôi cánh, quẩn quanh bụi cỏ, chẳng mang lại cho ai tới một giọt mật. Lại chiếc xe đạp mini, lại những hàng cây bên phố, lại những con người tất bật, tôi còn biết làm gì hơn là hòa vào dòng chảy đó cho nó cuốn đi như mọi người, như mọi ngày...

                       (còn tiếp)

* Trích Anatole France trong “ Le livre de mon ami”
“Tôi sắp nói với bạn những gì gợi tôi nhớ lại, hàng năm, trời thu xao động, những bữa ăn chiều đầu tiên dưới ánh đèn,và những chiếc lá vàng đi trong những hàng cây run rẩy ; tôi sắp nói với bạn những gì tôi trông thấy khi đi qua vườn hoa Luxembourg vào những ngày đầu tháng Mười, hơi buồn một chút nhưng đẹp hơn bao giờ hết vì đó là thời gian từng chiếc lá  rơi trên vai trắng của những pho tượng…”.
** Trích Thanh Tịnh trong “Tôi đi học”