Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (9)

                                    
                                           (tiếp theo)

  Hồng Loan còn sốt ruột hơn tôi, nó luôn mồm giục Hoàng Minh, tôi biết không phải vì nóng muốn xem tranh mà chính tiếng nhạc làm tay chân cô nàng ngứa ngáy chẳng kém gì tôi. Từ lâu rồi, chúng tôi không nhảy nhót như những ngày còn đi học: sinh nhật, Nôen, Tết dương lịch, chẳng tháng nào là mấy đứa không dựa vào cái cớ gì đó để tổ chức một buổi nhảy cỡ “bỏ túi” có chai rượu mùi, dăm ba cô cậu biết lượn vài đường cơ bản và cứ thế là ôm nhau nhảy tán loạn làm các ông bà già giật mình thon thót chỉ lo công an khu vực đến lập biên bản.
 Than ôi, thời “oanh liệt” đó nay còn đâu, bây giờ, xung quanh tôi chẳng còn ai muốn “nhảy”, ở cơ quan toàn các ông bà già suốt ngày nói những câu chuyện nhạt phèo, về nhà lại va phải ông chồng chỉ biết lo làm ăn, tôi biết sống thế nào hòa hợp được với các vị ấy khỏi mang tiếng là thiếu cởi mở ?
      - Trời, gương mặt Vân thay đổi dễ sợ, lúc nãy sáng bừng, giờ lại trầm hẳn xuống, chịu, tôi chịu thôi không thể vẽ vội được.
Hoàng Minh kêu lên, vứt bút lên bàn, cuộn lại tờ tranh, nhất định không cho ai xem. Tôi cười khẩy, biết ngay mà, anh chàng chỉ quen vẽ “ma” thôi, trò chuyện về hội họa thì sao đại ngôn thế, nào là “đối thoại”, “tâm linh”, nào là “hư vô”, “thực thể”, tưởng như ông Picasso sống lại nói năng cũng chỉ đến thế. Vậy mà hỡi ôi, khi cầm đến bút vẽ mới rõ ra là họa sĩ “rởm”.
      -Tớ phải đi đây...
      Tôi đứng phắt dậy, nỗi giận dữ vô cớ tuôn hết cả ra giọng nói khiến Hồng Loan phải bật cười. Niềm vui vừa lóe lên trong ánh mắt chàng họa sĩ đã vội tắt ngấm, anh đành chưng hửng đứng dậy xin cáo về khi Hồng Loan nằng nặc đòi đi với tôi. Ra khỏi cổng, nhìn dãy phố vắng lờ mờ trong ánh đèn đường, nó thở hắt ra:
      -Khuya rồi còn đi đâu, con dở hơi?
      -Đi đâu thì đi, ngồi nhà nghe chàng họa sĩ triết lý vụn, sốt cả tiết.
      - Ấy, ấn tượng ban đầu như thế mới nguy hiểm chết người đấy.
      Tôi đấm vào người nó và vẫy chiếc xích lô đang đủng đỉnh diễu qua. Tuyệt, một sáng kiến độc đáo, Hồng Loan reo lên hưởng ứng, ngất ngưởng trên chiếc xích lô cổ lỗ, đi chơi đêm phố xá Hà Nội, thử hỏi còn cái thú nào hơn thế nữa?
Lạy trời, đó là một ông “xích lô thứ thiệt” chứ không phải một ông kỹ sư hoặc một giáo sư nào đó buổi tối đạp xe kiếm thêm. Không mảy may ngó nghiêng, hóng chuyện, ông ta cứ lầm lũi rướn người trên chiếc bàn đạp, mặc kệ hai đứa chúng tôi tha hồ trò chuyện.
Phố Hà Nội về đêm đẹp hơn ban ngày, liệu có ông họa sĩ nào vẽ nổi cái dáng nghiêng nghiêng của hai hàng cây cơm nguội muốn ngả đầu vào nhau, cái sắc vàng huyền ảo của ánh trăng rót xuống mặt phố, mọi ồn ào náo nhiệt của con người biến hết, lúc này chỉ còn thấy rõ sự hiện diện bất biến và vĩnh cửu của thiên nhiên mà ban ngày bị chìm mất trong lớp bụi đường, trong tiếng máy, tiếng cười nói và la hét.
“Hai cô ra ga phải không?”, tiếng bác xích lô phì phò qua hơi thở rướn cong làm cả tôi lẫn Hồng Loan như bị dứt khỏi những ý nghĩ về đêm.
“Phải đấy, ra ga đi, ừ thì ra ga...”.
Hồng Loan reo lên mừng rỡ như vừa tìm ra được mục tiêu bất ngờ cho cuộc đi chơi đêm vô định. Tôi không thích ra đó chút nào, bến xe, bến tàu vốn là cái nơi người ta thường chen lấn xô đẩy giành giật nhau từng cái vé quá rẻ so với thời giá leo thang , việc chia tay lúc tàu xe chuyển bánh thường bị nỗi lo kiếm được chỗ ngồi lèn cá hộp làm giảm sút đi bao nhiêu là buồn đau, bịn rịn.
      Chiếc xích lô đã đưa chúng tôi ra khỏi cái êm ả đầy thơ mộng của thành phố lúc nửa đêm và tiến vào vùng sáng ồn ã, náo nhiệt của sân ga vốn chẳng lúc nào ngừng hoạt động. Chúng tôi xuống xe ngay đầu một dãy bày bán đủ thứ từ thịt kho trứng vịt, canh rau cải nấu xương tới đậu nhồi thịt băm, mọi người ăn uống náo nhiệt bất chấp những con thiêu thân thi nhau lao đầu vào ngọn đèn dầu, rơi loạn xuống những bát canh váng mỡ.
      “Điên rồi, cậu điên rồi, dắt díu nhau đến chỗ này làm khỉ gì?”
Hồng Loan cười cười, không thèm đếm xỉa đến lời ta thán, lôi tay tôi len lỏi qua những dãy hàng ăn, hàng chè chén, hàng bán đủ thứ vặt vãnh, toát mồ hôi mới chen chân vào được sân ga.
Ánh sáng mờ mờ soi xuống khung cảnh quen thuộc của những người đợi tàu trải chiếu nằm la liệt dưới mái hiên, ngoài trời và đông đúc hơn cả vẫn là trước những ô cửa phòng vé. Tôi để mặc Hồng Loan lôi kéo và ấn tôi ngồi xuống một băng ghế gỗ. Mùi mồ hôi người, mùi những chiếc bao hàng, mùi hố tiểu đâu đó... tất cả xộc thẳng vào mũi, loáng thoáng bên tai tiếng vịt kêu khàn khàn, tiếng chửi nhau giành chỗ, tiếng một ông lão ho sù sụ... Tôi gắt lên:
      - Sao lại ngồi đây?
      - Chờ đợi mà...
      - Người ta chờ tàu, mình chờ cái gì?
      - Ừ nhỉ...
      Hồng Loan thở ra, mặt xịu xuống vì không có cái gì để mà chờ đợi. Tôi an ủi nó:
      - Thôi mình ngồi đây chờ sáng vậy...
      - Cho cậu ngồi chờ sáng, còn tớ, tớ chờ... Godot.
      - Có đến tết ông ta cũng chả tới...
      Đúng, ông Godot chẳng bao giờ tới (*) nhưng một đứa bé dắt theo con em nó còn bé hơn đã đi tới trước mặt chúng tôi. Vẻ mặt hom hem đói ăn, hai đôi mắt tròn xoe ngước nhìn vật nài, và hai bàn tay nhỏ bé lem luốc giơ ra khiến tôi liên tưởng tới cánh đồng ngập nước trắng xóa sau những cơn mưa liên miên tràn ngập châu thổ sông Hồng.
      - Bố mẹ các cháu đâu?
      Theo ngón tay nhỏ bé của nó, tôi nhìn thấy một người đàn bà ôm con ngồi góc phòng trên manh chiếu rách, đứa nhỏ bà đang bế trên tay rúc mãi vào bầu vú mà dòng sữa của nó chắc chắn chảy ra từ những bát cơm thừa, canh cặn xin được dọc đường.
Hồng Loan nắm lấy bàn tay nhỏ đặt vào đó tờ giấy bạc rồi bỗng đứng phắt, đùng đùng kéo tay tôi bước ra khỏi phòng đợi tàu.
Suốt trên đường về, lại trên một chiếc xích lô, nó câm như hến,mặc cho tôi trầm trồ về mùi hương dạ lan lúc này đang thoang thoảng loang khắp trên phố. Những lúc mặt nó kín bưng thế này, tôi hiểu, nó đang làm thơ. Ngày xưa nó là đứa nổi tiếng nhất lớp về”sản xuất thơ tình” và phải công nhận rằng thơ nó rất hay khi nói về nỗi đau”thất tình”. Hàng tuần, nó lôi tôi lên hồ Tây, hai đứa ngồi ghế đá ăn kem và nghe nó đọc những bài mới làm, toàn về “những mảnh tình đã vỡ rơi trên phố, trên hè” khắp phố phường Hà Nội. Nhiều lần tôi phải chảy nước mắt vì nỗi đau trong thơ nó, và nói cho công bằng, nó còn tài năng hơn khối ông nhà thơ nổi tiếng vẫn thường  đăng thơ dài dài trên đủ các thứ báo và đủ các thứ “nhân dịp”. Vậy nhưng chả lẽ thơ  nó làm chỉ riêng cho mấy đứa bạn?
      -Sao cậu không gưi đăng báo? - Tôi khuyên nó.
      -Thơ thế này báo nào đăng?
      -Chỉ cần cậu sửa đi vài đoạn, chẳng hạn” nụ hôn khuya” này nên giành cho anh bộ đội về phép và cô công nhân đi làm ca ba...
     Nó cười rú lên và hỏi hôm nay tôi “có bị chập dây thần kinh không đấy?”. Mặc kệ, vài ba tháng tôi lại thúc nó làm thơ gửi báo và lần nào nó cũng riễu tôi “bà lão lẩm cẩm”. Thật tiếc, cho tới bây giờ, bao nhiêu bài thơ nó làm vẫn nằm im trong những cuốn sổ tay cất kỹ trong ngăn kéo. Mấy năm vừa rồi, không hiểu nó còn làm thơ không, và hiện đã “hành trình” tới đâu trong “sự nghiệp” riêng của nó?
      Chúng tôi về tới nhà đã gần nửa đêm, chán nản và mệt mỏi vì cuộc dạo chơi bất thành. Nhìn tôi nhăn nhó, nó bật cười:
      -Sao? buồn ngủ chưa?
     -Ngủ thế quái nào được, buồn thật, hết trò chơi rồi.
      -Vậy đi pha cà phê, tán dóc cho hết đêm.
      - Uống đen hay nâu đây?
    Hồng Loan không trả lời, cúi xuống cuốn sổ tay, lúi húi viết. Khi từ trong bếp, tôi bưng ra hai ly cà phê sữa thơm nức, nó đã ngủ gục trên bàn. Thế đấy, vậy mà dám rủ người ta tán chuyện sáng đêm. Tôi ngồi nhấm nháp một mình kệ cho Hồng Loan ngủ say sưa và rồi trên cuốn sổ tay, tôi đọc được bài thơ viết nguệch ngoạc:
                          “Cái đói dồn về ga
                          Chúng ta thì như thế...”
     Tôi đặt ly cà phê uống dở xuống và lập tức tôi nhớ tới bộ mặt hom hem, bẩn thỉu của người đàn bà ngồi cho con bú trong góc phòng đợi tàu hồi nãy. Bà ta là ai nhỉ? Chồng bà đi đâu? Bà sống ở nơi nào trong những làng thôn đói kém vì mất mùa do sâu rày, hạn hán, lũ lụt và do cả cơ chế “bình công chấm điểm” một thời đã gây nên thảm trạng người nông dân vắt sức trên luống cày ngày cũng chỉ đủ kiếm vài ba lạng thóc?
       Tôi nhìn những sợi tóc lòa xòa trên đôi mắt nhắm nghiền của Hồng Loan chợt hiểu thái độ câm nín của nó từ lúc hai đứa bước khỏi phòng đợi tàu. Hóa ra từ những bài thơ thất tình, nó đã hành trình tới những suy nghĩ  như thế này. Chỉ lạ một điều, sống trong một gia đình khá giả thế, con một ông lớn thuộc tầng lớp “quí tộc”, đặc quyền đặc lợi, vì sao nó sớm day dứt cảnh đói nghèo đến như thế. Đọc lại cả bài thơ, tôi không nén được tiếng thở dài làm Hồng Loan mở choàng mắt:
      - Chưa ngủ kia à?
      - Cà phê đấy uống đi kẻo nguội.
      Nó gấp cuốn sổ, nhìn tôi với ánh mắt dò hỏi.
     - Thơ thế này còn khó đăng hơn cả thơ thất tình.
     - A, đọc rồi hả? Cậu lại sắp tái bản những lời răn cũ rích ấy. Tớ đã bảo, tớ làm thơ chơi thôi, ham hố danh lợi gì mà đăng báo cho rắc rối cuộc đời
    -Cậu có nghĩ rằng vài chục năm nữa người ta sẽ đăng thơ cậu không?
    -Cũng có thể lắm chứ. Tuy nhiên, khi làm thơ tớ không hề nghĩ tới in ấn dù là ngay bây giờ hoặc mai sau.
        - vậy cậu làm thơ làm gì?
       - Ngày xưa khi chưa có báo chí, xuất bản, có ai hỏi cụ Nguyễn Du như vậy không? Tất nhiên tớ không có ý so tớ với cụ Nguyễn Du...
       Hồng Loan khen tôi pha cà phê rất ngon để lảng chuyện. Tôi ngồi ngẩn ngơ trong tiếng nhạc êm dịu làm căn phòng sang trọng hẳn trong ánh sáng dịu của chùm đèn tỏa xuống bộ salông bọc da, hình hoa văn rối mắt trên tấm thảm len trải trên nền gạch men, những bông hồng nhung mơn mởn trong bát sứ trắng.
    “Cái đói dồn về ga,
Chúng ta thì như thế...
Đúng như thế đấy, no nê, thừa thãi, lang thang, chán chường với những dằn vặt xa xỉ, chúng ta như thế đấy, nhưng còn biết làm sao ?

(*) “Trong khi chờ đợi Godot”, kịch phi lý của Samuel Beckett.

                                        (còn nữa)

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

GỬI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

                              

               “ Điều khốn nạn là chỉ khi máu đổ
                  Đảo mới gần mới thật đảo của ta”


                                                                Ảnh Uyên Vũ

Xin nói ngay hai câu thơ này là của nhà thơ Đỗ Nam Cao viết vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 khi Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma bắn chìm 2 tàu hải quân , giết hại 64 chiến sĩ ta. Hai mươi  ba năm sau, ngày 11-11-2011, anh mất vì bạo bệnh .
Mới đây vào gần nửa đêm, tôi đang coi tivi chiếu nhà thơ  Nguyễn Thụy Kha nói chuyện “hương xưa” , bất chợt điện thoại hiện tên anh gọi, tôi trả lời :
“ Thiêng thế, tớ đang coi cậu bốc phét trên VTC đây…”
Tiếng anh cười :
“ Tớ gọi không phải chuyện đó. Sáng chủ nhật 19 -2- 2012 nhớ về Sàigòn dự ra mắt tập thơ Đỗ Nam Cao tại xưởng họa của  Lê Quân …”
Hôm đó, mắc dầu ông chủ tiệc Lê Quân tuyên bố “đây không phải Hội nhà văn” nhưng thấy  ông Chủ tịch Hội nhà văn TP HCM, ông đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc, các nhà báo, bạn bè Đỗ Nam Cao như nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, nhà thơ Lê Xuân Đố, nhà thơ Thanh Tùng, ông chủ nhà hàng Lotus Phạm Lân các nhà thơ trẻ như Bùi Chát, Uyên Vũ , Trịnh Sơn…nhưng lại vắng bạn thân của Đỗ Nam Cao như Lưu Trọng Văn, Hà Phương, Nguyễn thị Hồng ….
Đỗ Nam Cao xuất thân gia đình cách mạng, tốt nghiệp Tổng hợp văn, đi B, làm công tác văn nghệ, sau đó công tác tại đài phát thanh TP HCM…Lẽ ra là Hội viên văn nghệ giải phóng như anh, sau 1975 đương nhiên là Hội viên Hội nhà văn VN như nhiều người khác, không hiểu sao người ta quên anh, mãi tới 2010 trong cuộc nhậu Thanh Thảo mới biết chuyện đó và nói anh phải vào hội.
Đỗ Nam Cao ra Hànội hỏi ý kiến nhà văn Hoàng Quốc Hải, ông trả lời :
” Hội nhà văn ngày nay cũng đã…hết thiêng rồi. Nhưng cứ vào để có điều kiện gặp gỡ bạn bè…”
Lúc đó Đỗ Nam Cao mới chính thức là hội viên và kịp dự đại hội nhà văn VN lần 8. Lẽ ra với lý lịch và thành tích công tác vậy, nếu là người khác, hẳn Đỗ Nam Cao thừa sức ngồi ghế chủ báo, chủ xuất bản, nhưng không, anh không bon chen, đòi hỏi gì hết, cứ lặng lẽ làm việc như một công chức mẫn cán.
Những năm1978-1980. do chủ trương ngăn sông cấm chợ của Trung ương, Sàigòn thiếu gạo trầm trọng. Ông  Sáu Dân tức Võ Văn Kiệt lúc đó lả Bí thư thành ủy không chịu để dân đói chấp nhận để bà Nguyễn thị Ráo tức  Ba Thi liên hệ với địa phương mua gạo, xin phép chở về Sàigòn thu tiền về và quay vòng tiếp theo. Để đảm bảo an toàn cho việc “xé rào” , Sở tài chánh  cử cán bộ đi cùng làm kế toán, ngân hàng cử cán bộ giữ và chi tiền mặt, còn bà Ba Thi phụ trách chung, gọi là tổ trưởng “Tổ thu mua lúa gạo” (có người gọi đùa là tổ buôn lậu gạo).
Bà Ba Thi nói : “Làm cách này thì chúng tôi làm được, nhưng nếu Trung ương biết là đi tù đó”. ông Sáu Dân vừa nói vừa cười: “Nếu do việc này mà anh chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi”. Một câu tuyên bố như một lời thề mà nhiều người đến nay vẫn thường hay nhắc lại.
Nhưng hỡi ôi, dân gian đã có câu :
“ gió đưa cây cải về trời
rau răm ở lại chịu đời đắng cay…”
Sang năm 1980 người đi tù không phải bà Ba Thi mà là lính của bà : chị Trần Thu Hồng, nguyên nữ chiến sĩ biệt động, tù Côn Đảo và là phu nhân của nhà thơ Đỗ Nam Cao làm “phận rau răm” “chịu đời đắng cay” cho “cây cải lên trời”.
Suốt 10 năm trời Đỗ Nam Cao chật vật mưu sinh thăm nuôi vợ, gõ cửa này cửa nọ kêu oan cứu vợ khỏi vòng lao lý, mãi tới năm 2003 vợ chồng mới được đoàn tụ. Đỗ Nam Cao trở thành như Jean Valjean trong xã hội cộng sản và lạ thay đời toàn của đắng thế mà anh cứ sống điềm đạm, cứ cười hồn hậu, cứ lặng lẽ cam chịu sự trớ trêu của số phận , không oán thán và chẳng hiểu “mắt của trời” ở đâu để rồi  bạo bệnh lại rơi vào chính anh?
Sống một cuộc đời như thế nên thơ Đỗ Nam Cao :
“ Thơ tôi khổ qua mướp đắng
Xù xì gai góc sầu riêng một nỗi
Thơ tôi đọc nổi da gà
Mượt mà mướt mà cỏ gấu
Đắng cay dấu dưới tầng sâu
Bùn nâu đội đầu mầm thóc
Thơ tôi phát khóc
Mỗi khi chực cười…”
Thơ Đỗ Nam Cao đã in thành tập dầy 256 trang NXB Hội nhà văn gồm các phần “ Những cánh cò lửa “, “Dính” (viết trong chiến tranh ), “Thơ sau năm 2000” với rất nhiều lời bình của bè bạn.
Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha :
Đỗ Nam Cao viết :
“ Mưa rào rạc nước cá rô
Tôi bơi ngược đến kiệt khô sức mình
Sống là trống thúc thình thình
Chết vác vai những cột đình gốc đa…”
Suốt cả một kiếp người Đỗ Nam Cao khi sống luôn là “trống thúc “ nhưng ước muốn khi chết được vác vai “những cột đình gốc đa”.Có lẽ anh đã làm được như thế trong tâm tưởng cho miền quê nơi châu thổ sông Hồng của anh, cũng góp sức nhỏ nhoi cho nền thi ca nước nhà. Như thế không bao giờ mất được, phải không Đỗ Nam Cao…”
Nhà thơ ThanhThảo :
“ Thơ Cao đi vào những góc nhỏ , những vệ đường, dừng lại ở một hốc cây, ở từng khoảnh khắc bình dị. Đó là thơ không  tham vọng  nhưng hy vọng . Đó là thơ tinh tế trong từng chi tiết nhỏ nhoi, nâng niu những gì có thể ngay lập tức tan biến. Thơ Đỗ Nam Cao bình dị như vậy và cứ như vậy nó bất chợt “dính”  vào ta  lúc nào không hay .
Nhà thơ Nguyễn thị Hồng :
“ Đắm mình trong cỏ
Đắm mình trong thu
Đắm mình
Bật thành thơ
Rung bất tận
         với người”
và còn nhiều bạn của Đỗ Nam Cao nữa : Phan Trung Hoài, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Thông, Đỗ Quang Hạnh, Hoài Anh, Nguyễn Thế Khoa , Phạm Phù Sa, Bùi Nguyên Hương…
Vậy nhưng nói bao nhiêu cũng chỉ thế thôi, “ rau răm chịu đời đắng cay” Đỗ Nam Cao cũng đã về trời rồi và để lại …thơ.
Ngay trước khi mất, Đỗ Nam Cao đọc cho Lưu Trọng Văn ghi lại bài thơ cuối cùng của anh :

“ Có không trong cõi vĩnh hằng
Có cô cắt cỏ với trăng lưỡi liềm
Có không trong cõi thần tiên
Rượu ngon lại uống bạn hiền lại chơi
Chỉ còn sờ sợ chút thôi
Có thơ không để tôi rơi xuống trần…”

Đọc thơ Đỗ Nam Cao chợt nhớ tới một bài haiku Nhật Bản  :
“ Hoa mimosa trên hàng dậu…”
Vâng, hãy cứ để bông hoa kia trên hàng dậu , lặng ngắm nó, ta là hoa, hoa là ta, ta sẽ hiểu được hoa và hiểu được ta. Xin đừng ngắt hoa, bẻ cánh, bẻ nụ, cho vào phòng thí nghiệm với kính hiển vi, như thế ta sẽ chỉ được”xác nó” chứ không phải là nó.
Thơ Đỗ Nam Cao cũng vậy, mọi phân tich, mổ xẻ theo kiểu “ta và nó”  hồn thơ anh sẽ bay mất. Tuy nhiên trong cả tập cũng có thể dễ lựa ra những bài hay: rượu thủy tinh, Trường ca cô cắt cỏ…
Sang năm 2012 nếu Hội nhà văn VN trao giải thưởng thơ cho Đỗ Nam Cao thì không chỉ vinh danh nhà thơ mà còn làm sang cho chính mình.

21-2-2012


Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (8)


                             

                           (tiếp theo)
Trời tối hẳn, toàn thân mệt mỏi tôi mới ngồi vào mâm cơm . Anh ân cần gắp cho tôi những miếng ngon nhất. Vào lúc khác tôi có thể cảm động, nhưng lúc này  tôi chỉ khó chịu.
      - Anh cứ ăn đi, mặc em.
      - Em sao thế?
      - Không sao cả.
      Tôi cúi xuống và cơm vào miệng, cố ngăn không cho nước mắt trào ra. Không, tôi giữ được, nhất định không được khóc vào lúc này : trong bữa ăn và ngay trước mặt anh. Thông thường, những lúc này, tôi bắt đầu óc mình nghĩ sang chuyện khác thật hài hước hoặc thật xa xôi chẳng ăn nhập gì tới cái đang diễn ra. Phải rồi, hôm nay Hồng Loan kể chuyện một anh chàng si tình cứ nhè vào lúc tivi chiếu phim mới gọi điện thoại tới để ông bà bô mải xem mặc con gái tự do trò chuyện. Allô, Hồng Loan đấy phải không ? Không, tôi là mẹ cháu đây, anh hỏi gì ? Anh chàng đặt máy xuống cộp một cái làm Hồng Loan rũ ra cười.
      - Hôm nay em đi những đâu ?
      - Không đi đâu cả.
      - Sao anh đến cơ quan không thấy?
      - Chắc em đang Thư viện quốc gia.
      - Anh cũng đến đó tìm em khắp các phòng.
      -Lần sau anh đừng tìm em như thế nữa.
      Tôi trừng mắt lên và cũng như những lần khác, rất biết kiềm chế, anh dừng lại đúng lúc, chẹn giữ cơn giận của tôi và tôi chỉ còn cách nuốt vào nó cổ họng, mang theo lên giường, thả màn xuống với ý nghĩ nó sẽ được giải tỏa vào giấc mơ.


5.


      Trong đêm khuya, tôi thức giấc và chẳng hiểu sao tôi bỗng nhớ tới căn phòng riêng đằng nhà mẹ vẫn khóa kín từ ngày tôi đi lấy chồng. Nhắm mắt, tôi hình dung ra con búp bê da đen, có mớ tóc rất dài chắc vẫn ngồi trên bàn viết giơ hai tay chờ tôi trong đêm vắng, tội nghiệp, lâu rồi tôi không về bế nó, chiếc giá sách hẳn là bám vài lớp bụi dày, cũng lâu rồi tôi không thêm cho nó được cuốn sách mới nào, thế giới riêng của tôi đó, với tôi như bảo tàng của quá khứ, tuổi nhà trẻ, tuổi phổ thông, tuổi đại học tôi đều trải qua trong căn phòng đó, đôi khi trở về, tôi như được sống lại những ngày xa xưa chẳng giống chút nào với cái tôi đang sống.
      - Mình nên sống xa nhau một thời gian, anh cứ ở lại đây, em về nhà mẹ...
      Anh tròn mắt kinh ngạc khi mấy ngày sau nghe tôi nói thế, điều đó với anh có nghĩa trong quan hệ vợ chồng đã xảy ra rạn nứt. Anh hốt hoảng hỏi dồn tôi đủ thứ để biết cho được vì sao tôi nảy ra ý nghĩ kỳ quặc thế. Tôi nói chẳng có chuyện gì cả, tôi thích vậy và nói chung anh không nên quan trọng hóa mọi thứ trên đời.
“Cô ích kỷ lắm, lúc nào cô cũng chỉ nghĩ tới cái ý thích riêng của cô thôi...”
Và thế là cái việc tôi trở về nhà mẹ ít hôm lẽ ra rất nhẹ nhàng, vui vẻ, hóa ra lại trở thành hậu quả của trận cãi cọ kịch liệt, cả hai đều mất khả năng kiềm chế như mọi ngày để tuôn ra những lời lẽ bóc trần nhau cứ như quỷ ám, không còn là mình nữa.
Đạp xe khỏi nhà với túi quần áo buộc đằng sau, tôi bỗng hết cả hứng thú trở về nhà mẹ, mọi dự định trong mấy ngày tới sống một mình trong phòng riêng tan đi hết, tôi cứ lang thang phố này sang phố khác, chẳng có chủ đích gì và sau cùng chân tay mỏi rã rời, tôi đã thấy mình đứng trước nhà Hồng Loan.
Nó ra mở cửa tíu tít đón tôi vào, mừng rỡ khi biết tôi có ý định ở với nó ít ngày.
“May quá, ông bô bà bô đang nghỉ mát dài dài, tớ ở nhà một mình buồn muốn phát điên lên đây. Nhưng cậu làm sao thế, cãi nhau với chồng hả?”.
Tôi vứt túi quần áo vào góc buồng, không trả lời, ném người lên giường, buông một câu ngắn ngủn: “tớ ngủ”. Tội nghiệp Hồng Loan, nó cụt hứng, đứng ngây ra ở đầu giường, há mồm nhìn tôi cứ như mới từ trên trời rơi xuống. Mặc kệ, tôi phải ngủ cái đã.
      Hồng Loan kéo màn gió, khép nhẹ cánh cửa, bước khỏi phòng để tôi ngủ yên. Trong bóng tối lờ mờ, tiếng quạt quay nhẹ, tôi cố dìm sâu mọi ý nghĩ đang có chiều hướng phanh phui, phân tích, mổ xẻ con người mình dưới ánh sáng tỉnh táo của lý trí, một việc xưa nay tôi rất ghét. Tôi là thế nào? Tôi đã làm được những gì? Tôi đang hướng đi đâu? Ôi, những câu hỏi thực khó chịu , cũ kỹ, đầy phiền muộn không hiểu sao như những con đỉa đói bám riết trong đầu, hút ra bao nhiêu là ý nghĩ trái ngược nhau, cái này phủ định cái kia, sau cùng chỉ còn một mớ rối bòng bong làm tôi phát mệt vì cáu kỉnh.
Phải làm gì đó thoát khỏi trạng thái khó chịu này đi, tôi ngồi nhỏm dậy, bò gối trên giường và mặt tôi phải ngớ ngẩn lắm nên khi Hồng Loan bước vào mới phì cười.
      - Sao nhăn nhó như khỉ ăn ớt thế kia? Không ngủ nữa hả?
      - Lại đây, lại đây...
      Nó ngập ngừng bước tới, e dè cứ như thể tôi là con yêu râu xanh lăm le ăn thịt nó. Tôi kéo cái thân hình chắc nịch trong váy mỏng của nó, vuốt ve làn da mát mẻ, xuýt xoa tiếc cho chính mình đã có một thời như thế.
      - Đừng lấy chồng cậu ạ, tớ khuyên cậu đừng nên lấy chồng...
Tôi lập lại đúng câu Hồng Loan khuyên tôi ngày trước làm nó rũ ra cười. Nó vặn vẹo tôi đủ điều về đời sống vợ chồng mà vẫn chưa hết thắc mắc vì sao tôi lại đùng đùng xách túi quần áo đến ở với nó. May có tiếng chuông điện thoại réo lên ở phòng ngoài, không thì tôi còn khổ vì những câu hỏi lẩn thẩn của nó. Chắc hẳn cô nàng đã nhắm được anh chàng nào nên muốn học hỏi kinh nghiệm làm vợ để “bảo vệ hạnh phúc gia đình” tương lai. Vậy cái anh chàng tốt phước đó là như thế nào ! Một cô phóng viên duyên dáng, trẻ trung, xinh đẹp, một ông bố cán bộ cấp cao, một dinh cơ sang trọng và tiện nghi sẵn sàng đón một chàng đến “ở rể” với cô con gái rượu... chà, anh nào nhảy được vào nhà này hẳn phải khéo tu từ ba kiếp trước.
      - Tớ sắp có khách, - Hồng Loan bước vào báo tin.
      - Hắn phải không?
      - Không, không, bạn thôi, một anh chàng họa sĩ trình bày báo.
      Nó dục tôi sửa soạn tiếp khách với nó. Thôi cũng được, tán gẫu cho qua hết một tối vô vị. Tôi miễn cưỡng trở dậy, trang điểm qua loa, theo Hồng Loan ra phòng khách. Nó hứa với tôi đó là anh chàng rất hay, một kẻ sáng tạo luôn luôn hành trình, một chàng si tình sẵn sàng quỳ gối hiến dâng cho người yêu toàn bộ sự nghiệp.
Quả thực, tôi không am hiểu nhiều về hội họa, bởi vậy thật chẳng thú vị gì khi anh ta tới ôm theo một cái cặp rất to, chuyện trò mới dăm ba câu đã hăm hở bày ra la liệt trên bàn những bức tranh anh mới vẽ.
Chao ôi, thế này là tranh ấy ư, nom chúng giống tiêu bản các loại vi khuẩn  nhìn qua kính hiển vi thì đúng hơn. Một hình hơi tròn, một hình ống dài, một hình nón cụt... tôi để ý có chừng non một chục hình được sắp xếp khác nhau qua mỗi bức tranh. Tôi cứ trợn ngược mắt cố tìm ra một ý nghĩa nào đó trong “những tiêu bản của những con vi khuẩn” kia.
      - Chịu, tôi không thể hiểu được anh định vẽ cái gì?
      Chàng họa sĩ liếc nhìn Hồng Loan với ánh mắt đồng lõa vẻ như muốn nói một con ngốc như tôi hiểu sao được nghệ thuật cao siêu. Sợ tôi phật ý, Hồng Loan vội vàng giảng giải:
      - Đây là những bức Hoàng Minh vẽ thể nghiệm. Anh đang đi tìm một ngôn ngữ mới cho hội họa.
      Tôi nhìn chòng chọc vào Hồng Loan cố hiểu xem nó đang nói thực bụng hay là bỡn cợt chàng họa sĩ “tiền phong”. Lạ thật, không lẽ Hồng Loan cũng tin   cái trò điên khùng này sao? Hay sau hơn một năm chúi mũi vào tổ ấm gia đình, tôi đã quá lạc hậu với đời sống nghệ thuật? Dẫu sao, cái nhìn của Hoàng Minh vẫn làm tôi nóng mặt:
      - Có thể tôi chưa cảm nhận được cái cao siêu trong tìm tòi của anh, nhưng tôi thấy ở ta họa sĩ trẻ chưa vẽ thạo được “người”, đã nhảy sang vẽ “ma”...
      Câu nói móc của tôi không lay chuyển được vẻ tự tin của chàng họa sĩ, anh ta nở một nụ cười lịch sự:
      - Vậy hôm nào tiện, xin phép Kiều Vân cho tôi được vẽ chân dung.
      Hồng Loan reo lên:
      - Phải đấy, anh thử vẽ Vân một bức sơn dầu đi, vẻ mặt nó cũng đầy bí ẩn như “Người đàn bà không quen biết” trong tranh của Kramskôi đấy.
      - Loan nhận xét rất tinh, ngay từ lúc tới đây, tôi đã nhận thấy ở Vân một vẻ gì đó rất khó thể hiện.
      Chà, cái anh chàng  “nhãi ranh” này thật khôn khéo, một mũi tên nhằm tới được cả hai cô bạn gái. Quả thực cả hai chúng tôi đều không ngăn được nỗi sung sướng làm nở nang cả mặt mày. Táo tợn hơn, anh ta còn lôi giấy bút trong cặp ra, nhìn tôi một cách thẳng thắn và xin vẽ tặng tôi một bức ký họa. Tôi cứ để mặc anh lôi bừa vào trò vẽ vời, không phản đối và cũng không sửa đổi lại thế ngồi cho có tính cách “tạo hình” hơn. Và rồi tôi chợt rùng mình khi bắt gặp cái nhìn của anh, một cái nhìn rất lạ, không biểu lộ cảm xúc, lạnh lùng và xa vắng, một cái nhìn “vô ngã”. Tôi cố trấn tĩnh không để lộ bối rối , nói một điều bâng quơ với Hồng Loan để tỏ ra không quan tâm tới việc anh đang nhìn tôi và truyền “cái nhìn” đó xuống bàn tay đang nguệch ngoạc trên trang giấy. Chắc anh chàng sẽ tìm thấy trên mặt mình toàn những hình tròn và hình ống để rồi lát nữa lại chìa ra cho xem một bức “tiêu bản vi khuẩn” như mớ tranh anh vẽ kia. Hồng Loan đứng dậy, vòng ra sau mở máy cassette. Tiếng nhạc từ hai thùng loa Akai gieo nhẹ những âm thanh trầm buồn rồi tức khắc chiếm lĩnh toàn bộ căn buồng bằng tiếng trompette vút lên trên nền bộ gõ phá vỡ cái lệt bệt, uể oải đang đè nặng trong tôi, khiến tay chân ngứa ngáy chỉ muốn đứng phắt ngay dậy, ôm một người nào đó quay tròn theo tiếng nhạc. Sự biến đổi đó ắt hẳn phải bày ra hết trên gương mặt tôi làm cái nhìn của Hoàng Minh ánh lên ranh mãnh và tôi bỗng tò mò muốn biết anh có thể hiện được nó trên giấy không, nó như thế nào, cái ngôn ngữ “hình tròn và hình ống” ấy liệu có thể biểu đạt được những biến đổi tế vi ấy chăng?

                       (còn tiếp)
     

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

NHÂN 33 NĂM TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VIỆT NAM

 
                                            
   Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải
                                           

  Có thể nói nhà văn Hoàng Quốc Hải là con người của lịch sử. Từ năm 1993, bộ tiểu thuyết lịch sử gồm 4 tập: "Bão táp cung đình", "Huyền Trân công chúa", "Thăng Long nổi giận" và "Vương triều sụp đổ" của ong đã ra mắt đọc giả. Bộ tiểu thuyết đã được trao giải "Bùi Xuân Phái - vì tình yêu Hà Nội" (2008). Tiếp theo ông viết thêm hai tập: "Đuổi quân Mông - Thát" (chống giặc Nguyên - Mông lần I) và "Huyết chiến Bạch Đằng" (chống giặc Nguyên - Mông lần thứ III) làm thành bộ "Bão táp triều Trần" gồm 6 tập (2.928 trang in khổ 14,15 x 20,5cm).
Tiếp theo nhà Trần, ròng rã 20 năm trời ông lại lội dòng lịch sử về nhà Lý với bộ tiểu thuyết 4 tập: "Thiền sư dựng nước", "Con ngựa nhà Phật", "Bình bắc dẹp nam", "Con đường định mệnh" dày 3.514 trang in khổ 14,5 x 20,5cm.
Cho dù ngược dòng lịch sử, ông vẫn đau đáu lo đến vận nước hôm nay và mai sau. Nhân kỷ niệm 33 năm ngày Trung Quốc tấn công biên giới VN ( 17-2-1979/ 17-2-2012) tôi có cuộc trò chuyện với ông về chủ đề này.

* Thưa nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhân kỷ niệm 33 năm ngày Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Xin anh cho biết tình hữu nghị  “môi rằng” Việt Nam – Trung Quốc” vào thời  gian trước chiến tranh.

NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI : “Từ năm 1977, quan hệ hai nước đã căng thẳng, nhiều chương trình viện trợ đình hoãn, các công trình xây dựng tiến độ rất chậm và chấm dứt đột ngột. Chỉ dấu đầu tiên tôi nhận thấy trên sân Hàng Đẫy đội bóng của tỉnh Cát Lâm hay Vũ Hán gì đó đấu giao hữu với đội Thể Công của ta.
         Mới ra sân trông sắc mặt các cẩu thủ bạn đều đằng đằng sát khí. Và sau khi thủ môn bạn phải vào lưới nhặt bóng lần thứ hai thì hầu như các cầu thủ bạn đều bỏ bóng đá người. Trận đấu phải dừng lại nhiều lần, phía Việt Nam xử lý rất đàng hoàng, khán giả không la ó, không tràn xuống sân cỏ mà chỉ vỗ tay và cười òa. Đây là trận bóng đá xấu nhất, bạo lực nhất mà tôi được thấy trên sân cỏ. Chỉ nhìn cách hành động của cẩu thủ Trung Quốc thể hiện trên sân cỏ qua gương mặt và đôi chân của họ, tôi hình dung đầy dủ nền ngoại giao đại Hán từ cổ xưa vẫn chưa có gì thay đổi. Nên nhớ vào các thập niên 60-70 của thế kỷ trước có ba thứ của Trung Quốc mà người Hà Nội không xài được đó là bóng đá, phim ảnh và văn chương. Tôi nhớ mỗi khi tổ chức “ Tuần lễ phim Trung Quốc” thì ban tổ chức phải ép cán bộ đi xem kiểu như bắt phu, bắt lính vậy. Bởi buổi khai mạc có Đại sứ Trung Quốc đến dự. Các buổi sau rạp sáng đèn, mở cửa cho người vào xem tự do, nhưng tuyệt nhiên không có một khách nào ngồi trước màn ảnh.
         Chỉ dấu thứ hai là cây cầu Thăng Long do phía Trung Quốc giúp ta xây dựng, theo mẫu thiết kế cầu Trường Giang mà Liên Xô làm giúp Trung Quốc, mới đổ trụ thứ 9 chưa xong thì họ rút toàn bộ thiết bị và chuyên gia về nước. Nom dòng sông với mấy cột trụ trơ vơ giữa dòng nước như các dấu chấm than,  người Việt Nam đều thở dài ngao ngán:” cái tình hữu nghị môi răng này có nguy cơ răng sắp cắn đứt môi rồi”.
          Trên biên giới thì từ Lạng Sơn đến Cao Bằng luôn xảy ra các vụ tranh chấp đất đai, cường độ ngày một tăng một quyết liệt hơn. Sự thực là họ đẩy dân sang cản trở phía ta cầy cấy, gặt hái và nhận bừa rằng đó là đất của họ. Phần nhiều số dân này là do lính đóng giả. Bà con địa phương bên ta nhẵn mặt dân bên kia nên họ thường xuyên bị bên ta vạch mặt.
          Thế rồi từng dòng người gốc Hoa từ các nơi lũ lượt bỏ Việt Nam về Trung Hoa ùn tắc ở các cửa khẩu như Nam Quan, Chi Ma, Thanh Thủy, Trà Lĩnh… Đông nhất vẫn là cửa Nam Quan, thường xuyên ùn ứ tới vài ba ngàn người ăn ở phóng uế bừa bãi, bẩn thỉu. Tuy vậy phía Trung Quốc chỉ mở cửa nhận người nhỏ giọt . Hàng ngày hai bên đấu khẩu tố cáo nhau bằng loa phóng thanh công suất cao nghe oang oang như sắp vỡ trời.
           Đó là những biểu hiện bên ngoài mà người dân thường cũng biết. Còn bên trong thì Trung Quốc đã chuẩn bị chiến tranh biên giới từ 1976-1977. Cho tới 1978 thì các con đường chiến lược , hầm hào, lương thảo cũng như điều động quân đội từ các quân khu Đông bắc về áp sát biên giới Trung – Việt, họ đã làm xong.
         Phía ta tuy biết âm mưu của Trung Quốc cũng chuẩn bị đối phó. Hình như ta đánh giá đối phương hơi thấp nên khi cuộc chiến nổ ra ta vừa bị bất ngờ, vừa không đủ lực lượng cản giặc theo ý muốn.

* Khi chiến tranh nổ ra, anh đang ở Lạng Sơn , xin anh cho biết sơ qua diễn biến  cuộc chiến…

NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI : Theo chỗ tôi được biết thì quân Trung Quốc tràn vào nước ta bằng các con đường truyền  thống mà các đội quân xâm lược từ phương bắc đã đi, ví dụ mũi chính chúng thường kéo quân vào là ải Pha Lũy ( tức cửa Nam Quan) tại Lạng Sơn. Mũi vượt sông Bắc Luân vào Móng Cái( Quảng Ninh). Đường qua Qui Hóa giang ( tức sông Hồng) tiến vào Lao Cai. Đường qua Quảng Nguyên( tức cửa Trà Lĩnh) mà vào Cao Bằng. Tổng số quân giặc điều động xâm lược 6 tỉnh biên giới nước ta theo tài liệu phía Trung Quốc là hơn 300.000 quân. Các đài nước ngoài nói con số đó ít hơn so với thực tế. Có nơi giặc vào đất ta từ 3 giờ sáng. Nói chung mũi nào muộn nhất là 5 giờ sáng. Có một điều cần lưu tâm , tất cả các mũi tiến quân của giặc vào biên giới nước ta,nơi có bộ đội đóng chốt thì từ chốt 3 người đến chốt một tiểu đội, một trung đội…đều có kẻ dẫn đường. Dường như tất cả bọn nội gián là dân “ khách trú”, tức người Hoa đã sinh sống lâu đời tại Việt Nam.
        Các chiến sĩ trên tuyến biên giới mà tôi gặp đều nói là giặc đánh bất ngờ. Bởi ta dự báo là giặc có thể đánh vào dịp tết Nguyên đán, nên báo động toàn tuyến, cảnh giác rất cao. Và khi ta vừa rút lệnh báo động vào ngày 15 thì sớm 17 giặc ập vào. Khi vào, giặc tiến rất dễ dàng, nhưng khi có báo động, bộ đội ta đánh trả quyết liệt. Đối phương dùng chiến lược biển người, cứ lớp này ngã, lớp khác xông lên và kèn thổi thôi thúc phía sau lưng, ai chứng kiến đều thấy cuộc chiến diễn ra như thời trung cổ.
        Tuy nhiên, vì rút lệnh báo động đặc biệt nên các đơn vị chiến đấu, cơ số đạn dược đều có hạn, mặc dù giặc chết nhiều nhưng phía ta vẫn cứ phải lui dần vì hết đạn.
        Vào các ngày sau yếu tố bất ngờ không còn nữa, dối phương bị chặn từ khắp các ngả. mặc dù lực lượng không cân bằng, toàn tuyến của ta chỉ có quân đoàn 1 của tướng Hoàng Đan chiến đấu cực kỳ dũng cảm. Quân ta về vũ khí khí tài hơn hẳn quân giặc, kinh nghiệm chiến đấu già dặn hơn, và chống quân xâm lược phương Bắc thường là chất men xúc tác cho lòng yêu nước của mỗi con em Lạc Hồng.
        Tới khi ta điều thêm quân từ phía Nam ra định tiêu diệt gọn quân xâm lược, thì không thám của Hoa Kỳ báo cho Đặng Tiểu Bình biết, giặc tháo chạy trong đêm và hôm sau thì tuyên bố rút quân.

* Những ấn tượng của anh về quân ta và quân địch trong chiến đâu ?”
NHÀ VĂN HÀNG QUỐC HẢI : “Trong thời điểm diễn biến chiến trận quân ta vẫn là lấy ít địch nhiều, tuy lực lương không cân sức nhưng tinh thần chiến đấu cực kỳ quả cảm và mưu thuật dụ địch, lừa địch diệt địch thì biến ảo khôn lường. Tôi ví dụ chốt cầu Khánh Khê ( Lạng Sơn) chỉ có hai trung đội, nhưng tổng số giặc bị giết trên tuyến này phải kể tới hàng ngàn, vậy mà tới khi phải tháo chạy, giặc vẫn không qua nổi cầu.
          Một ấn tượng nhất với tôi là khi tiếng súng vừa ngớt, tức là giặc tan, chúng tôi điện xin lên thăm anh em bộ đội. Tướng Hoàng Đan vui vẻ nhận lời và giao việc tiếp đón cho đơn vị trực tiếp chiến đấu cản giặc xung quanh khu vực từ Đồng Đăng tới Thất Khê trong đó có Khánh Khê. Khoảng 3 giờ chiều chúng tôi có mặt. Đoàn chúng tôi là đoàn của Bộ Văn hóa chứ không phải của hội đoàn nào cả.
         Điều làm tôi ngạc nhiên là phòng tiếp khách bài trí tuy sơ sài nhưng hết sức ấm cúng, không những thế lại vẫn có một cành đào đang nở cắm ở góc phòng khiến bọn tôi có cảm giác Tết vẫn còn mặc dù mở cửa ra ngoài ta vẫn còn thấy khét mùi thuốc súng, và mỗi khi có cơn gió thoáng qua thì mùi xác thối của quân giặc còn bỏ lại làm tanh lợm và khăn khẳn như mùi chuột chết vây bủa khắp không gian. Và khi đoàn chúng tôi có một cô nữ tiến vào thì một cử chỉ làm tôi kinh ngạc, vị đại tá trẻ măng không biết ông lấy từ đâu một bó hoa lay ơn trắng bó rất khéo trao tặng.
          Ngồi cạnh, tôi hỏi ông về lai lịch bó hoa. Vị đại tá dân Hàng Đào Hà Nội mỉm cười đáp:” Từ chiều qua, tôi cho quân về Đồng Đăng tìm vào các nhà dân hái”
        - Vậy anh không sợ lính chết vì mìn giặc gài lại à?
Ông đại tá đáp khẽ:” Phải có công binh dò mìn trước khi hái chứ”.
          Về việc giặc gài mìn lại thì Vương Quốc Hiến một kẻ từng tham gia xâm lược nước ta 1979 thú nhận trên mạng Hoàn cầu thời báo: “ Trước khi rút quân Trung Quốc còn gài 10 triệu trái mìn tại các tỉnh biên giới Việt Nam”.
           Thật tình ấn tượng về vị đại tá và bó hoa lay ơn trắng trong cuộc gặp gỡ ở Khánh Khê vẫn còn in sâu trong óc não tôi sau 33 năm chống quân xâm lược phương Bắc.
    * Nhìn lại cuộc chiến tranh biên giới, anh có thể rút ra những nhận định khái quát về quan hệ giữa VN và TQ trong quá khứ - hiện tại – tương lai.
NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI :” Quan hệ Việt Nam- Trung Quốc từ cổ xưa tới nay vẫn là quan hệ láng giêng thôi. Làm sao có thể đổi khác được. Tuy nhiên, làm hàng xóm tốt hoặc trở nên cừu thù vẫn là do phía Trung Hoa quyết định .
           Tôi ví dụ có thời họ đối với ta cực tốt như từ 1956 tới 1968. Thậm chí họ đổi tên gọi “Ải Nam Quan” hoặc “Trấn Nam Quan” vào các thời Minh- Thanh thành “ Mục Nam Quan” tức là cái cửa thành hòa hiếu. Về phía ta thì tôn thành “ Hữu Nghị Quan”. Và các nhạc sĩ ta ca ngợi” Việt Nam- Trung Hoa núi liền núi sông liền sông…mối tình hữu nghị thắm như biển đông…”. Các nhà chính trị thì gọi” quan hệ Việt Nam – Trung Hoa thân thiết như môi với răng”. Trong “Nhật ký đường về” năm 1964, Tố Hữu trưởng ban Tuyên giáo trung ương sau khi sỉ vả khối Đông Âu xét lại, tới Trung Hoa ông viết:
                 “ Bắc Kinh tay chị tay anh triệu vòng
                    Bạn mừng ta những chiến công
                    Vui như tiền tuyến giữa lòng hậu phương…?
Thì bỗng nhiên độp một cái ngày 17 tháng 2 năm 1979 răng nghiến nát môi.
Hiện nay thì như mọi người đều biết, chính quyền Trung Hoa đang giương cao khẩu hiệu cũng tức là đối sách mơn trớn của họ là :” láng giêng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” mà họ gọi là 16 chữ vàng.
             Ta nên hiểu cái thâm ý “ổn định lâu dài” của người Trung Hoa là họ chờ thời đấy. Khi thời cơ đến thì họ lập tức chấm dứt ngay sự ổn định. Phương châm này đã được Đặng Tiểu Bình di ngôn:” Bình tĩnh quan sát,ứng xử hài hòa, giữ vững lập trường, che giấu năng lực, chờ đợi cơ hội, thực hiện những gì có thể”. Cơ hội của họ như ta thấy, năm 1949 họ tranh thủ chiếm một phần đảo Hoàng sa của ta.Năm 1974, họ chiếm nốt phần còn lại của đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam cộng hòa. Và năm 1988 họ chiếm một phần Trường Sa của ta nhằm lúc Liên Xô sắp sụp đổ.
            Tổ tiên ta từ xưa vẫn coi họa của nước thường đến từ phương Bắc. Và đối sách cực kỳ khôn ngoan có thể xem đối sách của nhà Lý, nhà Trần đối với phương Bắc như những bài học bang giao mang tính kinh điển.
             Nghĩa là muốn nói chuyện bình đẳng với đối phương thì thực lực ta phải mạnh và muốn mạnh thì phải khoan nới sức dân, phải đoàn kết được toàn dân muôn người như một. Nếu chia lòng cũng có nghĩa là tự sát, như trường hợp Hồ Quý Ly đối với dân cũng là một bài học xương máu.
            Phương lược ứng xử với phương Bắc từ các đời xưa là rất mềm dẻo.Mềm dẻo chứ không mềm nhũn. Rất nhún. Nhún chứ không nhường. Rất ôn nhu. Nhu chứ không nhược. Luôn coi trọng đối phương, nhưng lãnh thổ quốc gia và danh dự đất nước là nguyên tắc bất di bất dịch buộc đối phương phải tôn trọng.
            Nói tóm lại, bài học giữ nước; bài học bang giao từ thế hệ chúng ta và từ lịch sử để lại cực kỳ phong phú, có điều là ta có đủ trí tuệ và đủ can đảm, đủ liêm sỉ để thực hiện hay không. Suy cho cùng thì dân tộc nào học hỏi được kinh nghiệm từ lịch sử của chính dân tộc mình thì sẽ có trí khôn và sức mạnh gấp nhiều lần. Nhưng qua thực tế cho thấy bài học lớn nhất của lịch sử là người ta không chịu rút ra từ lịch sử những bài học.
* Câu sau chót :” liệu lịch sử có lặp lại một cuộc chiến biên giới như năm 1979. Bản lai diện mục của nó sẽ ra sao ? Kết cuộc thế nào ?”
NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI : “Tôi không có khả năng của một nhà dự báo hoặc một nhà tiên tri hoặc một vị thầy bói. Nhưng những gì đã diễn ra từ trong quá khứ và cả hiện nay thì ý đồ thôn tính Việt Nam là ý đồ thường trực trong giới cầm quyền Trung Hoa từ cổ chí kim. Và không gì làm họ thay đổi được. Nếu ta mạnh, ta phản công mãnh liệt gây cho họ sự kinh hoàng để dạ thì thời gian hưu chiến dài tới mấy trăm năm kia.
             Còn như muốn phát động một cuộc chiến tranh trong thế giới phẳng này thật không dễ, mặc dù họ mạnh và rất hung hăng. Tuy nhiên họ sẽ uy hiếp trên bộ và gậm nhấm biển Đông, và khi có thể họ sẽ úp ta trên biển. Hiện nay họ đang dụ ta vào cái vòng kim cô “16 chữ vàng”” đàm phán song phương” và cùng khai thác biển Đông với âm mưu “ Chủ quyền thuộc ngã, cách tri tranh luận, cộng đồng khai thác”. Nghĩa là gác mọi sự tranh cãi lại, hãy cùng nhau khai thác nguồn lợi đi, nhưng chủ quyền vẫn thuộc về tôi”
             Và nếu như họ muốn chứng minh với thế giới rằng họ chỉ” trỗi dậy trong hòa bình” thì họ phải thực thi đúng tinh thần 16 chữ vàng là trả lại quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam, trả lại các vùng đất lấn chiếm một cách xảo trá và tinh vi từ 1950 đến 1990 cho Việt Nam, còn phần đất do hiệp ước Pháp –Thanh , phía Pháp đã cắt cho Trung Hoa một cách đểu giả vì quyền lợi của thực dân Pháp, tạm gác lại bàn sau.
             Nếu Trung Quốc làm được việc đó thì không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đều đặt lòng tin vào họ, và đương nhiên họ xứng đáng đứng vào hàng các cường quốc lãnh đạo thế giới. Ngược lại, họ chỉ là kẻ xảo trá chân thực.
·        Cảm ơn anh.

                                               Hà Nội, 17.2.2012
                                                                                      


(Nhật Tuấn thực hiện)
















Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ? (KỲ 15)

            

              NHÀ THƠ BẰNG VIỆT :

Tôi không quen ông Bằng Việt, cũng chưa một lần “diện kiến”, bởi lẽ tôi và ông là hai giai tầng khác nhau.
Ông là con gia đình cách mạng, từ Huế sau khi ra Bắc, cụ thân sinh thoát ly lên Việt Bắc tham gia kháng chiến, mẹ tham gia hội phụ nữ, bởi vậy sau ngày Đảng, chính phủ về Hà nội, ông được đi Liên xô học luật. Còn tôi là học sinh “Hànội tạm chiếm”, những năm 60 khó vào đại học, phải đi lao động Tây Bắc. phấn đấu thành “thanh niên tích cực lao động XHCN” . Nếu ông là công dân hạng nhất thì  tôi hạng ba, bởi vậy khó gặp nhau.
Tuy nhiên cũng có lần tôi vinh dự được ông nói tới. Đó là vào năm 1979, nhà thơ Nông Quốc Chấn về làm GĐ NXB Văn học thay nhà phê bình Như Phong.
Sếp cũ vừa đi, sếp mới chưa về tôi đã “vạ miệng” làm sếp mới nổi trận lôi đình ký quyết định chuyển tôi lên Cao Bằng công tác. Vì tính chất “trù úm” quá rõ, tôi cương quyết chống lệnh không nhận quyết định.
Lúc đó nhà văn Nguyên Ngọc mới về làm Bí thư Đảng đoàn Hội nhà văn lóc cóc đạp xe lên Vụ tổ chức Bộ văn hóa xin chuyển tôi về tổ sáng tác, nhà văn Đào Vũ cũng xin tôi về báo Văn Nghệ…Thật hiếm khi nào Hội nhà văn “bệnh vực” hội viên mình tích cực như vậy. Tuy nhiên mọi can thiệp đó chỉ làm sếp mới nổi giận đùng đùng :” Vận động…anh Nhật Tuấn vận động, lôi kéo Hội nhà văn…” và khăng khăng không rút lại quyết định.
 Những ngày đó chuyện này thành cửa miệng tại các cơ quan xuất bản, báo chi. Tại NXB Tác phẩm mới, vào một buổi sáng nhà văn Nguyễn Khải kể chuyện này, nghe xong nhà thơ Bằng Việt buông một câu lạnh tanh:
” Đi Cao Bằng thì có gì phải làm rối chuyện lên thế ?”.
Lập tức Nguyễn Khải trỏ mặt Bằng Việt mắng :
” Vậy mai anh đi nhá ! “. - Tất nhiên nhà thơ cười hề hề.
Nhà thơ Bằng Việt hồi trẻ rất đẹp trai, nho nhã như nhà giáo, nói chuyện nhỏ nhẹ , có duyên làm nhiều cô chết mệt nên “tình sử” cũng phong phú có khi còn hơn Vũ Quần Phương. Tuy nhiên, chuyện đó cứ để trong dân gian, chưa nói tới. Thường thường, bác sĩ bỏ nghề y sang làm thơ thì chỉ được lộc thơ, riêng Bằng Việt bỏ nghề luật vẫn ăn lộc cả “lộc thơ” lẫn “lộc quan” là thứ “nghề luật” góp phần. Ông đã từng giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân TP Hà Nội, một chức to ở cái thành phố oai nhất nước. Nghe nói khi hay tin nhà thơ làm Phó Chủ tịch HĐND TP, dân oan kéo đến xin gặp ông nhiều lắm khiến tan sở ông phải “chuồn” cửa sau. Chuyện đó thời nay là chuyện thường ngày ở cửa quan, ngày xưa cha ông nói “quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”, chắc nay phải đổi thành “quan thấy …dân kiện như lươn thấy rắn”. Câu này chỉ có nghĩa quan giống như lươn tiết chất nhờn lủi mất mỗi khi gặp dân oan chứ tuyệt nhiên không dám ví dân là…rắn.
Ngoài chức bên chính quyền, nhà thơ Bằng Việt còn làm Chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn VN .Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội , Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Cùng với nhà thơ Hữu Thỉnh, ông là một trong hai hạt giống đỏ của Đảng trên mặt trận quản lý và lãnh đạo giới nhà văn, nhà thơ vốn là thành phần phức tạp nhất trong giới trí thức. Chẳng thế mà bất kỳ cuộc hội thảo thơ nào ở xứ ta, hai ông đều tới cầm càng hội nghị.
  Mang trọng trách Đảng tin cậy vậy, Bằng Việt phải “mẫu mực” cho giới cầm bút noi theo, nghĩa là suốt từ thủa cho ra lò “Bếp lửa”, ông đã làm không biết bao nhiêu thơ :
Những gương mặt - Những khoảng trời (Some faces and pieces of sky; 1973) - Đất sau mưa (1977)- Khoảng cách giữa lời (1984) - Cát sáng (1985) –Bếp lửa - Khoảng trời (Tập thơ) (1986) - Phía nửa mặt trăng chìm (1995) -Ném câu thơ vào gió (Tập thơ; Flying a verse with the wind; 2001)- Thơ trữ tình (2002) - Thơ Bằng Việt (Tập thơ), (2003)…
Làm nhiều vậy nhưng thơ ông tuyệt nhiên không một chút “tà khí” tức “bàng thống”, “phi chính thống” như nhà văn Huy Phương đã tổng kết :” tuyệt nhiên không nghe một tiếng thở dài”. Ngược lại, đôi khi thơ ông còn quá đà “mácxit hơn cả Đảng”.
 Trong bài thơ “ Rượu của Nguyễn Cao Kỳ “ có một chai rượu ông này gửi tới. Tất cả mọi người đều uống kể cả một ông tướng công an, trừ một anh lính phòng không :
“Đám đông ồn ào của chúng tôi cứ uống
Anh bạn chỉ ngồi im, cũng chẳng nói thêm gì,
Và bữa rượu bỗng dưng thành đắng đót”
Khơi ra chuyện này, người ta thấy nhà thơ có vẻ thông cảm với anh lính “ thù Mỹ ngụy muôn đời muôn kiếp không tan” , cứng ngắc hơn cả chủ trương  hòa hợp dân tộc của Đảng.
Chính vì “phò chính thống” , nhà thơ phải”tỉnh táo” như Y Nguyên phỏng vấn Bằng Việt trên báo Thanh Niên .
“Thường thì người sáng tác ít khi “tỉnh” để có thể phân tích một cách rành rẽ về quá trình sáng tạo của mình, nhưng ông thì ngược lại, tỉnh táo, thận trọng, khôn ngoan...”
Kết luận vậy thì đau cho nhà thơ biết bao. Tuy nhiên chính vậy nên  ông nhận được khá nhiều giải thưởng :
“Giải nhất về thơ của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1968)
“Giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình Liên Xô trao tặng năm 1982.”
“Giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam (2002)
“Giải thưởng văn học ASEAN 2003 cho tập thơ "Ném câu thơ vào gió"
"Giải thành tựu trọn đời" của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) cho Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX”
Tuy làm “ thơ cung đình” nhưng không phải Bằng Việt không có thơ hay. Từ “Bếp lửa” còn tỏa nóng đến tận bây giờ tới những bài thơ tình lãng mạn một thời được chép trong sổ tay nhiều cô cậu sinh viên tổng hợp và sư phạm văn, được sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ thuật điệp ngữ, ẩn dụ và nhân cách hóa :
“Sương nơi ấy như triền mây trắng đặc
anh vẫn chờ em trắng một bến sương.
(Nơi Một Thủa Mùa Xuân Còn Ở Ðó)
”Anh vẫn đợi một buổi em về thay áo,
đợi một niềm vui sắc nhọn như mũi kim.”
(Tình Em Ðẹp Mãi Một Bài Thơ)
Nói anh nghe cuộc tình nào đã lỡ.
con đường nào nức nở tiếng mưa rơi!
(Nét Buồn Mang Dấu Vết Thời Gian)

Tuy nhiên tính lãng mạn “kiểu Pautopski”  nhạt dần theo tuổi tác, thơ Bằng Việt ngày càng đậm tính “suy tưởng triết học” , có thể do con người “luật học” trong ông đã lên tiếng.
                  
                   “Ngày sống vội, tuần sống vội, năm sống vội
                    Tuổi hoa niên, trung niên, kế tiếp tuổi già
                   Chong chóng quay, rút cuộc được gì?
                     Được chuyển động – làm bù nhìn của gió…”
                                                                     (Nhớ Trịnh)
Các nhà văn ta,về cuối đời như Nguyễn Khải, Nguyễn Đăng Mạnh…hoặc cuối chức như Nguyễn Khoa Điềm…thường “tái nhận thức” tức “nhận thức lại” để xí xóa đi phần nào “tính Đảng” quá đà trước đây. Bằng Việt cũng vậy, trong Hội thảo thơ ở Hải Phòng, ông  nhắc các nhà thơ không thể thoát lý xã hội :
“ Tôi nghĩ, đã là một thành viên, đồng cam cộng khổ với cộng đồng loài người, thì nhà thơ không thể thoát ra khỏi xã hội, vì vậy, khó có thể tuyệt đối hóa thiên chức của thơ mà chỉ nói đến thiên nhiên thôi sao?”
Tuy nhiên cái yếu tố “xã hội” trong thơ ông không mang những trăn trở, vấn nạn lớn của dân tộc  mà lại  lại giống như Y Nguyên đã phỏng vấn :
” Người ta vẫn nghĩ thi sĩ thường lãng đãng, vẩn vơ trên mây trên gió, nhưng ông lại rất cập nhật thời sự. Cập nhật đến độ có thể biến những cái tưởng như không thơ thành thơ, như chuyện ô nhiễm môi trường khu du lịch sinh thái, chuyện xây cầu vượt, chuyện cấm đăng ký xe máy, chuyện làm phim kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long...?”
Mới đây hồi tháng 8- 2011, ông phát biểu trên mạng một câu động trời :
Tất nhiên nếu cán bộ thường nói ở bàn nhậu thì chẳng sao, nhưng đây hẳn một ông “quan văn” cỡ bự. Nghe nói sau đó cán bộ an ninh đã gặp ông. Tất nhiên nhà thơ sẽ giải thích cho nhà an ninh vì sao phát biểu vậy. Chắc đồng chí an ninh đã quán triệt tình thế của nhà thơ đứng giữa Đảng và dân không thể không thông cảm với lời phát biểu của ông Chủ tịch Hội LH VHNT Hà nội . Có thể thấy Bằng Việt cũng như thơ ông luôn bị kéo co giữa một bên là nàng thơ và một bên là đồng chí chính trị viên.
Trên blog của mình, nhà thơ Thủy Hướng Dương có kể lại cuộc nhậu sau ngày  Bằng Việt trúng cử Chủ tịch Hội LHVHNT Hànội, nhà thơ có ứng tác :
“Anh biết anh là người đến muộn
Bia uống vừa xong, bưởi vẫn còn thèm
Em đừng nghĩ là anh thất bại
Bia anh còn liếm được nữa là em!”
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến có mặt lúc đó đề nghị đổi chữ” bia” thành chữ “thơ” :
“Thơ anh còn liếm được nữa là em…”
Vậy là “thơ anh” quá…sạch…, sạch đến nỗi có thể …liếm được. Tới đây chợt nhớ bài “ Mùa sạch” của thi sĩ Trân Dần :

“Anh vẫn tìm em qua phòng triển lãm sạch
Qua khu sứ quán sạch
Qua sớm mai trường Đảng sạch
Qua Bộ Công nghiệp nặng sạch…”

Nay thì xin thêm :” thơ sạch”.

Nhà thơ Xuân Sách đã dựng chân dung Bằng Việt :

“Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc võng
Trăng mài mòn canh thâu.”

16-2-2012