mười một.
Khuya lắm hai thằng mới nghễu nghện xách súng về.
Không bắn được con thú nào, nhưng thằng hộ pháp ôm về một cái gói gì đó. May
quá còn có được cái bỏ nồi. Hạt gắm đấy, đổ nước đi mà rang, ngon không kém hạt
dẻ”.
Thằng hộ pháp ghé tai tôi hỏi nhỏ:
“Nãy mày có nghe tiếng súng không?”
“Có chứ, tao tưởng chúng mày khiêng về con
hươu...”.
“Hươu nai đâu ra. Đừng lộ cho ông toán trưởng
nhé. Thằng cấp dưỡng bắn tao đấy.”
Tòi giật nảy người nhìn thằng hộ pháp nghiêng đầu
để tôi thấy một bên vành tai máu còn động thành vệt. Trời đất chỉ một đốt ngón
tay nữa thôi đầu nó toác làm đôi. Tôi sẵng giọng:
“Chúng mày đùa kiểu gì vậy? “..
Thằng cấp dưỡng cúi mặt xuống nồi hạt gắm:
“Tao không có đùa”.
Tôi ngẩn ra, không thể hiểu sao cái thằng lù khù
nhất bọn lại to gan đến thế. Mà nó bắn ai cơ chứ?. Bắn ngay đồng đội của nó.
Thằng hộ pháp nhìn quanh quẩn:
“Thằng học giả đâu? Gọi dậy ăn hạt gắm chứ”..
“Thôi để phần cho nó”.
Tôi gạt đi và chờ thằng cấp dưỡng ăn xong, leo
lên võng, tôi mới hỏi thằng hộ hộ pháp:
“Tại sao nó bắn mày? “
Nó cười hềnh hệch:
“Cái thằng khùng,.. tao chỉ bảo nó mày là đồ ăn
hại. nằm suốt ngày: súng trong tay mà không kiếm ra được con thú nào. Nó chỉ
nín lặng không nói gì. Đi một đoạn nữa. tao lại bảo cái thứ mày chỉ đáng cầm
súng gỗ, mà có biết cò súng nó nằm chỗcnào đâu mà cũng đòi vác súng đi săn. Lúc
đó nó mới mở miệng: “mày có câm miệng lại không tao bắn nát đầu... ối mẹ ơi,
tao vừa cất tiếng: tao đố mày đấy đã nghe cái đùng, lửa tóe lên, vọt ngang đầu,
sờ lên thấy dính nham nháp mới biết viên đạn vừa sạt qua tai. Tao sợ đắng cả
miệng, cứ im thin thít không dám chửi, nó điên lên đòm phát nữa thì chỉ có đi
ngủ với giun. Mẹ kiếp, cái thằng tẩm ngẩm thế mà gớm.”
Tôi không nhịn được cười:
“Ai bảo mày thách nó. Từ nay đừng cậy khỏe, lấy
thịt đè người có ngày chết oan”.
Tôi chợt nhớ tới sứ mệnh ông toán trưởng mới giao
phó mà thấy ngán, chỉ huy được ba thằng khỉ đột này thật chẳng dễ dàng chút
nào, có vậy mới thấy ông toán trưởng thật giỏi, ấy là chưa nói tới ông còn có
cái máy VTĐ, mai mốt ông ngã xuống, cái máy liên lạc với Ban chỉ huy ấy cũng
chết luôn, tôi lấy gì để dọa bọn nó? Tôi chợt thấy buồn cười cho mình, ông toán
trưởng chỉ mới gửi gấm đôi lời vậymà đã lo xa quá, thế mới biết cái máu quyền
lực ghê gớm thật, dính vào ai là người đó cứ bốc lên như nhập đồng. Thôi thôi,
tránh cho xa, cứ làm thằng phó thường dân ăn ngủ thoải mái lại khỏe. Lập tức
tôi chìm vào giấc ngủ trong chiếc võng lúc này giá rét của đêm rừng đã biến nó
thành cái tủ lạnh. Tôi nằm mơ thấy mình trượt chân trên vách đá và rơi mãi, rơi
mãi xuống vực sâu. Thằng học giả lảm nhảm: “Nó đang rơi trong hố thẳm ở chính
trong nó”. Thằng hộ pháp cười ngóac mồm: “Ối giời ơi, khỉ nó hiếp đít tôi”.
Thằng cấp dưỡng không nói gì hết, nó giương súng ngắm vào đầu ông toán trưởng
trong lúc ông đang ăn một cái bánh chưng khổng lồ.
Chiều ngày hôm sau, khi thằng hộ pháp trèo lên
ngọn cây cao, phóng tầm mắt về phía xa, thằng học giả lại ngước lên hỏi to:
“Thấy gì chưa? Mày đã nhìn thấy gì chưa? Bỗng nhiên thằng hộ pháp hét lên đến
lạc giọng:
“Thấy rồi chúng mày ơi... thấy rồi, ối giời ơi,
nhiều nhà lắm, nhiều lắm...” Nó cuống quít tụt xuống, huơ chân múa tay mô tả
cái bản Mù U ở phía xa mà nó là người đầu tiên nhìn thấy.
Ông toán trưởng cũng đi tới, hỏi vội vã:
“Còn bao nhiêu kilômét nữa? Còn bao nhiêu kilômét
nứa?”
Thằng học gia cứ trố mắt lên: “Thế... thế kia à?
“ rồi nó lẩm bẩm: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng
người ngại núi e sông”. Thằng hộ pháp nhe răng ra cười:
“Thôi bố. sắp được đớp thoải mái rồi, còn e ngại
cái nỗi gì?”
Riêng tôi chưa tin, cái thằng voi đực này dám lừa
anh em để cười một trận cho quên đói lắm. Tôi để mặc ông toán trưởng đang vẫy
tôi lại xem bản đồ, tôi leo tót lên cây đúng vào chỗ lúc nãy thằng hộ pháp đã
trèo. Quả thực, qua vòm lá ken đầy, tít mãi phía xa kia, vượt qua dãy núi xanh
xẩm, tôi nhìn thấy những nếp nhà nhỏ xíu ẩn chênh vênh bênsườn quả đồi thấp nom
như những tổ chim xinh xinh. Mù U... ôi đúng thực là bản Mù U, niềm hy vọng của
chúng tôi kia rồi. Từ đây sang đó, với cái kiểu đi “như khỉ trèo rừng” của cả
toán, giỏi lắm chỉ già một ngày nữa là tới nơi. Thằng học giả đứng dưới, ngứa
ngáy chân tay cũng theo tôi trèo lên, hỏi rôl rít: “Đâu? đâu? Mù U đâu? “, và
rồi khi nhìn thấy, mặt nó sững ra, trầm ngâm như những lúc nó cắm cúi đọc sách
bên đống lửa, tôi phải nhắc nó cẩn thận, sung sướng quá buông tay ra, ngã chết
tươi. Tuy nhiên nó vẫn đờ đẫn, mắt nhìn không chớp về dãy nhà phía trước.
“Thôi, tụt xuống đi, mai mốt tới nơi tha hồ mà
ngắm”.
Dường như không nghe thấy tôi nói, nó vẫn đắm
chìm vào những ý nghĩ riêng, rồi bất chợt nó nhìn tôi:
“Mày bảo liệu ở đó có hòm thư bưu điện không?”
Tôi phì cười:
“Sao mày không hỏi ở đó có cửa hàng gạo không?”
“Nếu không có hòm thư nhất định phải có người đi
về xã về huyện phải không? “.
“Mày hỏi chuyện của nợ ấy làm gì? “.
“ Tao... tao gửi thư...”
“A... hiểu rồi, gửi cho nàng búp bê?”
Nó trịnh trọng gật đầu, vẻ mặt rất nghiêm trang
làm cho tôi không dám buông lời chớt nhả. Hóa ra những xấp giấy nó vẫn cặm cụi
viết vào những buổi tối là gửi cho cô láng giềng. Đấy, cứ tưởng nó dở người,
hóa ra cũng yêu đương lãng mạn. Tội nghiệp, đã khổ về chữ nghĩa còn đèo bòng
thêm cái khổ vì tình nữa, hèn gì lúc nào nó cũng ngơ ngơ ngác ngác. Tôi cất
tiếng hỏi để nó tỉnh trí trở lại kẻo ngã gãy cổ:
“Mày vẫn còn yêu nàng lắm phải không?”
“Lẽ sống của tao đấy. Không có nàng làm sao tao
sống nổi cái kiếp người đầy khổ ải này. Nàng là người duy nhất hiểu được tao,
cảm thông tao”.
Câu chuyện của nó xem ra đã nhuốm vẻ bùi ngùi,
cái đó thật chả hợp với tôi chút nào, bởi vậy tôi vội vã tụt xuống bỏ mặc nó
với cô nàng búp bê trên ngọn cây. Vừa giáp mặt tôi thằng hộ pháp đã hỏi ngay:
“The nào, mày tin chưa.”
Tôi cười nhoẻn, quay sang ông toán trưởng:
“Đúng chỉ non chục cây số nữa là tới Mù U thôi”.
Lâu lắm tôi mới thấy nụ cười trên miệng ông:
“Vậy thì bản đồ đâu có sai. Dãy vách đá không thể
hiện được chẳng qua do rừng rậm rạp quá máy bay không nhìn thấy”.
Thằng hộ pháp bĩu môi:
“Quan niêu, ngồi trên máy bay mà dám vạch đường ở
dưới đất, rõ thật quan niêu “..
Chiều hôm đó trở về chỗ trú quân, ông toán trưởng
đồng ý cho bọn tôi dốc gần hết bao gạo nấu một nồi cơm thật to ăn một bữa thật
no. Thằng cấp dưỡng bày ra trên tấm vải nhựa trải dưới đất một đĩa muối rang và
một nồi rau rừng:
“Chịu khó ăn nốt bữa nay, mai tới bản tao mua
gà”.
Thằng hộ pháp ngoạm một miếng vẹt cả bát cơm,
trợn mắt:.
“Mày phải nuộc riêng cho mỗi thằng một con. Rồi
thì cứ để nguyên chẳng cần chặt chiếc gì hết, cứ cầm tay mà gặm “.
“Được rồi, tao sẽ cho mỗi thằng một con trâu luộc
cả con”.
Mới chập tối học giả đã đốt lửa hí hoáy viết.
Dưới ánh lửa, mặt nó sáng hẳn, mắt ngời ngời. Nó lại viết thư cho cô nàng búp
bê, hy vọng mai gửi qua bưu điện cùng với cả tập dày đã viết kia. Chữ nghĩa đâu
ra lắm thế? Vả lại nơi xó rừng này còn chuyện gì mà viết? Tôi nhớ ra từ bé, tôi
chẳng viết thư cho ai và cũng chẳng nhận được thư ai. Thằng hộ pháp và thằng
cấp dưỡng đôi khi còn được một lá khi có thằng liên lạc từ Ban chỉ huy tìm tới
nơi chúng tôi đóng quân.
Người nhiều thư nhất vẫn là thằng học gỉa cứ mỗi
lần ông toán trưởng nhận điện báo tin có liên lạc sắp lên, nó lại bồn chồn suốt
ngày, cứ ra đầu núi ngong ngóng. Có lần thằng liên lạc định trêu thằng họe giả,
vừa lóp ngóp bò lên chỗ lán bọn tôi nó đã kêu to: “Thư báo đây, thằng nào có ra
mà nhận”. Tất nhiên thằng học giả nhảy ra trước tiên, nhưng thằng liên lạc quay
lưng đi. Thằng cấp dưỡng được một thư, thằng hộ pháp hai thư, còn tôi một xấp
báo. “Thế còn tao? “ - thằng học giả tái nhợt như người trúng gió. “Mày không
có” Giọng thằng liên lạc tỉnh bơ. “Sao lại không có? “ “không có là không có
chứ sao? “ “Vô lý, ba tháng nay mày mới lên, ít nhất tao cũng phải có ba thư”.
“Nhỡ ra người yêu mày đi lấy chồng rồi, thôi không viết nữa, mày bắt bò tao
sao? “. Thằng học giả như bị một quả đấm vào tim, mặt đờ ra ngây dại rồi lẳng
lặng lên giường đắp chăn, bỏ cả bữa ăn tươi buổi chiều. Tôi kéo thằng liên lạc
ra hỏi:
“Có thật thằng học giả không có thư không? “.
Nó nhe răng mà cười:
“Tao đùa vậy thôi, con kia viết cho nó cả đống”.
Tôi giật cái xắc cốt đeo trên vai nó:
“Thằng của nợ, mày đùa ác thế bằng giết nó”.
Rồi tôi nhảy vào lán, lật chăn, lôi bật thằng học
giả khỏi giường:
“Dậy, dậy, thư của mày đây”.
Chao ôi, đứng nhìn nó ôm trong lòng tập thư cô
nàng búp bê thì mới hiểu được rằng với nó trên đời nàykhông có một thứ vitamin
nào bổ hơn những lá thư của người yêu.
Ông toán trưởng cho gọi riêng tôi tới chỗ ông
nằm. Thôi chết, ông lại sắp “bồi dưỡng” tôi làm “lớp kế cận” ông đây. Tôi ngán
cái chuyện đó quá nhưng vẫn phải tới.
“Đêm qua ai bắn súng?”
Tôi nhớ lời quy định của ông, chỉ thằng cấp dưỡng
mới được sờ tới cây súng và cũng chính nó bắn chứ ai. Tôi trả lời:
“Thằng cấp dưỡng bắn”
“Nó bắn cái gì vậy?”
“Nó bắn... con nai, nhưng trượt”..
Ông cau mày nhìn tôi chòng chọc:
“Đỉnh núi đá lấy đâu ra nai? Cậu bao che cho nó
phải khôn g?”
Tôi cảm thấy ông đã biết rõ mọi chuyện, quái
thật,. lúc đó ông ngủ, làm sao biết được, chẳng lẽ ông có ma xó. Đấy, làm toán
trưởng khó vậy đó, phải nắm vững mọi chuyện xảy ra ngay cả lúc mình ngủ.
“Tại sao nó bắn thằng hộ pháp?”
Tôi giật nảy người một cách rất thành thực:
“Không có đâu, đời nào có chuyện đó.”
“Cậu không thấy tai thằng hộ pháp bị toác ra đấy
ư?”
Tôi cãi bay cãi biến rằng đó là tại nó ngã dập
tai vào đá, rằng hai đứa thân nhau lắm, đêm qua về khuya chúng nó còn bá vai
nhau tỉ tê thân mật, rằng không thể có cái chuyện bắn nhau tày trời kia được...
Ông toán trưởng thừa biết tôi nói nhăng nói cuội, nhưng trái với tôi tưởng, ông
không giận dữ như mọi khi, ngược lại, ông ngạc nhiên: “Ngày xưa, nếu như tôi
được một cơ hội như cậu, tôi phải chớp ngay lập tức.”
Tôi tỏ vẻ không hiểu ông định nói gì, ông liền
cười nhạt:
“Này, tôi hỏi thật cậu, cậu định cứ làm thằng thợ
phát rừng cả đời như thế này sao?”
“Bấc đến đâu dầu đến đấy...”
Tôi vọt miệng ra cái câu nói cửa miệng của thằng
học giả vẫn nhồi nhét vào tai tôi mỗi lúc nó lên cơn lảm nhảm.
Ông toán trưởng tròn xoe mắt:
“ Bấc với dầu gì?”
Tôi vội lấp liếm là không có gì, tôi chỉ muốn nói
là tôi tuyệt đôi tin tưởng ông, giao nhiệm vụ gì tôi cũng làm, khó khăn mấy tôi
cũng vượt qua, riêng có cái việc “nắm tình hình tư tưởng anh em”, tôi thấy khó
quá. Nghe xong, ông tươi mặt, cười xòa:
“Tôi hiểu cậu rồi, tinh thần chấp hành như thế là
rất tốt còn cái việc kia, tôi cũng hiểu cậu rồi, cậu lo không đủ trình độ lý
luận chứ gì? Cậu khỏi lo, lý luận tốt nhất là được đúc rút ra từ thực tiễn, vừa
làm vừa học, rồi tôi sẽ hướng dẫn cho cậu. Ấy đấy, ngày xưa còn tuổi thanh
niên, tôi cũng tự ti như cậu đấy. Thế rồi may mắn cho tôi, tôi cũng gặp được
một ông Đội trưởng quý mến tôi, quyết đào tạo bồi dưỡng như tôi đối với cậu bây
giờ.”
Tôi nóng bừng cả mặt, cảm động rưng rưng, cứ ngồi
im nghe ông nói.
“Con người ta hơn con thú ở chỗ có hoài bão, suốt
đời kiên trì theo đuổi cái hoài bão đó, thắng không kiêu, bại không nản...”
(còn tiếp)
PHỤ LỤC :
ĐÍCH
TRẦN ĐỨC TIẾN
Nhân
vật: ông toán trưởng, thằng hộ pháp, thằng học giả, thằng cấp dưỡng và tôi. Câu
chuyện: khảo sát, mở tuyến giao thông giữa vùng núi cao rừng rậm. Cả 5 tên đàn
ông cứ hùng hục phát cây, dọn đá tiến về phía trước, theo sự chỉ đường dẫn lối
qua máy vô tuyến điện của một cấp trên nào đó không bao giờ thấy mặt ngồi tít
dưới đồng bằng. Đói khát luôn hành hạ -
đói ăn, đói tình. Công việc cực nhọc nguy hiểm. Đã thế còn hoang mang
mất phương hướng. Những cơn mơ vật vã trộn lẫn với thực tại toát mồ hôi: mơ ăn
no, mơ làm tình, mơ tích cóp được túi tiền đầy mang về, mơ tình yêu trong sáng
thánh thiện, và tất nhiên cơn mơ nặng nề dai dẳng nhất là mơ đến đích. Cái đích
chung của cả bọn - đỉnh Hua Ca xa lắc chìm khuất trong mây. Và cái đích riêng
của từng người - thành tích dâng lên cấp trên của ông toán trưởng; trèo lên đầu
đồng đội bằng mọi giá để xây dựng "sự nghiệp hiển hách" của thằng học
giả; cuộc chung sống hạnh phúc với ả đàn bà ngoại tình của thằng hộ pháp; căn
nhà xây cho mẹ của thằng cấp dưỡng; và mối tình đẹp với nàng Sao của thằng tôi.
Tất cả nối nhau diễn ra theo từng ngày, theo từng mét chiều dài của tuyến
đường. Chen vào đó là những sự cố nho nhỏ: hết gạo, lạc rừng, bệnh tật, rắn độc
cắn, chửi bới ẩu đả lẫn nhau... Thỉnh thoảng sống lại đôi ba mẩu hồi ức như
những đốm lửa soi rõ hơn những khoảnh khắc thực tại. Sự ngây thơ ngu dại của
thằng học giả đẩy bố đẻ đến chỗ chết. Cuộc tình vụng trộm ngậm ngùi đau xót của
ông toán trưởng. Những cơn yêu đương cuồng nhiệt của thằng hộ pháp với cô vợ
ông xã đội... Nói tóm lại, tiểu thuyết "Đi về nơi hoang dã" của Nhật Tuấn là câu chuyện khó có
thể kể lại một cách mạch lạc. Những tình tiết đan cài rậm rạp mà cũng đầy sức
sống như cánh rừng có 5 tên đàn ông kia đang tìm cách xuyên qua. Chỉ có cách
duy nhất là bước theo chân họ qua từng dòng chữ.
Lại
nói về những cái đích. Trước hết là đích riêng của từng nhân vật. Ông toán
trưởng nằm lại dọc đường và chết thê thảm. Thằng hộ pháp vỡ mộng vì người tình
không thể bỏ nhà trốn theo hắn. Thằng cấp dưỡng hoá rồ vì mất gói tiền. Tôi ngơ
ngác trước dòng nước đục ngầu bẩn thỉu trên đỉnh Hua Ca. Thằng học giả cố tự lừa
mình, vui niềm vui đến đích một cách gượng gạo... Còn cái đích chung? Liệu cái
đỉnh núi ở cuối sách, nơi tôi và thằng học giả đang đứng đây, có phải là đỉnh
Hua Ca, đỉnh núi có dòng suối thần? Hình như không. Đỉnh Hua Ca vẫn còn ở đâu
đó xa lắm, trên tít những tầng mây kia, trong huyền thoại. Người đọc chợt nhận
ra một điều không có trong sách: có nó hay không, giờ đây cũng chẳng còn gì
quan trọng. Ở điểm này, "Đi về
nơi hoang dã" đã đạt được cái mà văn chương chúng ta lâu nay
nói chung còn rất thiếu và yếu, đó là tầm tư tưởng, là ý nghĩa triết học.
Văn
xuôi Nhật Tuấn là thứ văn xuôi cực kỳ "đàn ông", mạnh mẽ, trần trụi
và tốc độ. Từ đầu tới cuối cuốn sách ngót ba trăm trang, luôn giữ vững một nhịp
điệu gấp gáp, lôi cuốn. Rất nhiều chi tiết gây ấn tượng mà không cường điệu. Từ
những truyện ngắn đặc sắc của anh cách đây vài ba chục năm (Trang 17, Con
chim biết chọn hạt, Ngôi nhà đang lên tầng, Hai bàn tay em nhỏ, Con tàu trắng
đi trong khói nắng, Bọn họ...), cho đến tiểu thuyết này, với đám nhân vật
toàn đàn ông và bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện như đã nói, lối văn ấy càng
có đất để phô diễn.
Đọc
"Đi về nơi hoang dã"
không thể không nghĩ đến những tìm tòi cách tân đang diễn ra trong văn chương
hôm nay. Phủ nhận, quay lưng lại với những cố gắng đổi mới là thái độ ngu xuẩn.
Nhưng nếu những cố gắng chẳng mang lại điều gì khác hơn ngoài sự hùng hổ và sự
nhạt, thì những trang văn "truyền thống" như thế này vẫn còn nguyên
giá trị. Để thấy rằng, văn hay rốt cuộc vẫn cứ là nhà văn phải trung thực với
chính mình, chứ không phải vật mình vật mẩy, vặn vẹo ra mà có.
22-7-2006
T.Đ.T.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét