Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (20)

 NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN (3)



                      (tiếp theo)

Đó là vào dịp đi thực tế sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Thực ra trong vụ này, Nguyễn Tuân cũng có “tham gia “ vài bài như “Quanh việc phê bình tờ báo Văn”, “Phê bình nhất định là khó”, Tìm hiểu Sê-khốp, Cây HàNội v.v.” nhưng cũng chỉ ở mức độ “em xin thưa lại với Đảng” kiểu như “ tình trạng lệch lạc trên mặt sáng tác của báo Văn là do trình độ yếu” hoặc “ đến với nghệ phẩm , anh đến với nó mà anh tham lam quá đáng hoặc  hung hăng một cách không cần thiết thì nó biến mất” …thượng số chỉ thế , chứ chẳng phải đòi  tự do sáng tác, đòi dân chủ  gì ghê gớm như bà Thuỵ Khuê đã viết trong “Thi pháp Nguyễn Tuân” :
“Thời kỳ Nhân văn giai phẩm, Nguyễn Tuân trở lại với tính nghệ sĩ cứng đầu, viết những bài tiểu luận khá ngang tàng, phê bình chế độ và một số lãnh đạo văn nghệ “.
Ôi chao là ngộ nhận, bởi lẽ ngay sau khi được đồng chí Như  Phong ( GĐ NXB Văn Học) uốn nắn trên báo Nhân Dân, đầu chẳng cứng mà khí phách cũng chẳng ngang tàng (từ sau cách mạng chưa bao giờ chàng có được cả hai phẩm chất này để mà “trở lại”), Nguyễn Tuân sám hối ngay một bài “ Nguyễn Tuân tự phê bình” in trên Văn Nghệ, tự nhận “hồi Nhân văn Giai Phẩm tôi đã có  sai lầm hữu khuynh…”,”trong lòng mình thẩm lậu một con đê chưa hàn khẩu” (riêng câu này, bà Thuỵ Khuê có thể dùng để minh chứng thêm cho cái bà gọi là “thi pháp Nguyễn  Tuân”, nhưng “thi pháp” nào cũng còn có  ý nghĩa gì khi nó gói ghém một điều giả dối ?), thành khẩn không thua gì trong “Lột xác”, báo cáo thu hoạch sau đợt học tập chính trị hồi còn ở Việt Bắc.
Tuy nhiên  lần này có khác, kiểm điểm xong, Đảng mời Nguyễn Tuân “đi thực tế mãi trên Điện Biên” và lại còn dặn :
” Các đồng chí mắc sai lầm lần này phải cố gắng đi thực tế…”.
Những tưởng cái “ngang tàng, cứng đầu” trong con người Nguyễn Tuân vùng dậy mà quăng đi cái mũ cối bị chụp lên đầu, hoặc chí ít cũng có một lần thở dài trong trang viết của mình, nào ai có ngờ , những bài viết của Nguyễn Tuân trong đợt đi thực tế này lập tức được các nhà lý luận của Đảng vỗ tay reo mừng . Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ sốt sắng :
” Chưa bao giờ câu văn Nguyễn Tuân có được cái âm điệu hùng tráng vui tin và lạc quan đến thế. Đáng quý ở đây là sự hòa hợp với cuộc sống mới xung quanh , ý thức  đóng góp phần mình vào cái công trường không lồ của chủ nghĩa xã hội”.
 Nhà nghiên cứu Trương Chính khẳng định :
” Chính trong chế độ mới, ông đã tìm ra con người chân thực của ông”.
Nhà văn Nguyên Ngọc cũng reo mừng :
” …tôi muốn chào mừng ở anh Nguyễn Tuân một cách đứng mới, một vị trí mới, không những chỉ là một vị trí mới của anh trong tác phẩm mà trước hết là một vị trí mới của anh trong cuộc sống mới. Anh đã đi rất nhiều , rất say sưa về những con người mới mà lòng hy sinh cao cả của họ đã  hiến dâng hết cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội..”
Tập “Tuỳ bút Sông Đà”của Nguyễn Tuân  viết sau đợt đi Tây Bắc đã được dán rất nhiều tem đỏ kiểu thế. Bởi lẽ , vượt cả yêu cầu của đồng chí Tố Hữu, ông đã coi những người bị đầy đi làm kinh tế mới, những công nhân lầm lũi đập  đá vá đường trên những vùng rừng núi xa xôi, heo hút là “những thỏi vàng của một khối vàng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đem đầu tư vào Tây Bắc”.
 Niềm tin yêu Đảng lúc này chẳng biết thực hay vờ làm Nguyễn Tuân cất lên những trang viết đầy hào sảng :
” tâm hồn tôi đã in sâu và vang động tất cả cái ý thức xã hội chủ nghĩa của người đi mở đường miền Tây”,
”Tiếng máy nổ của kế hoạch kinh tế sẽ trùm lên tiếng cối nước. Ba năm chưa được thì lại năm năm và cuối cừng là rừng ở đây sẽ quấn quanh lấy người , lấy hơi người , mười đầu ngón tay con người sẽ giao hoà với cuống hoa đầu quả, hoa không còn là ngàn hoa vô định, cỏ cũng không còn  cỏ dại dặm dài . Hoa chẩu , hoa các cây công nghiệp, cây ép dầu , cây bóng mát, cây ăn quả sẽ đua tươi với mọi thứ hoa hương và hoa sắc. Hẳn vì đã thấy trước cái triển vọng thơm ngọt tươi thắm ấy của lũ chúng ta ngày nay trên con đường lớn này, mà trên đồi ngục Sơn La, từ những ngày hoa cỏ bị dập vùi, các đồng chí tiên liệt Đảng ta đã tượng trưng giồng lên mấy gốc đào…”
Ôi chao ôi là chàng Nguyễn, lên cơn “thi pháp ” mà vẫn không quên cây đào của đồng chí Tô Hiệu, tiền bối cộng sản, trồng ở nhà ngục Sơn  La mà ngày nay đã có người đặt nghi vấn liệu hình tượng này có thuộc loại “cây đuốc sống” Lê Văn Tám ?
. Chỉ tiếc không đầy 20 năm sau  giá như ông  lại ngược sông Đà chuyến nữa để thấy các đồng chí cán bộ Đảng tại nơi ông đã đi qua cùng với đám lâm tặc phá rừng như thế nào – hơn 10 triệu ha rừng nguyên sinh, rừng gỗ quý, rừng phòng hộ đã bị chặt nát biến thành những “phủ” lộng lẫy, những tiện nghi sa hoa, những xe hơi đắt tiền .
Ngày nay đọc lại những “ Sông Đà”,” Tờ hoa”, “Tình rừng “ của Nguyễn Tuân, người ta chỉ còn thấy đôi chút giá trị ở những tư liệu dư địa chí mà ông đã thừa nhận lấy của “một ông tây” :
“ Tôi đọc ở Thư viện khoa học một bộ bảy quyển dầy và to “La mission Pavie” của một học giả thực dân Pháp viết rất kỹ về Lai Châu.Những kiến thức ấy cho tôi những trang viết sinh động trong tập Sông Đà…”,
còn phần lớn là những trang tán nhăng tán cuội về những “con người giả” như anh bộ đội Điện Biên trở về quê “vận động cả gia đình lên Tây Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, lấy núi rừng miền Tây làm quê hương thứ hai…” hoặc như anh cán bộ Phương, người kinh lên vùng cao công tác, được Nguyễn Tuân ca ngợi :
” Cán bộ Đảng ta, nhất là ở Tây bắc, nhất là  đối với một số đồng chí gây cơ sở ở vùng địch hậu cũ, cán bộ Đảng nó cứ như là một con dao pha ấy. Vứt đâu cũng được, cái gì rồi cũng làm. Loay hoay ngày đầu , nhưng có ý thức trách nhiệm, rồi cũng tìm ra, vừa làm vừa học…”.
Gíá như Nguyễn Tuân sống thêm chục năm nữa, hẳn ông sẽ thấy tầng lớp cường hào ở nông thôn ngày nay đều là “cán bộ Đảng ta” như vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng bị cướp đầm tôm..
Tuy nhiên, dẫu đã hát hay thế mà Nguyễn Tuân vẫn bị “bắt bẻ” trong “Tờ hoa”, “ Tình rừng” vì dám lên án kẻ đốt rừng. Ô hay, bác Hồ đã dậy :” Dẫu có phải đốt sạch cả dẫy Trường Sơn để thống nhất đất nước thì vẫn cứ phải đốt ” . Nhà văn Nguyễn Tuân có “quán triệt” lời bác dậy không mà bóng gió lên án “kẻ đốt rừng” ?
Sau hai “tai nạn nghề nghiệp” này , Nguyễn Tuân thôi không chơi “cảnh”, chơi “rừng” nữa, ông dứt khoát trở thành một chiến sĩ dùng ngòi bút làm vũ khí xung phong trên mặt trận “chống Mỹ cứu nước  :
“ Cho giặc Mỹ ăn một cái Tết ta””Hà Nội ta diệt B52””Hà Nội giải tù Mỹ đi qua phố Hà Nội”…
 Chửi Mỹ như một bà nhà quê mất gà. Nào là “những tên phát xít Hoa kỳ hợm hĩnh về súng đạn và du côn du kề lộng hiểm” . Nào là  :” từ lòng đường xông lên mùi của Thần Chết, một cái thứ khắm thối Hoa Kỳ mà không thứ nước huê đế quốc nào tẩy tan được…”. Nào là  : “Thằng Tổng thống kẻ cướp Mỹ ấy càng leo thang xâm lược càng nện dùi mạnh vào cái mặt trống hòa bình…””Nước Hoa Kỳ đã đi một lèo từ man rợ thẳng tới đoạ lạc mà không có thông qua giai đoạn văn minh, văn hiến nào…”.
Cứ như thế “ cơn bão ngôn từ” của Nguyễn Tuân lên tới đỉnh điểm ở bài ký nổi tiếng “ Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”. Trong bài này ngoài giọng chửi Mỹ xoe xoé, Nguyễn Tuân còn phủ lên cái chết tang thương của bao  người Hà Nội một thứ “lạc quan cách mạng” phi nhân :
” Chợ Ngọc Hà không phải là vỡ chợ mà là xác thù đã vỡ tan trên buổi chợ chiều”.  
Ô hay , bom rơi xuống chợ, người chết, nhà cháy, toàn là dân ta cả, có “xác thù ” nào đâu mà nhà văn khéo tưởng tượng. 
Rồi thì “ cô gái trại hàng hoa vứt đó cái ô- doà sắp tưới vườn chiều, cầm vội tay súng…”, hi hi, chắc cô này không chồng, không con, không nhà, không cửa nên bom ném vào xóm là cầm ngay lấy…cây súng.
Rồi thì “ Tôi đi giữa Hà Nội hôm nay đã chói  thắm Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Hà Nội phấn khởi  đón mừng Huân Chương thi đua lập thành tích mới…Hoa sấu vẫn nở vãi vương khắp thủ đô tưng bừng chiến thắng…”.
 Lậy đức Chuá nhân từ, máu đổ, người chết, nhà sập…bao nhiêu bi thương đó ông không thấy , chỉ thấy có “thành tích với huân chương” ? Phải chăng tâm hồn nghệ sĩ của “ thiên tài Nguyễn Tuân” ( nói theo bà Thuỵ Khuê)  đã trơ như đá , rắn như sắt, cứng như thép mất rồi.
Người ta có thể tôn vinh Nguyễn Tuân như một “phù thuỷ ngôn từ”, một “Thần bút và một thi pháp đặc biệt “ ( bà Thuỵ Khuê), người ta có thể ví ông như “một nhà làm xiếc chữ ở trên dây”, tiếc thay, từ sau năm 1945, cái dây đó đã đặt xuống đất rồi mà ông cứ vờ như nó vẫn dăng cao để ông cứ còn uốn éo mãi trên cả ngàn trang chữ.
Phải chăng đó là “thi pháp Nguyễn Tuân” theo nghiên cứu của bà Thụy Khuê ?
Tuy không có di cảo “tái nhận thức” như Nguyễn Khải, Chế Lan Viên …nhưng những năm cuối đời , ông không còn viết những trang “hùng tráng ” như  “Hànội ta đánh Mỹ giỏi” nữa. Khoảng giữa năm 1978 Hội nuôi ong Việt Nam mời một số nhà văn trong đó có tôi và Dương Thu Hương lên Tam Đảo nghe báo cáo về nghề. Sau đó tôi có viết bút ký “ Thành phố con ong” về “tổ chức xã hội loài ong” mà nếu ta đi sâu sẽ phải nghĩ tới sự có mặt của …Thượng Đế, về vai trò con ong chúa sau một đời tận tụy, cuối đời thu hết tàn lực bay ra khỏi tổ chết cô đơn trên mặt đất khỏi làm ô nhiễm tổ ong. Bài ký đăng trang nhất báo Văn Nghệ , Nguyễn Tuân có đọc bởi lẽ gặp tôi ở giữa cầu thang NXB Văn Học , ông nhìn thẳng vào mặt tôi rồi vừa đi ông vừa nói như người ngủ mê :” Thành phố con ong…thành phố con ong…”. Lúc đó tôi thầm đoán tuy không nói ra nhưng chắc Nguyễn Tuân cũng mong muốn “một con ong” chúa hy sinh cao thượng vì cộng đồng, một xã hội loài ong ưu việt gấp mấy lần “xã hội bầy cừu ”. Hẳn là  chuyến đi  Sàigòn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã làm ông suy nghĩ nhiều.
Nhìn rõ những bước lận đận của Nguyễn Tuân, nhà thơ Xuân Sách đã làm thơ chân dung ông :
“ Vang bóng một thời đâu dễ quên,
Sông Đà cũng  muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu Tình rừng cay đắng lắm
           Tờ hoa lại trút lệ ưu phiền”            


Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (16)

                                                                  
                                         (tiếp theo)                  

2.

      Cái nếp thường nhật vợ chồng tôi lại quay đều kể từ hôm tôi trở về với vỏ bề ngoài tưởng như chẳng có gì mới, “sáng đạp xe đi, trưa đạp xe về”, nhưng thực ra mỗi người đều đã ngầm hướng tới mục tiêu riêng .Bình lên “cơn sốt” chuẩn bị chuyến đi các tỉnh phía Nam tìm việc còn tôi , lẳng lặng hướng tới cuốn tiểu thuyết dự định viết. 
Buổi sáng, tôi tới cơ quan “trình diện” đầu giờ rồi lẻn đi, đạp xe vào thư viện Quốc gia,  tìm một góc kín đáo , mở ra tập giấy và cây bút. 
Viết cái gì  bây giờ nhỉ?
Khỉ thật, khi không , đầu óc tôi làm việc rất ghê, ý nghĩ nọ đuổi theo ý nghĩ kia dứt không ra, vậy mà lúc này ngồi trước trang giấy, chúng lặn mất tăm, đầu óc cứ trong veo như nước hồ thu, sục sạo mãi chẳng tóm được ý nghĩ nào, miệng cứ cắn bút, mắt mở trừng trừng ngước nhìn cái quạt trần đang quay lia lịa.
Chao ôi, tôi thèm được ra ngoài sân lắm rồi, ngoài đó có bãi cỏ xanh mượt,  cây bàng già thả  xuống những chiếc lá uá, và trên ghế đá các cô cậu sinh viên, tay ôm giáo trình, miệng tán tào lao đủ thứ trên đời như tôi ngày xưa. Thế mới biết cái gan ngồi lì của các ông nhà văn viết trường thiên tiểu thuyết, chắc họ phải bắt vít vào bàn viết mới khỏi nhấp nhổm như tôi.
Nhưng viết cái gì nhỉ, ngoài tên tôi và hai chữ “tiểu thuyết” rất nắn nót chẳng moi thêm được chữ nào ngay cả đến cái tên cuốn sách cũng chịu. Có lẽ tôi không quen suy nghĩ ở chỗ đông dù yên tĩnh tới mức xung quanh người đi lại, viết lách, nói năng như trong cuốn phim chưa lồng tiếng.
      Tôi lấy một tờ khác, lại viết hai chữ “tiểu thuyết”, lại viết tên mình và không dừng lại để nghĩ ngợi gì nữa, tôi viết bừa:
 “Người con gái ra đi vào lúc mờ sáng...”.
Rồi sao nữa ? Cô ta đi đâu, vì sao phải đi, và cái chính cô ta là ai? Chà, óc tôi rối tung , tốt hơn nên tạm dừng, ra cửa uống cốc nước mía rồi sẽ liệu. Tôi gấp tập giấy lại, và lẽ ra chỉ cần lững thững đi bộ, tôi lấy xe đạp phóng thẳng một mạch. Một ông béo múp ngồi xe con chạy qua bất giác tôi nhớ đến việc nhờ cậy của ông Giám đốc may mặc. Vậy trước mắt đã có việc làm cần thiết, bắt buộc, cụ thể hơn cả cái việc ngồi trong thư viện căng đầu ra nghĩ ngợi, mệt óc mà chẳng hiểu liệu có viết nên cái gì không?
Tôi hí hửng bấm chuông nhà Hồng Loan làm đàn chó “ngao” xông ra sủa om sòm. May quá nó có nhà, và chắc cô nàng đang cấm cung để viết bài nên mới mặc váy ngủ sơ sài thế kia. Chưa kịp chào hỏi, tôi nổ luôn:
      - Bố cậu về chưa?
      - Tuần sau mới về, tối qua ông vừa gọi điện, có chuyện gì thế ?
      - Chuyện quan trọng, vào nhà đã.
      Hồng Loan khóa cửa kỹ càng, theo tôi vào phòng khách thoáng  lo lắng. Tôi lặng lẽ ngồi ruỗi dài trên ghế xa lông, lim dim mắt cố nhớ tên ông Giám đốc trên tờ danh thiếp không hiểu sao tôi quên biến mất.
      - Nào, chuyện gì nói đi, tớ sốt ruột muốn điên rồi đó.
      - Từ từ, để tớ nhớ lại tên một người đã.
      - Người nào?
      - Ông Giám đốc xí nghiệp may mặc.
      - Thôi, không cần tên, ông ta làm sao?
      - Ông ta nhờ cậu nói với bố duyệt cho ông ta đi tham quan nước ngoài.
      Hồng Loan đập tay vào người tôi:
      - Con khỉ, có thế làm người ta hết hồn.
      - Ơ, chuyện đó không quan trọng sao, niềm hy vọng khắc khoải của cả một con người chứ bỡn đâu.
      - Ồi, có đến một tỷ ông  Giám đốc muốn nhờ cậy bố tớ những việc còn cấp thiết gấp trăm lần thế.
      - Vậy cậu sẽ giúp ông ta chứ?
      - Hơi sức đâu, mà cậu dính vào chuyện đó làm khỉ gì? Có họ hàng quen thuộc không?
      Tôi kể lể cặn kẽ từ chuyện ông Giám đốc đổi thái độ từ hôm nó đưa tôi về nhà, chuyện tôi trả lại cho ông tấm danh thiếp để mua quần jean, chuyện tôi hứa giúp đỡ... Nó cười:
      - Tưởng cậu nhận quà tớ mới phải nói chứ không thì kệ xác.
      Tôi hốt hoảng:
      - Ấy không, tớ đã hứa rồi, cậu cứ coi như việc của tớ.
      Hồng Loan mỉm cười và bất giác tôi lại nhớ tới người đàn bà bí ẩn của Kramskôi.
      - Này, Hoàng Minh đang ốm tương tư?
      - Sự lạ đó đây, thời đại này vẫn còn người mắc bệnh ấy ư? Chàng tương tư ai vậy?
      - Còn ai nữa, chàng vẽ hình cậu khắp nơi khắp chốn, giống như nhà thơ Paul Eluard “Anh viết tên em” ấy.
      Tôi ngẩn ra, nếu ông Trưởng phòng biên tập nghe tin trúng giải văn học quốc gia chắc cũng có vẻ mặt như tôi lúc này. Nhưng sao lại là tôi mà không là Hồng Loan, người cùng chí hướng nghệ thuật?
      -Sao, cảm động quá không nói nên lời hả?
      - Tim tớ ngừng đập rồi đây này.
      - Thôi đừng có đùa, ban cho anh chàng một phần ngàn tia hy vọng chứ?
      Hồng Loan quẳng cho tôi tập giấy, tờ nào Hoàng Minh cũng vẽ hình tôi trông rất giống.
      - Nghĩ gì ngẩn ra thế kia?
      - Không, không nghĩ gì cả.
      Tôi trả lời qua quýt và trả lại Hồng Loan tập tranh.
      - Choáng váng con tim rồi phải không?
      - Nhầm to, tim tớ đại lười.
      Quả thực, tôi chợt nhận ra rằng từ lúc Hồng Loan báo tin, tôi chỉ thấy ngạc nhiên một cách thích thú chứ không mảy may cảm động như mọi người con gái trong trường hợp tương tự. Dẫu sao, tôi cũng hỏi chiếu lệ:
      - Hồi này Hoàng Minh có khỏe không?
      - Tớ đã nói anh chàng đang ốm tương tư mà.
      -Thật không, ốm thật, tụi mình đến thăm, có sao.
      - Nếu vậy diễm phúc cho anh chàng quá, nhưng cậu phải đợi tớ viết cho xong bài báo này đã.
      Nó quăng cho tôi cuốn sách bắt ngồi đợi. Những dòng chữ trôi nhanh vào đầu nhưng lại gợi ra một cách chậm chạp những ý tưởng đã cũ, qua dăm trang đầu tôi bắt đầu đọc chéo rồi nhảy cóc cả đoạn, không đầy một giờ sau tôi đã tiêu hóa cả 400 trang tiểu thuyết của một nhà văn nổi tiếng. Hồng Loan vẫn lúi húi viết, thấy tôi đặt sách xuống nó ngẩng lên:
      -Xong rồi kia à? Đọc kiểu ấy bằng giết người viết.
      -Tại ông ta chứ, tớ chỉ mong được đọc một cuốn không phải bỏ sót  chữ nào.
      -Vậy cũng đòi làm biên tập.
      -A, cái đó đọc ăn lương lại khác.
      Hồng Loan lại cúi xuống viết, hờ hững dửng dưng khác hẳn lúc nó làm thơ nên lại có một vẻ đẹp khác. Nó yêu ai chưa nhỉ, cái anh chàng da đen nó nói bóng gió bữa trước là thế nào nhỉ? “Cái hộp đen” của nó kín bưng, ngay cả nó đang viết gì kia tôi cũng chẳng  biết được. Thực chẳng bù cho tôi, chuyện lớn chuyện nhỏ, chuyện gì cũng tỉ tê bằng hết. May quá, duy nhất còn chuyện viết tiểu thuyết là chưa.
      - Cậu viết cái gì mà ngoáy lia lịa thế kia?
      - Đổi mới tư duy, chống quan liêu bao cấp ở cửa hàng thịt.
      - Tớ đọc được không?
      - Thôi ạ, cô lại đọc chéo, đọc nhảy cóc thì chết người ta.
      Tôi bật cười, kể nó nói cũng đúng, tôi rất ngại đọc báo, nhất loại bài kiểu đó. Mỗi buổi sáng, cứ nghe mấy ông trong phòng ngồi tán chuyện là đủ nắm được mọi thông tin kinh tế, chính trị vừa xảy ra, khỏi cần đọc những bài vừa khô khan vừa dài dằng dặc.
Hồng Loan đã viết xong, xếp giấy tờ vào cặp, lui vào buồng trong sửa soạn. Tôi dở ra tập tranh, ngắm nghía từng chân dung mình, quả thực, lúc này tôi mới thấy hơi hơi cảm động về tấm tình chàng họa sĩ đem tới cho tôi. Chàng yêu tôi thực sao? Tôi là thế nào mà chỉ qua buổi gặp đã gây nên cú sét ái tình gớm ghê vậy?
Tôi nhớ lại cái nhìn của Hoàng Minh lúc vẽ tôi, hóa ra không phải lạnh lùng xa vắng, “vô ngã” như tôi tưởng, ngược lại, bên trong ẩn chứa những rung động thầm kín tôi không nhận ra.
Tôi nên xử sự thế nào đây, đón nhận hay khước từ?
Không, trong chuyện này, tôi gạt chồng sang bên, sống với anh như thế đã quá lâu, tôi có quyền không yêu anh nữa và yêu người khác, huống hồ tôi chưa bao giờ yêu anh cả. Anh quen thuộc và thân thiết với tôi như người cha, người anh, người bạn, thế nhưng bằng ngần ấy thứ cho dù cộng thêm cả tình dục nữa, cũng chưa thể biến anh thành người tôi yêu.
Vậy thì tôi có quyền yêu Hoàng Minh lắm chứ? Đương nhiên, nhưng cái chính là tôi có yêu anh không? Tôi quay lại cuốn phim buổi tối hôm gặp anh, soát lại các ấn tượng, hóa ra ngoài cái rùng mình duy nhất khi bắt gặp ánh mắt anh trong lúc vẽ, tôi hoàn toàn dửng dưng, thậm chí còn nổi cáu khi anh vẽ xong nhất định không cho tôi xem. Tôi đã quên biến anh đi, bức tranh anh gửi tặng cũng chỉ làm tôi trầm trồ chốc lát rồi cũng xếp ngăn kéo. Vậy  tôi không hoặc chưa yêu Hoàng Minh là cái chắc. Phải chăng ngày trước với Biên Cương, trái tim tôi đã hoạt động quá tải nên bây giờ nó kiệt quệ?
      Hồng Loan từ phòng trong bước ra với vẻ tươi tắn, khỏe khoắn càng làm tôi nhận rõ cái lừ đừ, mệt nhọc của mình. Tôi ốm rồi sao? Tôi sờ trán mình, không, vẫn rất mát, chưa đủ tin, tôi vạch tay áo tự bắt mạch, 75 nhịp/ phút, mạch rất tốt. Không, tôi vẫn khỏe, chỉ có điều ám ảnh nỗi lo nào đó.
Hồng Loan không cho tôi nghĩ ngợi xa hơn, nó đẩy tôi lên xe máy, lao đi trong phố.
“Người con gái ra đi vào lúc mờ sáng...”, tôi không nghĩ sẽ viết tiếp ra sao, chỉ thấy rằng tôi khác cô ấy, tôi đang đi vào lúc giữa trưa. Mặt trời giấu mặt đâu đó, đã há ra hết cỡ phun xuống cái nóng làm tiếng ve trở nên rền rĩ như đang chết khát, nhà hai bên phố đóng im ỉm, xe cộ trốn hết vào bóng râm, phía trước chỉ một ông lão mù khua gậy qua đường.
Hồng Loan tăng hết ga, lượn xe vòng vèo, cười nắc nẻ. Nó sung sướng thế đấy, lúc nào cũng tự tin, bình tĩnh ngay cả khi trong ngõ phóng vụt ra một chiếc xe đạp, nó phanh đột ngột, chiếc xe máy quay ngang rồi lại rồ máy chạy tiếp.
      - Chạy chậm thôi, muốn chui gầm ô tô hả?

