Phim “cánh đồng bất tận” chuyển thể từ tiểu
thuyết cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư là phim ăn khách, hốt bạc. Tuy nhiên, giới
cầm bút lại có những nhận định khác với khán giả. Sau đây là ý kiến của một nhà
phê bình và một nhà văn nổi tiếng.
XEM PHIM VIỆT :
TỪ PHOTOCOPY TỚI PHOTOSHOP
Nhà phê
bình NGUYỄN THANH SƠN
Có một câu nói
rất đúng cho tình cảnh của điện ảnh Việt Nam hiện nay “chúng ta đã có quá
nhiều những kẻ thông minh (vặt), thiếu là thiếu những người dũng cảm”!
Đúng vậy, bởi
đưa được những giá trị nhân văn trong tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Tư lên
được màn ảnh rộng rất cần sự dũng cảm. Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư là
tiếng thét câm lặng, uất ức của hiện thực về số phận bi thảm của người nông dân
miền Tây: bị bần cùng hóa, bị đẩy vào một “cánh đồng bất tận” của nghèo đói, áp
bức và sự thờ ơ vô cảm của xã hội. Trên cái nền tương phản của vô tận sông nước
và đồng lúa trù phú của miền Tây, những số phận nghèo khổ cứ phải trôi nổi,
tưởng có thể tụ vào nhau rồi lại ly tán, để lại cho người đọc dư vị đắng cay
của sự bất lực, cho dù ẩn sâu trong nó vẫn mêng mông chan chứa tình người.
Những giá trị
đáng trân trọng đó của Cánh đồng bất tận, rất tiếc, đã bị đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình đánh rơi trên con
đường “phải đạo hóa” tác phẩm điện ảnh của mình. Xem phim Cánh đồng bất tận,
chúng ta mới biết, số phận trôi nổi đắng cay của ba cha con Sương hoàn toàn là
một bi kịch cá nhân(!)- vợ Út Võ bỏ ba cha con đi theo một chú Chệt chỉ đơn
giản vì những miếng vải đẹp; Út Võ hoàn toàn có thể sống một cuộc sống ổn định,
làm một ông lái đò đưa học sinh tới trường nếu ông muốn vậy. Và đám “cường hào mới” ở nông thôn, những kẻ
phải chịu trách nhiệm về những đắng cay áp bức mà người nông dân phải gánh chịu
trong tác phẩm văn học, lại được bàn tay đạo diễn “linh hoạt” chuyển đổi thành
đám lưu manh giang hồ vùng sông nước- ồ, bi kịch của người nông dân miền Tây
chỉ xuất phát từ lỗi của chính họ, và hóa ra sự áp bức bất công mà họ phải gánh
chịu cũng xuất phát từ những người cùng khổ như họ.
Vo cho tròn sự
quyết liệt của tác phẩm văn học, lại thiếu dũng cảm để chọn cho mình một hướng
tiếp cận mới cho tác phẩm điện ảnh, không ngạc nhiên khi đạo diễn Nguyễn Phan
Quang Bình rất lúng túng khi xử lý góc nhìn của bộ phim. Ban đầu, bộ phim đã có
một sự khởi đầu khá tốt khi ống kính được đặt ở góc nhìn của Điền, nhưng ngay
sau đó, bộ phim bị kéo lê thê bằng góc nhìn trung tính minh họa cho tác phẩm
văn họ. Lẽ ra, nếu bộ phim được kể lại bằng góc nhìn của nhân vật Nương,
thì nhân vật cô gái điếm Sương chỉ là
nhân vật phụ, là chất xúc tác đẩy tình cảm và xung đột của ba cha con Út Võ lên
đến cao trào. Nguyễn Phan Quang Bình đã dành quá nhiều ưu ái cho nhân vật Sương,
khiến tuyến nhân vật phụ lấn át tuyến nhân vật chính, nên khi cô Sương ra đi,
bộ phim bị mất điểm nhấn, cứ trôi dạt mãi cho tới một cái kết “từ trên trời rơi
xuống”.
Là một đạo diễn,
Nguyễn Phan Quang Bình phải thừa hiểu, thế mạnh của tác phẩm điện ảnh là hình
ảnh và hành động phim, chứ không phải lời thoại của nhân vật (nguyên tắc hàng
đầu của điện ảnh “hãy cho họ thấy, đừng thoại!”- Show them, do not tell them).