                       (còn tiếp)


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ19)


                NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN (KỲ 2)

                                                          Tranh Trịnh Công Sơn
                          
                                      (tiếp theo)

Tháng 3 năm 1953 sau đợt học tập chỉnh huấn, Nguyễn Tuân viết bản thu hoạch “Nhìn rõ sai lầm” đạt kết quả…vượt cả mức Đảng yêu cầu. Không những rũ bỏ con người cũ, ông còn lên án nặng nề những “đứa con tinh thần :
“ Cuốn sách  ấy – Vang bóng một thời – là những tang chứng đầu tiên về tội lỗi của tôi với dân tộc “ Trong “Vang bóng một thời “ tôi đã đứng về phía bọn phong kiến, bóc lột thống trị nhân dân lao động mà đưa ra một cái nhân sinh quan phản tiến bộ cuả bọn quan lại địa chủ tiêu dao hưởng lạc bất lực trước nhiệm vụ lịch sử….Truyện dài “ Thiếu quê hương “ in năm 43 là một tội lỗi nữa về sáng tác cũ…Tập “Nguyễn” in sau ngày Tổng khởi nghĩa…tôi tự truyền thần cái tôi thối nát và phá hoại đó…tự dối mình cho là tâm hồn mình vẫn thanh cao mặc dầu thân thể tắm vào bùn nhơ của rượu, thuốc phiện, dâm ô…”
Kết tội, vùi dập tác phẩm của mình quyết liệt, tàn nhẫn vậy, phải chăng Nguyễn Tuân chịu sức ép của cán bộ Đảng ? Không hẳn thế, nếu không xác tín, không tự nguyện, không viết từ con tim thì không thể có những lời lẽ cháy bỏng vậy. Chính vì lẽ đó, Nguyễn Tuân viết về Đảng với giọng hào sảng :
“ Chân lý của Đảng đang đưa tôi sang một chỗ đứng mới. Từ chỗ đó, tuy còn là non yếu , tôi sẽ cố gắng bước dần lên, Đảng và nhân dân dìu dắt tôi dần lên …”
Để nắm chặt văn nghệ sĩ , Đảng luôn luôn nhắc nhở :
 “Văn học nghệ thuật là vũ khí của Đảng, mỗi nhà văn là một chiến sĩ trên mặt trận văn hoá…văn học phải phục vụ chính trị…”
Ta có thể thông cảm hoàn cảnh khắc nghiệt của các nhà văn Việt Nam  phải đội trên đầu “cái vòng kim cô” đó  mà bất kỳ ai cũng có thể đọc “niệm chú” cho kẻ đang đội phải thân tàn ma dại. Vậy nhưng khác với Tôn Ngộ Không bị Phật tổ buộc phải đội, trong cái chợ văn chương xã hội chủ nghĩa, ai muốn vào thì vào, ai muốn ra cũng chẳng cấm, bất kỳ nhà văn nào muốn từ chối danh hiệu “ người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá văn nghệ” đều có thể xếp bút nghiên theo việc cày bừa, đều có thể tháo cái “vòng kim cô” trả lại Đảng kiểu như nhà thơ Hữu Loan từ bỏ Hội Nhà văn về làm ruộng, Đảng còn mừng nữa là khác.
Nhưng với Nguyễn Tuân thì khác, ông “ngông” ở đâu không biết chứ trên “mặt trận văn hoá văn nghệ” ông “phục vụ chính trị” vào loại xông xáo nhất, hăng hái nhất trong các nhà văn “tiền chiến”.
Thử coi Nguyễn Tuân tả đồng chí Lê Duẩn giảng bài :
“ Hình ảnh “ thày học “ ( Lê Duẩn) hửng dưới rặng hoa mơ hoa  bưởi  trắng, nở bên những mái gồi, trên những con đường thấp thoáng quần áo xanh lam dặm. Càng ngày càng hiểu thêm ra thấy rõ chủ nghĩa Mác là mùa Xuân của loài người. Càng thấy mình trẻ lại trong sự giáo dục ân cần của Đảng..”.
Thật khó ngờ rằng mãi đến những năm thập kỷ 60, ông nhà văn   Nguyễn  Tuân vẫn tràn đầy cảm xúc “mùa xuân của chủ nghĩa cộng sản”  trong khi trước đó rất lâu , André Gide đã viết “ Retour de l’URSS”, Koetsler đã viết “ Le zero et l’infini” , nhà văn Nga Bulgakov đã viết “Trái tim chó”, Pasternack đã có “ Bác sĩ Dzivago”,  nhà báo Proust đã lật tẩy :” chủ nghĩa cộng sản là sự đánh đồng cái cao thượng và cái ti tiện” , “Câu lạc bộ Petophi” ở Hunggary đã sôi nổi đòi thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa đó. Không lẽ những tiếng vọng lịch sử đó không tới được tai Nguyễn Tuân ? Không lẽ trí óc lỗi lạc của ông nhà văn không mảy may tiếp nhận những tia hồi quang của những người tiên phong cùng thời đó ?
Vậy mà không, cũng năm đó, ông tả hai cái xác Lê Nin và Staline :
“ Tôi cảm thấy như những cặp lông mày, lông mi sắp sửa chớp chớp và tất cả ở đây sắp được nghe thêm một lời nói rất mới rất nhẹ. Một vừng sáng hồng toả lên từ hai khuôn mặt trong lặng. Đấy là thần thái của những người sống, người còn sống. Đấy là thần thái của những vĩ nhân thế giới đã thức chọn một đời và trong lúc nhân loại ngày nay đã đi mạnh được trên cái đà của chủ nghĩa cộng sản thì Người đã yên tâm chợp mắt trong giây lát…Người nghỉ đây nhưng người đã hoá thân vào trong tâm não của cả nhân loại…Người đã thành tên tuổi của một kỷ nguyên mới, của một nền cảm xúc mới và một nếp lạc quan mới…”
Nếu không xuất phát từ đáy lòng, sao có thể viết được những câu văn bay bổng đến thế ? Tuy nhiên, người ta có thể tin chắc nếu được dịch sang tiếng Nga , hai đồng chí lãnh tụ tối cao đang nằm trong quan tài pha lê cũng phải nhổm dậy cười hô hố  :” Thằng nào hót hay thế?”.
Khổ nỗi không hót “hay” như vậy, lần sau “nó” cắt suất không cho đi tham quan các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa nữa thì…khổ . Bởi vậy ở một chỗ khác, Nguyễn Tuân  lại “bốc phét” :
“ Tuyết sẽ trùm lên hết Cung điện Mùa Đông Pêtrôgrat. Nhưng lửa nghị lực và sức làm việc nóng sôi của Lênin ở lều đây sẽ làm tan khối băng tuyết…”.
 Í trời ơi, lửa của lãnh tụ nóng như vầy không khéo đốt cháy cả nhân dân Nga. Thế rồi được uống rượu Vodka nhắm với trứng cá hồi, ông nhà văn lại ba hoa về tượng Staline :
” Người nhìn ra xa , nhìn chủ nghĩa cộng sản đang hình thành giữa trời nước Liên xô bát ngát. Sta-lin to cao bình tĩnh như một ngọn đèn bể. Gió bể Cát-piên cuốn bụi dưới chân Người . Người  đuổi theo những ý nghĩ lớn. Sta-lin không nói . Sta-lin lặng im như một pho tượng sống…Vây quanh lấy Sta-lin , cuộc sống tưng bừng xây dựng của Stalingrát và của cả Liên bang xô viết đang nói to lên những điều Sta-lin lặng nghĩ trên ngã ba sông…”.
Tượng đá mà còn biết nghĩ, và những ý nghĩ đó còn được cả bàn dân thiên hạ nói to lên, thì quả thực “nghề này phải lấy ông này tiên sư”.
Chỉ nội trong chuyến được Đảng cho đi tham quan Liên xô, Nguyễn Tuân đã “hót” lia lịa cả loạt bài :” Lăng và hồ Lênin”” Về Stalingrát” “ Thăm nhà máy cày”. Nhân “Liên xô kỷ niệm Cách mạng tháng Mười được chẵn năm mươi năm”, Nguyễn Tuân ao ước :
” Tôi muốn tôi được hoá thân làm một ngòi pháo cây bông lửa màu soi mình suốt đêm thâu  trên pha lê tuyết ngần của Mạc Tư Khoa tôi hằng quý mến, của Lêningrát tôi hằng nhớ thương…”.
Ôi chao, tình thương mến thương quê hương cách mạng Tháng Mười của Nguyễn Tuân rào rạt đến như vậy thì còn có nhà văn nhà thơ thế giới nào hót hay hơn   được nữa ?  Chỉ tiếc chưa đầy hai chục năm sau, “kiểu đấu hót” này đã bị Ngài Putin vứt vào thùng rác của lịch sử.
Được đi thăm Trung Quốc , Nguyễn Tuân ca ngay một tập “Bút ký Trung Hoa” trong đó có cả loạt bài, nào “Cung thiếu nhi”, nào “Ngày Quốc tế thiếu nhi tại Bắc Kinh””Xưởng máy dệt gai ở Cáp Nhĩ Tân”” Gang thép khu Đông Bắc và người công nhân Trung Hoa”” Xưởng máy mẫu cơ ở Thẩm Dương”” Làng ngoại thành Bắc Kinh” “ Sân khấu Trung Quốc”…ở đâu cũng thấy Nguyễn Tuân đề cao công ơn của Đảng cộng sản Trung Quốc mang tới cho nhân dân Trung Hoa . Chẳng chịu kém thi sĩ  Chế Lan Viên trong hai câu thơ để đời :
“ Bác Mao nào ở nơi xa…
Bác Hồ ta đó cũng là bác Mao…”
Nguyễn Tuân cũng phóng bút :
“ Trong cuộc sống tưng bừng ngày nay của Trung Quốc có Mao Chủ tịch và Đảng cộng sản Trung Hoa luôn đem vui tươi ấm no đến cho nhân dân , tôi cảm thấy cây liễu đã trổ hoa thật và bóng liễu ngày nay xanh rờn  bắt nắng hơn bao giờ hết…” .
 Ôi chao ôi, công ơn Mao Chủ tịch và Đảng  cộng sản Trung Quốc cao đẹp đến nỗi cây liễu cũng ra hoa thì thật là bốc phét đến … tàu cũng phải cười. “Nhà tiên tri giả” Nguyễn Tuân liệu có biết chỉ không đầy chục năm sau, Mao Chủ tịch và Đảng cộng sản Trung Quốc đã dìm chết cả chục triệu người vô tội trong biển máu của “Cách mạng văn hoá” .
Nguyễn Tuân là tấm gương tiêu biểu cho phẩm chất “ Tuần chay nào cũng có nước mắt” của các nhà văn Việt Nam. Hồi đầu Cách mạng tháng Tám, ông đã có “Lột xác”, “ Ngày đầu tuổi tôi cách mệnh”,” Trên đường đến với Đảng”….Thật chẳng ai ngờ, mới ti toe làm cách mạng , Nguyễn Tuân đã mượn  lời “Thần cách mệnh” thở ra giọng sắt máu :
” Ta là kết tinh của Bạo Phá.Ta là cái chổi quét mạnh vào những thứ nhân nghĩa không khoa học.Ta khai chiến với hiện tại. Ta là Hồng Hài Nhi của cuộc đời  rơm cỏ bây giờ. Đối với cái khối của cải bất nghĩa, ta là cốt mìn, ta là bom nguyên tử. Ta đốt, ta quật ta phá, ta tạo ra tan rã, ta ngự trị lên cuộc đời mâu thuẫn . Ta là lịch sử. kẻ nào nghịch với ta, ta giết…” ( nhạc kịch “Cỏ Độc lập”).
Ghê gớm chưa , rõ ra là giọng “trí, phú, địa , hào đào tận gốc trốc tận rễ” từ thời xô viết Nghệ Tĩnh đã nhiễm sâu vào máu chàng lãng tử họ Nguyễn.
Rồi để ca ngợi Đảng trong kháng chiến chống Pháp ông có “ Đuốc dân công tiếp viện”, “ Thắng càn “, “Đường  vui” ,” Tình chiến dịch”,”Tuỳ bút kháng chiến”…Vào thời kỳ cải cách ruộng đất , bao nhiêu máu và nước mắt của hàng chục ngàn người chết oan chẳng mảy may làm Nguyễn Tuân buông một tiếng thở dài, ông cứ ngó lơ cái bi kịch có tầm vóc dân tộc ấy để mà đấu hót ca ngợi công ơn Đảng và Chính phủ đã cho “người cày có ruộng” trong những “ Làng hoa”, “Tổ đổi công Chị Nhì ở Phú Yên”…, hoặc chửi rủa địa chủ phong kiến trong “Tây Bắc căm thù”,”Bóng nó còn đè lên xóm làng…”. ?
Vậy nhưng bổng lộc Hội nhà văn Việt Nam đâu có nhiều cho Nguyễn Tuân “xê dịch” khắp thế giới dẫu đã tình nguyện làm con hoạ mi ca ngợi chủ nghĩa cộng sản, Và dường như Đảng đã nhận ra chàng Nguyễn  “đấu hót” về tình quốc tế vô sản vĩ đại như thế đủ rồi nên “mời” chàng lên rừng để làm nhiệm vụ “tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc” và chẳng ai ngờ, dẫu phải rời đất thánh Hà Nội, chàng cũng đã hoàn thành công tác một cách xuất sắc….
                         (còn tiếp)

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (15)


                  
                                
                                         (tiếp theo)

. Quả thực, tối nay ông ăn nói nhún nhường hết sức, khen căn buồng gió mát, cái tivi hình rõ và mịn, than phiền thời giá leo thang, trình độ lạc hậu của công nghệ sản xuất trong nước so với thế giới, từ đó ông chuyển sang đề tài cán bộ quản lý như ông nhất thiết phải đi nước ngoài tham quan “họ làm ăn ra sao” để về đổi mới cái của mình.
Vậy nhưng câu chuyện về những chuyến đi nước ngoài của Bình để chứng tỏ rằng “họ” cũng không đến nỗi “ghê gớm” lắm như ta tưởng lại không được ông hào hứng đón nghe. Ngược lại ông có vẻ sốt ruột về một chuyện gì đó nằm ngoài đề tài đang được nói. Tôi ngồi im quan sát cả hai  và phải thừa nhận rằng cho dù đã huy động hết mọi khả năng giao tế, từ giọng nói, dáng ngồi có chọn lựa tới vốn liếng học vấn, ông Giám đốc vẫn thua hẳn chồng tôi mặc dầu anh nói năng rất hồn nhiên về những chuyện rất bình thường.
Đó, phải có dịp thế này mới biết chồng mình “sáng giá” , cứ đóng cửa nhà so sánh với ông Gogol, ông Đốtstôiépski thì càng ngày càng thấy chồng mình chỉ là một anh chàng vô tích sự.
      - Ở chỗ tôi người ta đang bán vải Jean Sanhgapo, cô Vân muốn may tôi xin mua giúp với giá nội bộ.
      - Kìa, ông hỏi em có cần mua vải Jean không?
      Tôi choàng tỉnh khỏi những suy nghĩ miên man, chẳng còn nhớ mình ngồi trước hai người đàn ông đang vui vẻ chuyện trò. Tôi vội vàng vớ ấm nước rót thêm vào chén và cất giọng vui vẻ:
      - Nếu được bác mua giúp còn gì bằng, tôi cũng đang tính may cho anh ấy một cái quần thật diện.
      - Được, được, để tôi viết giấy, mai cô mang tới mua hai quần cũng được.
      Vẻ sốt sắng, vồn vã của ông bất chợt làm tôi e ngại, tôi biết giá “nội bộ” là thứ “mua như cho”, một hình thức chia chác của các cơ quan dính đến tiền và hàng, ông giám đốc cần gì ở tôi trong vụ này?
 Quả nhiên vẻ bần thần của tôi không lọt qua nổi con mắt tinh tường của ông, chắc ông sợ tôi hiểu lầm về thái độ ông trước đây, ông vội vàng lật ngửa quân bài:
      - Bữa trước tôi thấy cô Vân đưa cô bạn tới đây, cô đó là Hồng Loan con ông Vũ Mai thì phải?
      Tôi hiểu ra rồi, bố đẻ của Hồng Loan là Phó chủ nhiệm một Tổng công ty xuất khẩu may mặc nào đó, chắc là thủ trưởng trực tiếp của ông Giám đốc này .
      - Bác cũng quen Hồng Loan?
      - Dạ không, tôi là... là lính của ông Vũ Mai thôi. Tổng công ty sắp cho một số giám đốc tham quan Cộng hòa dân chủ Đức, giá như được cô Hồng Loan nói với ông nhà cho tôi một tiếng thì tốt quá.
      Tôi liếc Bình, anh lặng lẽ nhìn theo vòng khói thuốc thả lơ lửng trong tiếng hát tivi một bài tiền khởi nghĩa: “Nào anh em nghèo đâu? Liều thân cho đời sống ...Nào anh em nghèo đâu...”. Tôi tưởng anh tỏ thái độ với đề nghị của ông Giám đốc, nhưng không anh buông một câu lửng lơ:
      - Chà, hôm nay đã 19 tháng 8 rồi đấy.
      - Vâng, vâng, chóng vậy,  ngày Quốc khánh sắp tới cơ quan tôi sẽ thưởng cho cán bộ công nhân trong Xí nghiệp một số hiện vật, để mai kia tôi biếu anh chị vài ký mì ăn liền “Hai tôm”.
      Bình quay sang xem tivi đang trình diễn màn múa “ Bộ đội về làng” có ý nhường tôi trả lời ông Giám đốc. Tôi chẳng cần quần Zin cũng chẳng thiết gì mì “Hai tôm” nhưng chối từ một vẻ mặt khẩn khoản thế kia, thực lòng tôi không nỡ.
     - Nói với Hồng Loan thì dễ thôi, chỉ ngại bố nó không nghe.
     - Trời đất, cô thân với cô Loan mà chả hiểu gì cô ấy, nhà con một, cô Loan đòi cái gì bố mẹ chẳng chiều. Nhất trong chuyện này, ông Vũ Mai chọn ai trong hàng ngũ Giám đốc cũng đều được cả.
     - Nếu vậy mai tôi sẽ gặp Hồng Loan.
      Ông Giám đốc mừng rỡ, lập tức ông rút tờ danh thiếp, hí hoáy viết:
     - Cô cầm lấy, mai ghé qua bộ phận cung tiêu Xí nghiệp, tôi sẽ dặn trước chị em gói sẵn cho cô hai tấm vải Jean.
      Ông trịnh trọng đặt lên bàn tấm “các” trắng muốt, in chữ nổi rồi ngồi ngay đơ không biết nói gì nữa trong cái im lặng xem ra đã thành nặng nề. Sự trái  ngược giữa những gì diễn ra trên tivi và ở ngoài đời mang tính hài hước không kém gì tiểu thuyết của ông Gogol khiến tôi phá ra cười.
     -  Này, có gì mà em cười mãi thế ? - Sau cùng chồng tôi đã vào cuộc.
      - Sắp tới bản tin thời tiết, mình thử đố nhau xem mai mưa hay nắng?
      Ông Giám đốc đứng dậy:
      - Tôi xin phép... tôi phải về đi họp...
      - Muộn rồi bác còn họp sao?
      - Họp chứ, Xí nghiệp tôi làm luôn ca đêm.
      Tôi cầm lên tấm danh thiếp:
      - Bác cầm lấy, bọn tôi đã có hai ba cái quần Jean rồi, tuy nhiên sáng mai tôi vẫn giúp bác chuyện đó.
      Tôi không dám nhìn mặt ông, để mặc chồng tiễn ra cửa, tôi lẻn ra ban công bắc ghế nhìn lên trời. Nếu từ một điểm nào đó trong vũ trụ xa mờ kia, có một ai đó nhìn về trái đất, hẳn là tôi, chồng tôi, ông Giám đốc vừa nãy đều thuộc về một thế giới vi mô còn nhỏ hơn cả những con virút trong  giọt nước thí nghiệm. Một “chớp mắt vũ trụ” , nhà Phật gọi là “sát na “nữa thôi, cả ba chúng tôi lại trở về với vô cơ, vậy viết tiểu thuyết làm gì, thiết kế những chiếc cầu thiệt làm gì, tham quan CHDC Đức làm gì thưa các vị? 
Hóa ra con người bình đẳng ở chỗ  đều ham hố và chẳng một ai tước bỏ được nó  ngay cả các bậc đại sư đang ngồi thiền trong các dãy núi Tây Tạng. Vậy thì tôi phải mở đầu cuốn tiểu thuyết này để chứng tỏ mình hãy còn ham hố tức còn là một con người chứ?
      Bình đặt cuốn sách đang đọc xuống, đón tôi quay vào với nụ cười dàn hòa:
     - Sao lại từ chối quà biếu của ông Giám đốc?
     - Anh muốn nhận không?
     - Nhận hay không, có gì quan trọng, anh chỉ muốn biết tại sao em không nhận thôi.
      Câu nói của anh làm tôi rất vừa lòng, anh coi trọng tôi hơn là sự đánh giá hành động, đúng, nhận hay không có nghĩa quái gì, cái chính là tại sao tôi hành động như thế.
     - Em thích thì làm, chẳng vì cái gì hết.
     - Anh lại tưởng lương tâm em nó lên tiếng.
     - Không không, tại lúc đó anh mở tivi to quá nên em không nghe thấy.
      Tôi cười vui và những ngày trục trặc vừa qua tưởng như tan đi hết. Anh không tra hỏi như tôi nghĩ, ngược lại, anh kể cơ quan anh đang cố tìm việc bằng cách mai kia có thể cử anh vào các tỉnh phía Nam chắc đang rất cần phục hồi những chiếc cầu hỏng sau chiến tranh.
      - Anh đi chỉ ngại em không biết xoay xở sao?
      - Không lo, em sẽ về ở bên mẹ.
      Tôi liếc nhìn ra bàn viết khi anh thả màn xuống, thôi được, tôi mới về không nên làm anh buồn. Nửa đêm khi anh ngủ say, tôi sẽ dậy mở đầu cuốn tiểu thuyết. Anh với tay tắt đèn, ghì chặt tôi vào lòng. Anh vội vã và hăm hở tới mức tưởng như suốt mấy ngày qua anh nóng ruột nóng gan chờ tôi về để làm có mỗi  việc đó. Tôi phó mặc thân thể tôi cho anh, và bất chợt tôi nhận ra rằng tôi vẫn hé mắt quan sát vẻ mặt , động tác của anh đang diễn ra trong ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn ngủ góc phòng.
Hoạt lực nào đã làm những cơ thịt trên gương mặt anh dãn ra thế? Anh đang nghĩ gì và cái bộ máy huyền vi của tạo hóa đang hoạt động ra sao trong lúc này?
Cơn rùng mình chung cuộc của anh cắt đứt luồng suy nghĩ của tôi. Anh lăn ra ngủ, miệng he hé, yên ổn như một đứa trẻ mới được bú no. Lúc này, tôi mới nhắm mắt, cố không nghĩ ngợi gì nữa, đúng, trong những trường hợp như thế, tôi không được phép suy nghĩ, ngược lại, tôi phải buông thả đầu óc cho thiên nhiên tiến hành công việc của nó.
Biết đâu, biết đâu mầm mống của một sinh vật nhỏ bé đã lọt vào tôi và đã bắt đầu khu trú trong đó. Hình thù nó ra sao, làm thế nào nó chiến thắng cả triệu đồng đội để tới được đích, duy nhất tồn tại.
Dừng lại, dừng lại, sự suy nghĩ đã tới sát ranh giới mà vượt qua nó không khác gì thủa khai sinh lập địa con người đã mở cái hộp Pandora đựng toàn tai ách, bệnh tật Thượng đế đã trao cho và căn dặn cấm mở.
Than ôi, con người bây giờ bằng “di truyền học”, “vi sinh học”...bằng toàn bộ nền khoa học kỹ thuật hiện đại, họ cũng đang hăm hở mở ra “cái hộp đen” ấy và thảm họa của cơn hồng thủy chẳng phải như anh chàng Điền dự đoán ở “cơ hội trùng phục có tính cách lịch sử” kia, mà chính là tư duy nhân loại đã không xác định  được ranh giới cấm kỵ.
      Tôi mệt nhoài vì những ý nghĩ  “đầu cua tai nheo” cho tới lúc chợt nhớ ra phải trở dậy để mở đầu cuốn tiểu thuyết thì hai mắt đã díu lại, thôi kệ, tôi buông một tiếng thở dài và rơi mình vào giấc ngủ.

            (còn tiếp)

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

GẠC MA - MÓN NỢ LỊCH SỬ CUẢ "KẺ THÙ...TRI KỶ"

                
                 
                                                           
       Ngày 14-3-1988, cậy thế lực lượng đông gấp bội , Trung  Quốc tàn sát dã man 64  chiến sĩ hải quân ta , tay không ôm giữ cột cờ dưới bãi đá ngầm Gạc Ma . Nhân kỷ niệm 24 năm món nợ lịch sử này, tôi có cuộc trò chuyện xoay quanh đề tài “ Trung Quốc – là bạn hay là thù ?” với nhà văn , tiểu thuyết gia lịch sử Hoàng Quốc Hải
Nhật Tuấn: Thưa anh Hoàng Quốc Hải, vừa qua trong diễn văn khai mạc “Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết T.Ư 4”, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nói “Đảng cộng sản Trung Quốc… trong những lần trao đổi với chúng ta, bạn thường nhấn mạnh không để bị “Tây hóa”, “tha hóa”, “thoái hóa”.  Tuy nhiên các ông tổ cộng sản đều là các ông Tây “mắt xanh mũi lõ”. Vậy phải chăng Trung Quốc xúi Việt nam xa rời chủ nghĩa Mác-Lê- nin?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, đầu năm nhẽ ra phải nói chuyện du xuân thì anh lại gợi chuyện thời sự. Thật ra nói chơi với nhau cho vui thôi, chứ cái chủ đề này thì ai còn lạ gì đâu.
Trước hết phải thừa nhận một điều rằng, Đảng cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ theo chủ nghĩa Mác cả. Tới nay thì điều này cả thế giới đều biết, có nhẽ chỉ có một bộ phận nhân dân Trung Quốc còn nghi hoặc thôi.
Nhưng trong quá trình vận động cách mạng, ông Mao Trạch Đông lãnh đạo nhân dân Trung Quốc nhằm lật đổ chế độ Trung Hoa Dân quốc do ông Tưởng Giới Thạch đứng đầu, thì ông Mao lại dựa vào Liên Xô và tuyên bố theo chủ nghĩa Mác, treo ảnh các ông Các Mác, Ăng -ghen, Lê- nin, Stalin và cờ búa liềm. Việc dựa vào Liên Xô là để gây vốn liếng chính trị và cũng là để nhờ vả về nhiều mặt, trong đó có chuyện vũ khí. Nhưng tất cả chỉ là mẹo, là kế của ông Mao thôi. Việc này người Trung Hoa là bậc thầy của thiên hạ. Hãy xem Việt Vương Câu Tiễn dùng khổ nhục kế như thế nào thì đủ rõ.
Nhưng nói cho cùng kỳ lý thì người Nga và cả Liên bang Xô-viết cũng có theo Mác đâu, họ theo chủ nghĩa Lê-nin đấy chứ.
Sự sụp đổ của Liên bang Xô-viết là sự sụp đổ của chủ nghĩa Lê-nin, còn học thuyết Mác với công trình đồ sộ của ông là “Tư bản luận” thì làm sao mà sụp đổ được.
Và họ khuyên không “Tây hóa” tức là để họ độc quyền theo Tây đấy ông Nhật Tuấn ạ. Ông có nhớ năm 1972, ta đánh Mỹ đang đến hồi gay go nhất thì ông Mao Trạch Đông phát tín hiệu mời ngoại trưởng Hoa Kỳ là ngài Kít-xing-gơ đến Bắc Kinh để mở đường cho công cuộc Trung Hoa ngả vào lòng nước Mỹ. Rồi năm 1978, ông Đặng Tiểu Bình sang Mỹ với quà biếu là mấy con Gấu trúc. Và để hòa nhập, ông Đặng dùng trang phục cao bồi, cỡi ngựa rong ruổi khắp nước Mỹ để kết thân với Mỹ, mời Mỹ vào Trung Hoa. Và từ khi người Mỹ vào Trung Hoa tới nay thì nước Trung Hoa thay đổi hẳn như ta thấy.
Điều này chứng tỏ Đảng cộng sản Trung Quốc theo Tây trước các nước trong phe chứ. Hẳn mọi người còn nhớ, ngài Đặng Tiểu Bình từng tuyên bố: Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột. Bản chất vấn đề là ở chỗ đó. Tức là họ theo chủ nghĩa thực dụng. Cho nên việc họ theo Liên Xô hay theo Mỹ đều là “kế” cả thôi.
Chủ nghĩa thực dụng là sở trường của người Trung Hoa. Nguồn gốc của nó khởi từ Nho giáo, được Khổng Tử hoàn thiện thành học thuyết. Nước Trung Hoa có cả chục học thuyết, nhưng chỉ có Nho giáo là bao trùm và được ứng dụng từ cổ đại tới nay.
Còn như “tha hóa” và “thoái hóa” thiết nghĩ chẳng qua là một thứ đồng bệnh tương liên, bộc bạch để cùng nhau chia sẻ. Ngược lại, nếu đây là lời khuyên chân thành thì đáng trân trọng.
Nhật Tuấn: Cách nay trên 70 năm, giới tiểu tư sản Hà Nội chạy theo trào lưu “Âu hóa”, nhờ đó Xuân tóc đỏ của Vũ trọng Phụng vốn từ tầng lớp hạ lưu đã nhảy phốc lên thượng lưu danh giá. Trào lưu Âu hóa đó có gì tương đồng với “Tây hóa” mà Đảng cộng sản Trung Quốc khuyên Đảng cộng sản Việt Nam anh em phải tránh xa?
Hoàng Quốc Hải: Cái ông Nhật tuấn này hơi kỳ. Tại sao ông lại đem văn chương so với chính trị. Kiểu so sánh này chẳng khác chi dân gian đã nói: “Bì phấn với vôi…”. Ông hãy nhìn sự diễn tiến bàn cờ thế sự thì rõ thôi mà.
Nhật Tuấn: Hiện nay phim Trung Quốc tràn ngập màn hình TV, đèn lồng Trung Quốc treo khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam…thực chất Trung Quốc đang tiến hành một cuộc xâm lăng toàn diện về văn hóa. Sao ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không nhắc tới nguy cơ Hán hóa mà lại lo “Tây hóa” trong khi Đảng vẫn chủ trương hội nhập toàn cầu?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, trong thế giới phẳng hiện nay việc xâm thực hay xâm lược văn hóa là thể hiện một thứ quyền lực mềm. Về mặt xâm thực văn hóa của Trung Quốc ngoài phim ảnh, tôi có thể bổ sung thêm, ví như thị trường sách. Nếu anh ra bất cứ một tiệm sách nào trên toàn quốc đều thấy số đầu sách dịch từ nguồn Trung Quốc chiếm tới trên dưới 40% thị phần sách lưu hành. Điều đáng buồn là một khối lượng không nhỏ trong đó là sách thần bí. Loại này trước đây thuộc diện tuyệt đối cấm. Ngoài ra thượng vàng hạ cám, không thiếu một loại sách nào của người Tầu từ thượng cổ đến vừa ra lò vài tuần mà không có trên thị trường sách nước ta. Rất nhiều loại tiểu thuyết đương đại nhà văn Việt Nam thừa sức viết, nhưng nếu có viết ra cũng không được công bố loại những  tác phẩm tương đương với những tác phẩm đương đại của Trung Hoa mà ta phải dịch, như các tác phẩm “Nửa đàn ông là đàn bà” của Trương Hiền Lượng, “Báu vật của đời” của  Mạc Ngôn, “Thị trấn phù dung” của Cổ Hoa… để bù vào nhu cầu khát đọc của độc giả. Có thể lấy ví dụ như “Truyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, “Thời của thánh thần” của nhà văn Hoàng Minh Tường…Đáng tiếc chúng đã không được phép lưu hành hoặc chỉ được xuất bản một lần.
Nhật Tuấn: Vì sao trong Chỉ thị của Bộ chính trị “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” hoàn toàn không nhắc gì đến hai chữ “nhân dân”?                     Vậy phải chăng công tác chỉnh đốn Đảng”chỉ thuộc “nội bộ Đảng”? Nếu vậy, điều mà Bác Hồ vẫn dạy là “quan điểm quần chúng” ngày nay có còn không?
Hoàng Quốc Hải: Bác Nhật Tuấn ơi, bác không đọc kỹ lời ông Tổng bí thư sao. Trong đó có chỗ ông nói: Đa số (ý nói các đồng chí lãnh đạo và đảng viên) là tốt, một số không nhỏ (cũng nói về lãnh đạo và đảng viên) là tha hóa, biến chất. Vậy là Đảng chỉ chỉnh đốn cái đám tha hóa, biến chất, tham ô, hủ hóa làm hại dân và làm mất thanh danh của Đảng, chứ Nhân dân thì làm gì có quyền lực để dính đến cái sự xấu xa ấy mà phải chỉnh đốn. Thôi chuyện này là chuyện nội bộ của Đảng, miễn bàn. Còn như nhờ nhân dân giám sát đảng viên, chắc Đảng phải ra một nghị quyết khác.
Nhật Tuấn: Mấy ngày vừa qua Trung Quốc vừa bắn phá tầu của ngư dân Việt Nam vừa đặt bút ký nội dung thỏa thuận cấp thứ trưởng hai nước diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 27 và 28 tháng 2. Mặc dù Trung Quốc vẫn leo lẻo “đưa quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ổn định và hợp tác của khu vực và thế giới”, nhưng lại lờ chuyện xung đột trên biển Đông  đi, chỉ nhắc tới phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển… Phải chăng đó là thủ đoạn câu giờ chờ thời cơ lấn lướt ta để độc chiếm biển Đông?
Hoàng Quốc Hải: Nhật Tuấn ạ, anh còn lạ gì người Trung Hoa, ý tôi muốn nói nhà cầm quyền thôi, còn người dân lao động thì họ cũng còn khổ lắm, thậm chí khổ hơn cả dân mình. Nhà cầm quyền Trung Hoa từ cổ xưa tới nay vẫn nói một đường làm một nẻo. Sự nhãn tiền như họ khủng bố tầu đánh cá của ngư dân ta, rồi họ lại chối phắt. Nếu như quay được băng video, mà về phương diện ngoại giao ta phản kháng gay gắt thì họ liền đổ lỗi cho địa phương Hải Nam hoặc Quảng Đông làm sai, rồi dàn hòa, rồi hứa không tái diễn… để lại tái diễn. Đó là đường lối muôn thuở của họ. Vì vậy trong tiểu thuyết lịch sử tôi đã viết: “Ta với họ không chỉ là kẻ thù truyền kiếp mà còn là kẻ thù tri kỷ”. Điều quan trọng là đối sách của chúng ta kia. Đương nhiên phải mềm dẻo một chút, không làm mất mặt “thiên triều”, nhưng phải kiên quyết, phải cứng rắn không cho phép “thiên triều” đụng đến cái lợi ích cốt lõi của ta, cụ thể là lãnh thổ, là lãnh hải, là ngư trường và các tài nguyên khác.
Còn chuyện Biển Đông đúng như anh tiên lượng: “Đó là thủ đoạn câu giờ, chờ thời cơ lấn lướt ta để độc chiếm biển Đông”. Đúng là họ đang phục kích lâu dài chờ cơ hội kiểu như năm 1974 chiếm Hoàng Sa và năm 1988 cướp Gạc Ma (thuộc Trường Sa) của ta. Nếu ta lơ là mất cảnh giác vì không chuẩn bị đầy đủ sức mạnh để sa cơ một lần nữa, sẽ phải trả giá đắt, phải ân hận tới ngàn năm mà vị tất con cháu đã tha thứ.
Nhật Tuấn: Xin anh cho biết vì sao vấn đề đàm phán về Biển Đông, phía Trung Quốc cứ nhăm nhăm đòi giải quyết song phương mà rất sợ đa phương? Phải chăng Trung Quốc đang chơi xảo thuật bẻ từng chiếc đũa?
Hoàng Quốc Hải: Thưa anh Nhật Tuấn, nếu là chuyện minh bạch thì đàm phán song phương hay đa phương có hề hấn gì. Khốn nỗi về mặt pháp lý quốc tế người Trung Hoa không có một khía cạnh hợp pháp nào trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Về Hoàng Sa thì họ ngoạm một phần vào cuối năm 1956; sau Thế chiến II, Trung Hoa dân quốc chiếm một phần từ quân Nhật thua trận (nay thuộc Đài Loan). Phần còn lại họ dùng vũ lực cưỡng chiếm từ quân đội Việt Nam cộng hòa vào năm 1974. Về Trường Sa, họ dùng vũ lực chiếm đóng đảo Gạc Ma của ta vào năm 1988 và sát hại 64  bộ đội công binh, tay không vũ khí. Cả hai trường hợp cưỡng chiếm này đều là hành vi xâm lược. Bởi các quần đảo này ta đã xác lập chủ quyền, và quản lý liên tục từ thế kỷ 18 tới nay, không hề có một quốc gia nào tuyên bố chủ quyền hoặc tranh chấp với ta cho đến trước năm 1949, nghĩa là trước khi có nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Vậy nếu ta nhận đàm phán song phương với họ, coi như ta thừa nhận họ có chủ quyền. Và như thế có nghĩa là họ từ tư thế bất hợp pháp chuyển sang tư thế hợp pháp. Còn nếu như đàm phán đa phương, có đại diện của Unclos làm trọng tài, đương nhiên họ không đủ tư cách pháp nhân để tham gia đàm phán, còn nói gì đến chuyện chủ quyền.
Nhật Tuấn: Anh viết tiểu thuyết lịch sử, hẳn có tìm hiểu kỹ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta, còn tôi thì tựa như thi sĩ vừa quá cố Đỗ Nam Cao đã viết:
                              “Trường Sa ư với ngày thường xa thật
                               Đảo ở đâu tôi có hỏi đâu mà
                               Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
                               Đảo mới gần mới thật của ta”
Cho nên dù đã tìm đọc các tài liệu, tôi vẫn chưa thật thỏa mãn, tôi muốn anh giải thích: Vì sao cả ta và Trung Quốc đều khẳng định hai quần đảo đó thuộc chủ quyền của mình không thể tranh cãi. Phía ta thì các tài liệu để chứng minh chủ quyền khá phong phú, nhưng phía Trung Quốc chỉ thấy họ trưng ra cái bản đồ 9 đoạn hình lưỡi bò, liếm gần hết biển Đông, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và quyền chủ quyền của nhiều nước. Điểm thứ hai họ trưng ra bằng lời nói chứ không có bản đồ và văn bản cổ là họ đã chiếm hữu vùng biển Đông này từ thời nhà Hán, nghĩa là đã cách đây hơn 2200 năm chứ không phải chỉ có khoảng 3 thế kỷ liên tục chiếm hữu và tuyên bố chủ quyền như phía Việt Nam mình. Nếu có thể được, anh diễn giải giùm chuyện này để mọi người cùng tham khảo.
Hoàng Quốc Hải: Tôi xin chia sẻ với anh cũng như tuyệt đại đa số người Việt Nam, hễ biết liêm sỉ đều có nỗi xót xa ân hận bởi trách phận công dân ấy. Điều quan trọng nhất lúc này là mọi người phải chung tay giữ lấy mảnh giang sơn từng thấm máu ngàn đời gồm vùng đất vùng trời và biển đảo của chúng ta.
Phần bàn về đàm phán song phương, tôi đã nói về chủ quyền hợp pháp của chúng ta về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nay tôi nói rõ về cơ sở pháp lý của cái quyền chủ quyền ấy.
Về xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa thì sách “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn soạn vào năm Bính thân (1776 ) đời Lê Hiển tông tương đương thời chúa Nguyễn Phúc Thuần ở Đàng trong. Về Đảo cát vàng tức Hoàng Sa, sách ấy viết “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển phía Đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn nọ sang hòn kia đi một ngày hoặc vài canh thì đến. trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy… các thuyền ngoại phiên (nước ngoài) tránh bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn (ý nói các chúa Nguyễn ở Đàng trong) đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá và lấy hóa vật của các tầu đắm… Đến kỳ tháng 8 thì về, vào Cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp”.
Ở một đoạn khác Lê Quý Đôn lại viết: Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan Chánh đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu (đảo Hải Nam) gởi cho Thuận Hóa nói rằng: “Năm Kiền Long thứ 18 (1758) (tương đương với thời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng trong) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam, ngày 7 đến Vạn lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để hai tên giữ thuyền, bị gió giật đứt dây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đây xét thực, đưa về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thúc Lương hầu làm thư trả lời”.
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần núi sông của tỉnh Quảng Ngãi cũng viết: “Đảo Hoàng Sa ở phía đông nam cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có tới hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng…” (phần còn lại sách này viết giống như Lê Quý Đôn đã viết trong “Phủ biên tạp lục”).
Sách Đại Nam viết tiếp: “Đầu đời Gia Long (1802) phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa…
Đầu đời Minh Mệnh thường sai người đi thuyền công đến đây thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1070 trượng ( bằng 3,5 km ) cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ ‘vạn lý ba bình’ (muôn dặm sóng yên ). Về phía tây bắc đảo này nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là đảo Bàn Than.
Năm Minh Mệnh 16 (1836) sai thuyền công chở gạch đá đến đây xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu mốc và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau…”.
Các sách “Đại nam thực lục chính biên”, “Đại Việt hội điển sự lệ”, “Khâm định việt sử thông giám cương mục”v.v… Rất nhiều di tích đền đài thờ tự “Hải đội trường sa” còn tồn tại với thần phả, tộc phả, gia phả, đặc biệt là vô số các châu bản do đích thân nhà vua hoặc các quan địa phương sai phái người ra vạn lý Trường Sa hoặc Hoàng Sa làm công vụ từ thời các chúa Nguyễn đến tận thời vua Bảo Đại còn lưu giữ trong các kho tư liệu quốc gia, thậm chí trong các nhà dân cũng còn khá nhiều chứng tích về “Hải đội Hoàng Sa”. Đó là các độc bản, chứ các phó bản thì nhiều vô kể (trong đó có nhiều loại bản đồ và các số liệu đo đạc) về Hoàng Sa, Trường Sa còn lưu giữ trong thư viện Viện Hán – Nôm, trong các thư viện của Paris (Pháp) mà trước đây “Viễn Đông Bác cổ học viện” sưu tầm và hoàn thiện rồi lưu trữ khá công phu.
Chính quyền nhà Nguyễn quản lý và khai thác hai quần đảo này cho tới khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thì nhà nước thuộc địa Pháp tiếp thu và quản lý rất chặt chẽ. Bằng cách đo đạc, vẽ bản đồ, lập trạm đo khí tượng v.v…Năm 1899 Paul Doumer toàn quyền Đông Dương cho xây dựng một ngọn hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa.
Khi nước Pháp thua trận năm 1954, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, từ vĩ tuyến 17 trở vào nam thuộc chính quyền Việt Nam cộng hòa quản lý, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc xâm lược chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa như phần trước tôi đã trình bày.
Về cái lý không tranh cãi của Trung Quốc họ trưng ra cho thế giới biết cái bằng chứng hư vô là họ đã quản lý vùng biển đảo này từ thời Hán, Đường đến Minh, Thanh. Từ cổ xưa tuyệt nhiên không có sách nào của Trung Quốc nói đến vùng biển đảo phía đông này và cũng không có một tấm bản đồ cổ nào của Trung Quốc vẽ về vùng biển đảo phía đông này trong đó có dấu ấn Hoàng Sa, Trường Sa, kể cả Trịnh Hòa thời nhà Minh đi vòng quanh thế giới có vẽ khá nhiều bản đồ, cũng không hề có sự hiện diện của hai quần đảo này.
Chứng tích vu vơ thứ hai là tấm bản đồ do chính quyền Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch tự vẽ năm 1947 có chứa đường 9 đoạn mà ngày nay Trung Quốc coi như một bằng chứng lịch sử sáng giá.
Một văn bản khác là tuyên bố năm 1958 của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về định nghĩa lãnh hải của Trung Quốc và họ phát triển hóa yêu sách này vào luật của nhà nước Trung Hoa cỡ năm 1992.
Thật ra đường lưỡi bò 9 đoạn do Trung Hoa dân quốc tự vẽ và tuyên bố về đường lãnh hải của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về mặt pháp lý quốc tế đều không có giá trị.
Còn cái chứng cớ cù nhầy mà Trung Quốc ngộ nhận từ đời Hán, Đường, Minh, Thanh rằng toàn bộ vùng biển này đã thuộc về Trung Quốc , ta hãy nghe một trong 29 luật sư nổi tiếng nhất trong suốt 20 năm qua của đoàn luật sư bang California ông Tel Laguatan viết một bài báo ngày 27 tháng 7 năm 2011 với tựa đề: “Tại sao Trung Quốc không đưa vấn đề Trường Sa ra Liên hiệp quốc”.
Tôi xin trích một đoạn của ông luật sư người Mỹ này: “Nhà Hán của Trung Quốc mới có từ 206 trước Công nguyên đến 220 Công nguyên. Còn Alexandre đại đế chết năm 323 trước Công nguyên. Vương quốc của ông bao gồm Hy Lạp, Syrie, Ba Tư, Ai Cập và một phần Ấn Độ.
Đế quốc La Mã tồn tại hơn 1000 năm thâu tóm cả Châu Âu, một phần Châu Á, Châu Phi.
Vậy ngày nay hai nước Mace’donia và Italia có thể đòi lại các phần đất cũ mà đế quốc Mace’doine và La Mã chiếm đóng từ mấy ngàn năm trước không.
Nếu lý luận như Trung Quốc ngày nay thì người Mông Cổ có thể đòi lại cả nước Nga và nước Trung Hoa cùng nhiều quốc gia khác mà Thành Cát Tư Hãn đã thống trị từ thế kỷ 13-14 không?
Thói ngạo mạn của Trung Quốc lấy cơ bắp làm ngôn ngữ ngoại giao và áp đặt chính sách đối ngoại của mình buộc đối phương phải tuân thủ tựa như đường lối của bọn phát xít Hít-le hồi đại chiến thế giới thứ hai. Thế nhưng Trung Quốc luôn rêu rao là ‘trỗi dậy trong hòa bình’ và muốn làm bạn với các nước. Lâu nay Trung Quốc đã thể hiện rất kiên trì đường lối đối ngoại là cái gì họ làm với thế giới luôn luôn ngược lại với cái mà họ hùng hồn tuyên bố.
Hãy cảnh giác với Trung Quốc!”
Thật ra Trung Quốc còn lưu giữ rất nhiều tư liệu có sức “thuyết phục” toàn thế giới, nếu họ trưng ra thì ngay cả nước lên án họ về tranh chấp biển Đông cũng phải mỉm cười ưng thuận.
- Thứ nhất vào năm 1895 tàu Bellona của Đức bị vấp đá ngầm và chìm tại quần đảo Hoàng Sa, đánh tín hiệu cấp cứu mà Hải Nam không có động dạng gì. Và năm 1896 tàu Himeji của Nhật Bản cũng bị đắm ở Hoàng Sa. Cả hai tầu đều không được phía Trung Quốc cứu hộ mà ngư dân của họ từ Hải Nam còn ra cướp đồng và hàng hóa. Chính phủ Anh đã gửi công hàm phản kháng. Phía Trung Quốc tuyên bố chính thức là quần đảo này không thuộc về phía Trung Quốc. Công hàm này hiện vẫn còn lưu trữ tại thư viện Hoàng gia Anh quốc. Ngay cả phía Trung Quốc chắc cũng còn lưu giữ.
- Thứ hai là sau khi thua trận trong chiến tranh Trung – Nhật, nhà Thanh đã ký hiệp ước Shimonseiki ngày 17 tháng 4 năm 1895, phía Trung Quốc gọi là hiệp ước Mã Quan, theo đó nhà Thanh nhượng cho Nhật Bản vĩnh viễn chủ quyền đầy đủ các quần đảo Bành Hồ, Đài Loan và phía đông vùng biển của bán đảo Liêu Đông cùng với tất cả tài sản có trên đó như: công sự, kho vũ khí… Và khu vực này không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đó có nghĩa là hai quần đảo này đã không được xem là thuộc chủ quyền của Trung Hoa.
- Thứ ba trong “Trung Quốc địa lý học giáo khoa thư” biên soạn năm 1905, xuất bản năm 1906 có ghi” Phía Nam từ vĩ độ Bắc 18013’ tận cùng là bờ biển Hải Nam (Nhai Châu) là miền đất cực nam của Trung Quốc. Và vì thế nó không có dính líu gì đến Trường Sa, Hoàng Sa.
Chứng cớ rành rành như thế mà Trung Quốc cứ ỉm đi không chịu công bố, lại bấu víu vào cái thứ lịch sử vu vơ khiến luật sư Ted Laguatan phải lên tiếng cảnh báo với toàn thế giới: “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.
Những đòi hỏi của Trung Quốc ở biển Đông trở nên ngạo mạn, cứ xem cái đường lưỡi bò ấy nó liếm mất khoảng 3,8 triệu km2 trong tổng số hơn 4 triệu km2 của toàn vùng biển Đông. Bởi Trung Quốc mơ ước có tới 22 tỉ thùng dầu và 200 ngàn tỉ m3 khí tự nhiên nằm ở đáy biển, cùng với bao nhiêu thứ kim loại khác sẽ giúp cho họ soán ngôi bá chủ thiên hạ.
Lòng tham khiến họ mờ mắt, chứ các nhà khoa học địa chất Mỹ và Nga dự đoán trong lòng biển Đông chỉ có từ 4 đến 7 tỉ thùng dầu là kịch mốc.
Đừng tham quá mà gây thù chuốc oán với các nước láng giềng vẫn luôn tỏ ra tôn trọng Trung Quốc. Xin các vị hãy đọc lại lời dạy của Chủ tịch Mao Trạch Đông với đoàn cán bộ trước khi sang giúp Việt Nam vào tháng 2 năm 1950.
Về mối quan hệ Trung Hoa, Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã kể mẩu chuyện lịch sử “Mã Viện đánh Giao Chỉ”:
 “Trong lịch sử từ đời Hán trở đi, Trung Quốc đã từng ức hiếp (1) Việt Nam, 80 năm trước chính phủ Mãn Thanh cắt nhượng Việt Nam cho Pháp (2). Dân tộc Việt Nam là một dân tộc tốt, bị nước ngoài cai trị và áp bức lâu dài, họ căm thù người Pháp, rất nhạy cảm đối với người nước ngoài. Các đồng chí có thể nói với các đồng chí Việt Nam: ‘Tổ tông chúng tôi xưa đã từng ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội và xin lỗi các đồng chí’.”
(Nguồn hồi ký của Vi Quốc Thanh đăng trong “Thượng tướng phong vân lục” NXB Đại bách khoa toàn thư năm 2000).
Từ hơn hai ngàn năm nay người Việt Nam vẫn chờ một lời xin lỗi công khai từ phía Trung Hoa! Tuy nhiên, muốn buộc đối phương xin lỗi, có nhẽ người Việt Nam phải sống khác đi!
Tạm biệt nhà văn Nhật Tuấn.
Hà Nội 18h50’ ngày 13.3.2012.
Ghi chú:
(1)  Ức hiếp ở đây phải hiểu đúng nghĩa là tàn sát dã man, vì Chủ tịch Mao muốn nói tránh đi.
(2)  Chỗ này Chủ tịch Mao hơi ngộ nhận, hiệp ước Pháp – Thanh ký là để phân định biên giới, chứ nhà Thanh có tư cách gì mà cắt nhượng được Việt Nam cho thực dân Pháp.

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (14)


    

                                                  (tiếp theo)

                                           II.

1.

 “Thử tưởng tượng, bỗng một ngày nào đó, sau những trận mưa lớn kéo dài, tất cả các con sông đều dâng cao tới mức nước lịch sử, đúng lúc đó, sóng triều tại các cửa sông đổ ra biển cũng dâng cao nhất...”
      Trong cơ hội “trùng phục có tính cách lịch sử” đó một trăm mét nước sẽ phủ lên làng mạc ruộng đồng,, thành phố, sẽ cuốn trôi tất cả nhà cửa, con người, con vật, tiện nghi...”
      Chàng kỹ sư thủy văn, người đã tung ra câu hỏi “bạn sẽ làm gì trong cơn hồng thủy” đang ngồi với chồng tôi trong phòng khi tôi hí hửng xách túi trở về.
      Bình tỉnh bơ, làm như tôi mới đi công tác, vui vẻ giới thiệu bạn.
     - Cô Vân còn nợ tôi câu trả lời bữa trước đấy nhé.
      Điền, anh kỹ sư thủy văn, chắc bất ngờ về việc tôi về, cố tạo ra nụ cười thân thiện.
     - Em rửa tay ăn cơm đã, tưởng hôm nay chưa về, anh và anh Điền đã nấu nướng xong cả rồi.
      Thì ra nhân tôi đi vắng, anh mua thịt cầy, rủ bạn về nhậu nhẹt. Nhìn quanh bếp, lung tung rác rến, chai lọ bừa bãi, gói mì chính tung tóe gầm trạn, tôi muốn nổi cơn giận, nhưng khoan, đã tự hẹn từ nay không chấp vặt, chồng nổi hứng mời bạn tới uống ba chén ruợu thì đã làm sao. Điền cùng phòng với Bình, nổi tiếng bẻm mép, chạy áp phe như điên, sống với vợ được hai năm thì ly dị, tính cách hai người ngược nhau, không hiểu sao lại thân nhau. Mâm rượu dọn ra, có đủ món thịt luộc, dồi nướng, chả chìa, dựa mận, kiểu này Điền mới trúng mánh lớn chứ chồng tôi lấy đâu ra tiền.
     - Cô Vân ạ, tôi rủ anh Bình xuống đường kiếm sống, cứ bám mãi vào ba đồng lương kỹ sư chắc chết đói.
     - Anh Bình buôn được em đã mừng. Người ta có số cả đấy, không phải ai cũng chạy áp phe được đâu.
      Điền tợp ngụm rượu:
      - Rất dễ, cô chỉ cần chạy cái vốn năm chỉ cho anh Bình theo tôi một chuyến vào Sài Gòn thì tha hồ tiêu tiền.
      - Chịu thôi! - Bình ngồi im từ nãy mới lên tiếng - nhỡ lỗ một cái, mất cả vốn thì chết. Có chí làm quan, có gan làm giàu, cả hai thứ đó mình đều không có, thôi cứ  chờ nhà nước tháo gỡ bao cấp, nước nổi bèo cũng nổi.
      - Liệu ông chờ được tới ngày đó không?
      Bình cười gượng:
      - Biết đâu cơn hồng thủy của ông lại chẳng tới sớm, lúc đó anh có bạc triệu thì cũng bình đẳng như tôi tay trắng vậy thôi.
      Điền gắp một miếng dồi nướng, trợn mắt nhai ngon lành. Tôi mỉm cười nghĩ ra câu trả lời cho anh rồi, hóa ra cũng giống như chồng tôi đã nói thay tôi thôi.
      - Chừng nào cơn hồng thủy của anh xảy tới, em sẽ ăn một miếng dồi chó.
      - Không không, cô trả lời chưa nghiêm chỉnh...
      Điền lắc đầu quày quạy, gắp một miếng dồi nữa. Bỗng dưng tôi nhớ tới ông Gôgôn - Anh chàng Piôtr Pêtrovits Pêtukhốp béo mập của ông suốt ngày chỉ ăn, chẳng còn hở chút thời gian nào để mà buồn, mà nghĩ ngợi. Anh chàng Điền này cũng có máu hám ăn ngon như vậy, chỉ khác anh ưa “triết lý” và có lẽ trong bữa rượu, anh thường dùng nó để thêm phần gia vị. Quả thực, sau lúc anh cạn đủ ba chén, anh cất giọng giảng giải:
      - Thiên nhiên có những hành vi chính xác đến kỳ lạ, trong nghề thủy văn của tôi, nhiều khi phải kinh ngạc về sự lặp lại của mức nước lên xuống hàng năm. Biển mênh mông là thế, vậy mà thủy triều chỉ cần dâng cao quá giới hạn một mét thôi, có khi cả một thành phố chìm trong nước lụt.
      Bình liếc tôi cười mỉm:
      - Vậy có lẽ đổi thay nhiều nhất là hành vi con người, hôm nay tôi với anh còn là bạn bè, đùng một cái có khi ngày mai đã cấu xé nhau rồi. Anh thử cắt nghĩa xem đó là do đâu?
      Tôi chen một câu cười cợt:
      - Chắc do chúng ta chống chủ nghĩa cá nhân chưa tới nơi tới chốn.
      Điền xua tay:
      - Không phải, nhầm to rồi cô bạn ạ. Thiên nhiên chỉ giở chứng khi cân bằng tự nhiên của nó bị phá vỡ, đốt rừng dễ gây ngập lụt chẳng hạn, con người cũng vậy, phá vỡ cân bằng bên trong, con người dễ nổi điên, thảm họa hạt nhân cũng từ đó mà ra.
      - Vậy theo anh... - Bình hỏi - cái gì giữ được cân bằng bên trong con người? Thượng đế chăng?
      - Ông ta sinh ra và tồn tại cùng với loài người mà cũng chẳng ngăn được thiên hạ chém giết nhau.
      Tôi dấu chai rượu vào hộc tủ, hai anh chàng say thật rồi, cứ đà này, không khéo câu chuyện sẽ dẫn tới một thế giới khác, thế giới phản vật chất như trong truyện viễn tưởng.
      - Hai anh ăn cơm đi, uống thế đủ rồi.
      Tôi bỏ ra ngoài ban công, hết cả hứng vui vẻ khi từ nhà mẹ trở về. Các đấng nam nhi của tôi là thế - chỉ giỏi bàn luận suông, rút cuộc có làm được trò trống gì ? Thôi kệ, mỗi người tự chịu trách nhiệm lấy chính mình, tôi đã có công việc của tôi, mặc chồng, muốn ra sao thì ra.
Ở dưới sân, tôi chợt nhìn thấy ông Giám đốc may mặc, rất lạ, ông ngước lên chào tôi đầy kính trọng. Tôi nhớ ra rằng lần trước Hồng Loan đưa tôi về, thái độ của ông ta cũng như vậy. Tôi bắt đầu nghĩ về ông như một nhân vật tôi sẽ viết. Có lẽ tôi phải viết một cuốn tiểu thuyết về những người trong khu tập thể này - ông cán bộ về hưu hiện làm bảo vệ, ông Giám đốc may mặc, cô diễn viên cửa sổ đối diện sáng nào cũng ra ban công  luyện giọng... và nhân vật chính, rất có thể là chồng tôi, vậy từ nay, với mọi người, tôi sẽ là một chứng nhân, một quan sát viên.
Tôi sẽ mở đầu thế nào đây? Thông thường, người ta giới thiệu bối cảnh xã hội, tả tỉ mỉ nơi xảy ra câu chuyện, lý lịch nhân vật, tuy nhiên, tôi sẽ không theo đúng trình tự như vậy, để gây ấn tượng, tôi sẽ tìm một cách mở đầu khác.
      - Vân ơi vào uống nước.
      Tôi trở vào, bối rối nhìn bàn ăn đã dọn dẹp sạch sẽ. Bình thật buồn cười, lúc nào anh cũng tỏ ra sốt sắng quá mức cần thiết.
      - Sao ăn xong không gọi em vào dọn?
      - Có gì đâu, loáng cái xong ấy mà, em mới về còn mệt.
      Quả dưa hấu Bình bổ thật khéo, đỏ hồng trong đĩa nhựa trắng. Món đầu mùa cao cấp này chắc cũng của Điền. Hóa ra hai người không say như tôi tưởng, họ vẫn chưa dứt câu chuyện về tương lai trái đất. Điền cho rằng thảm họa nhân loại bị tiêu diệt trong một cuộc chiến hạt nhân là không tránh khỏi. Bình ngược lại, vẫn tin vào lương tri con người sẽ ngăn chặn được ngày tận thế. Điền lôi tôi vào cuộc:
     - Ý cô Vân thế nào?
     - Các anh muốn em đùa hay nghiêm chỉnh?
     - Tùy thích, miễn là nói thực.
     - Vậy em nói thực nhé, chuyện đó còn xa xỉ với tất cả chúng ta. Hãy giành nó cho Mỹ, Liên Xô, những người có thể sản xuất hay phá bỏ  vũ khí hạt nhân. Việc cấp thiết của ta bây giờ là “giá, lương, tiền”.
        Bình gật đầu rất nghiêm chỉnh:
     - Sáng nay anh đi chợ, gạo đã lên một trăm rồi đấy.
        Điền bật cười:
        - Còn thịt cầy tuần trước 60, hôm nay đã lên 75.
     Mọi người theo tôi chuyển đề tài. Chồng tôi lạ thật, chuyện gì anh cũng có thể bàn tán say sưa, từ du hành vũ trụ tới chuyện phụ cấp ăn trưa, và với bất kỳ ai, trừ ra mỗi tôi, người gần gũi anh nhất. Thực ra, đó là lỗi tại tôi, cứ mỗi lần anh hăng, tôi lại uể oải. Những lúc như vậy, anh hiểu ngay lập tức, im bặt và bỏ đi chỗ khác làm tôi rất phục cái tính nhạy cảm của anh.
       Tôi nói:
      - Nghệ thuật nói chuyện là biết dừng lại đúng lúc. Cái đó anh rất giỏi.
      - Có gì khó đâu, cứ nhìn mặt em là anh hết muốn nói liền.
      Anh cười sáng khuôn mặt, những lúc thế này, tôi thấy anh đẹp trai và nảy ra ý muốn được ôm ấp, vuốt ve. Anh không hiểu điều đó, lại bốc lên  kể lể, chuyện trò, đến khi tôi chán nghe, anh bỏ đi chổ khác. Phải chăng giữa hai đứa luôn luôn “lệch pha” hoặc bản chất con người là thế, với nhau, họ luôn luôn là “người khác”. Một lần tôi nêu đề tài đó tranh luận với anh. Ý kiến anh chẳng có gì mới, ngược lại, chỉ càng cho vấn đề thêm rối tinh. Rốt cuộc, anh dàn hòa:
       - Mọi sự khởi đầu từ con tim cả, yêu nhau thì cú cũng thơm.
       - Xưa rồi, điều đó xưa lắm rồi ông ơí!
       Tôi “dẹp” anh như thế , nhưng rồi bắc ghế ngồi một mình ngoài ban công, tôi thấy những điều anh nói tất nhiên cũ quá rồi, vậy thế nào là mới, chịu, tôi không nghĩ được, thôi “sang trang”, tôi đuổi theo một ý nghĩ khác nhỏ bé như ngôi sao mờ đang trôi giữa làn mây trên bầu trời.
       Tối hôm đó tôi treo ảnh Gôgôn lên đầu giường, chuẩn bị tinh thần nghe Bình tra hỏi mấy hôm nay vừa rồi đi những đâu, ở nhà ai? Tôi định sẽ hết sức kiềm chế, thôi, chấp làm quái gì, cứ để chồng “xả ra” cho hết, dứt khoát không nổi nóng xách túi đi đâu nữa, cứ ngậm tăm ngồi bàn mà viết mở đầu cuốn tiểu thuyết. Nhưng không, khi anh xuống phố mua thuốc lá về, tôi đã đóng xong tấm ảnh, vứt búa xuống gầm giường, anh đứng ngẩn ra giữa phòng ngắm nghía.
      - Anh biết ai đây không?
      - Mũi khoằm, râu vểnh, cằm hẹp thế kia nếu không là lái buôn thì cũng là...
      Anh nheo mắt, trán cau lại vẻ suy nghĩ  rất căng thẳng. Tôi sốt ruột:
      - Là thế nào?
      - Một anh bịp đời có hạng.
      Tôi rũ ra cười:
      - Nhầm to rồi ông ơi, văn hào vĩ đại của nước Nga đấy, ông Gogol.
      - Phải cái ông có cái áo choàng mà mọi ông nhà văn sau đều từ đó mà chui ra không?
      - Đúng đấy, a, hóa ra anh cũng khá đấy nhỉ?
      - Vậy thì có gì mà phải treo trên đầu giường ngủ thế kia?
      Tôi cau mày, cụt cả hứng:
      - Thích thì treo thế thôi.
      Bình im lặng, lấy ấm ra loay hoay pha trà. Đó, sắp sửa cuộc tra hỏi rồi đó. Có tiếng gõ cửa rụt rè. Trời ơi, một người tôi không hề ngờ tới: ông Giám đốc may mặc ở tầng dưới .
      - Tôi lên chơi có làm phiền gì anh chị không?
      - Sao lại phiền? Bác lên đúng dịp, tôi vừa pha ấm trà ngon.
      Ông Giám đốc may mặc không còn gây khó chịu cho tôi như trước nữa, ngược lại tôi thích thú quan sát ông như một nhân vật sau này sẽ đưa vào tiểu thuyết.
                          (còn tiếp)