Nhưng anh đã quá lệ thuộc vào lời thoại của tác phẩm văn học mà không chuyển
tải được nó bằng điện ảnh. Chi tiết rất hay trong truyện qua lời kể của Nương
“từ ngày đó, ba em chỉ gầm gừ và tằng hắng. Chúng em phải nương theo tiếng tằng
hắng của ba để đoán ý”…phải được thể hiện trong phim bằng cách Nương/Điền đoán
định ý ba qua tiếng tằng hắng ra sao. Nhưng Út Võ không hề gầm gừ hay tằng hắng
mà chỉ thấy quát tháo trong phim, cũng không có gì trong phim chứng tỏ Nương và
Điền hiểu tiếng tằng hắng hay gầm gừ của cha. Hay để chứng tỏ cuộc sống trôi
nổi vô định của gia đình Út Võ, phải có hàng loạt hành động điện ảnh, chứ không
phải đơn giản như câu thoại của Nương khi thấy Điền làm hàng rào quanh cây bưởi
mới trồng “trồng làm gì để đi xa rồi lại nhớ”- nỗi nhớ, lẽ ra phải được thể
hiện bằng hình ảnh, thì lại đơn giản thông qua một câu thoại mùi mẫn. Hay hình
ảnh có tính ẩn dụ về cây sống đời mà “mỗi một lá rơi xuống lại đem lại những
mầm sống, như tình cảm của chị đối với chúng em, đi xa nhưng vẫn sống mãi”-lại
cũng chỉ là một câu thoại hầu như không chút ăn nhập với hình ảnh phim
Chính vì không
hiểu (hay không dám hiểu) giá trị nhân văn chính của tác phẩm văn học, trong
việc xây dựng tính cách nhân vật, đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình đã đánh mất đi cái đẹp sâu sắc tiềm ẩn
trong tính cách của mỗi một số phận trong Cánh đồng bất tận, và điều đó khiến
cho dàn diễn viên nổi tiếng của anh có những vai diễn đáng thất vọng nhất trong
bộ phim này. Dustin Nguyễn, trong đoạn phỏng vấn để quảng bá cho bộ phim, nhắc
đi nhắc lại “ông Võ là người rất xấu…nhưng xem phim, bạn sẽ thấy ông ấy có lý
do để làm như vậy…”- Dustin đã nhầm, vấn đề ở đây không phải ở “lý do”, mà bản
chất, ông Võ không phải là người xấu. Tại sao dù đau khổ nhưng Nương và Điền
vẫn bám theo ba suốt dọc hành trình,vì các em hiểu rằng- dưới lớp vỏ cộc cằn,
cay đắng và thậm chí đôi lúc tàn nhẫn là tình thương các con, là một tâm hồn bị
tổn thương sâu sắc. Dustin Nguyễn chỉ diễn được chất cộc cằn và tàn nhẫn, và
chỉ chạm rất phớt được tầng sâu đó của nhân vật, nên khi anh cố gắng diễn sâu
hơn, như khi anh đưa lại chiếc nhẫn cho Nương, hay cảnh kêu trời thống thiết đáng
thất vọng của anh ở cuối phim thì cách diễn lại mang đầy tính “kịch” giả tạo.
Tạo hình vạm vỡ của anh, cái cách anh ngồi uống rượu, chặt củi hay ân ái với
Sương đều rất ít điểm chung với nhân vật nông dân miền Tây mà anh phải thể
hiện.
Nhưng thất vọng
lớn nhất của bộ phim là Đỗ Thị Hải Yến. Thách thức và áp lực đối với cô ở vai
Sương là rõ rệt: hình ảnh một cô gái điếm miền Tây đơn sơ, bị cuộc sống đầy đọa
nhưng vẫn mong mỏi yêu thương và được yêu thương, sẵn sàng hi sinh nhưng cũng
sẵn sàng rời bỏ khi cảm thấy nhân cách của mình bị xúc phạm… là một vai diễn
khó với Hải Yến. Và cô đã không vượt qua được thách thức này. Dù có những cảnh
diễn đạt (cảnh đầu tiên của phim, cảnh cô xăng xái tươi cười tràn ngập hạnh
phúc xới cơm cho gia đình Út Võ sau đêm ân ái), nhìn chung khán giả không nhìn
thấy cô gái điếm miền Tây trong cô. Từ cái giọng bèn bẹt (“ôi chị làm gái ấy
mà”), ánh mắt giả tạo (“ba của mấy cưng đẹp trai ghê ta”), trang phục xa lạ (áo
trắng tinh) đến hành động tạo hình (nắm bàn tay Út Võ, từ từ ngả người ra sau,
những cảnh cô xoa đầu trò chuyện với Điền, Nương) đều thấy rõ sự “diễn” gượng
gạo của cô. Nếu không được bù đắp lại bằng sự duyên dáng tươi trẻ của Lan Ngọc
(vai Nương), khắc khổ và chân thành của Thanh Hòa (vai Điền), thì diễn viên có
thể được coi là thất bại lớn thứ hai của phim Cánh đồng bất tận.
Tính photoshop
của Cánh đồng bất tận còn được thể hiện rõ rệt ở hình ảnh và sắp đặt của bộ
phim -không phải mầu nâu của đất, màu đen của sình lầy, không phải những giọt
mồ hôi hay nếp nhăn của nghèo đói và tuyệt vọng trên khuôn mặt của các nhân
vật- mà trong phim vàng rực màu vàng của lúa, màu xanh ngắt của cỏ và màu trắng
của những chiếc áo của Nương, của Sương. “Miền Tây của chúng ta lên phim đẹp
quá anh nhỉ. Các công ty du lịch thích lắm đó”-Nguyễn Ngọc Tư nói với tôi bằng vẻ tự trào cay đắng của cô.
Để “đẹp hóa” bộ phim, đạo diễn Nguyễn Phan Thanh Bình sẵn sàng hi sinh tính
trung thực của thực tế, mà cảnh Sương tắm trong đìa sen là một ví dụ điển hình-
bất cứ người dân miền Tây nào cũng biết đìa sen với gai góc và bùn lầy là nơi
bẩn nhất, là nơi không ai có thể tắm. Hay những hình ảnh sắp đặt của hai cô gái
Nương và Sương mặc áo trắng múc từng gáo nước trên thuyền- cảnh quay lẽ ra phải
để Sương gợi cho Nương nhớ đến người mẹ mà cô hàng đêm mong nhớ- thì lại trở
thành một cảnh quay tạo hình một vẻ đẹp “chẳng để làm gì” giữa trời nước miền
Tây.
Với một cốt
truyện hay, một dàn diễn viên nổi tiếng, được đầu tư chu đáo, lẽ ra Cánh đồng
bất tận hoàn toàn có cơ hội để trở thành một tác phẩm điện ảnh thành công, hơn
là chỉ được đánh giá cao về diễn xuất của một vài diễn viên, của hình ảnh đèm
đẹp hay âm nhạc mang đậm tính dân tộc/hiện đại của Quốc Trung. Victor Hugo có
một câu nói nổi tiếng về sự dũng cảm của người nghệ sĩ „hãy như con chim không e ngại sà xuống cành
cây sắp gẫy, cho dù cảm thấy cành cây trĩu xuống, vẫn hát bài ca thường nhật,
vì biết rằng mình vẫn còn đôi cánh để nâng đỡ”. Phải chăng vì thiếu đi sự nâng
đỡ của đôi cách (tài năng) ấy, mà Cánh đồng bất tận không có được sự dũng cảm
của một tác phẩm nghệ thuật đích thực?
TÔI
KHÔNG ĐỨNG VỀ PHE NƯỚC MẮT
Nhà văn NGUYỄN QUANG LẬP
Tôi không đứng
về phe nước mắt…
Phim Cánh đồng bất tận bọ đi xem hai lần.
Lần đầu cho 6/ 10 điểm. Về uống rượu với
một ông nhà văn, một ông nhạc sĩ, một ông tổng biên tập, một ông nhà báo lừng
danh, một ông phó tổng giám đốc ngân hàng.
Ông nhà văn nói:” Đây là phim đáng xem nhất của điện ảnh Việt Nam trong vòng
35 năm qua.” Ông tổng biên tập nói: “Nó khá hơn phim Vũ khúc con cò chút xíu”. Ông nhạc sĩ nói: ”
Tôi mua vé cho cả nhà đi xem, ai cũng khóc sưng mắt. Mắt tôi còn
sưng đây này”. Ông phó tổng giám đốc ngân hàng nói: ” Tôi xem phim này hai lần,
lần nào cũng chẳng hiểu vì sao ngươì ta khóc cả. Nghe đạo diễn Vũ Ngọc Đãng
khóc 5 lần thì thất kinh.” Ông nhà báo
lừng danh nói: “Xem xong phim này tôi rút ra bài học rất quan trọng: Để còn bạn
còn bè tốt nhất là không nên đi xem phim”. Bọ quyết định đi xem lần hai, lần
này cho 4/ 10 điểm, đến khi gặp cái kết phim thì trừ nốt cả bốn điểm đã cho, về viết bài: Cánh
đồng bất tài. Nhưng rồi vì bạn vì
bè, vì nghề vì ngỗng bọ đã ném bài ni vô sọt rác.
NQL

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét