Tham luận Hội thảo khoa học
THƠ TÂN HÌNH THỨC VIỆT – TIẾP NHẬN & SÁNG TẠO
Tạp chí Sông Hương, Huế - 2014
đã định tổ chức năm ngoái thì
hoãn bị lụt. Sang năm nay, không hiểu sao vẫn chưa tổ chức được (nghe đồn có
“đèn đỏ” chi đó) . Ban tổ chức chỉ có thể cho xuất bản Kỷ yếu . Bản rút gọn này in Kỷ yếu còn 18 ngàn chữ (lọc đi
những chương đoạn “cà tưng cà tửng”, “trữ tình ngoại đề”; “chú thích mà cháu ko
thích”; nhất là phần phụ lục rất "Ngu công" và lắm chuyện).
Thơ là văn xuôi xuống dòng.
Trần Dần
Bài phê bình với tư cách một văn bản sẽ
là đối tượng của một bài phê bình khác.
Về bản chất nó cũng là tác phẩm nghệ
thuật hư cấu.
Jacques Derrida
Thơ vừa quên vần.
Thơ quan hệ ở cốt chứ
không phải ở cách.
Viên Mai
MỤC LỤC
I. “Bài thơ” mừng Hội thảo
II. Tân hình thức trên bậc thang sáng tạo thơ Việt theo trường phái, trào lưu
III. Triết lý của Tân hình thức
Việt
III.1. Tóm tắt
III.2. Nhận định chung
III.3. Cứu cánh biện minh cho phương tiện
III.4. Quá khứ gần, tương lai gần
và tương lai xa
IV. Một số hoài nghi, phản biện, bài bác
V. Những vấn đề thi pháp
V.1. “Nhân vật” thể loại
trong Thơ Tân hình thức Việt
V.2. Nhịp điệu với Tân hình thức Việt
V.3. Tân hình thức
Việt và kết cấu bài thơ
V.4. Cái Tôi của
Tân hình thức Việt
V.5. Tân hình thức
Việt giữa câu chuyện dài Hậu
hiện đại
V.6. Về tính truyện ở Thơ Tân hình thức Việt
VI. Nói thêm về kỹ thuật vắt
dòng; và một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt dòng đặc sắc
VII. Tạm kết
Phụ lục
1- Bài thơ Vệt mực và tờ giấy (Nguyễn Tất
Độ)
2- Bài thơ
Bữa tối (Nguyễn Quang Thiều)
3-
Trích bài thơ Vàng Sao
4- Bài thơ Vịt trời/ Widgeon (Seamus Heaney)
5- Một số câu thơ, bài thơ “không Tân hình thức” ngắt
dòng đặc sắc
6- Bài thơ Kiếp con quay (Tản Đà)
7- Danh sách một số tuyển thơ, bài phê bình, lý luận
Thơ Tân hình thức Việt
8- Danh sách một số bài giới thiệu, tán đồng, ủng hộ
Thơ Tân hình thức Việt
9- Trích lược một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân
hình thức Việt
Chú thích
*
I. “Bài thơ” mừng Hội thảo
…ôi kể sao hết được những
gì về tân hình thức việt
hôm nay như bolsa mênh
mông chợ việt như sông hương
sừng sững núi ngự ôi kể
sao hết được những gì về
tân hình thức việt ngày mai…[i]
II. Tân hình thức trên bậc
thang sáng tạo thơ Việt theo trường phái, trào lưu
23 năm; kể từ sáng tác được nhiều người xem là đầu tiên của Thơ Tân hình
thức Việt[ii]:
bài Những nụ hồng của máu[iii]
của Nguyễn Đăng Thường (5/1991). Và 14 năm; kể từ “tuyên ngôn” không chính thức
về một thể thơ Việt không vần của một số nhà thơ Việt hải ngoại trên Tạp chí
Thơ đầu năm 2000 với Khế Iêm[iv]
là chủ bút và cũng là đồng tác giả khởi xướng trào lưu, qua sự kiện lần đầu
tiên chính thức dùng thuật ngữ Tân hình
thức (New Formalism) của thơ tiếng Anh từng được phát triển ở Mỹ vào những
năm 1980-1990.
“Mười lăm năm ấy biết bao
nhiêu tình”? Hôm nay, Hội thảo khoa học về Thơ Tân hình thức Việt
lần đầu tiên trên thế giới đang
trả lời...
Sẽ không quá lời khi coi đây là lần đầu tiên trong lịch sử phát triển văn
học Việt Nam, một trào lưu thi ca - có lý thuyết bài bản, có tranh luận sôi
nổi, có thời gian thử thách, có ảnh hưởng dư luận và nhất là có thực hành sáng
tác rộng khắp trong và ngoài lãnh thổ quốc gia - đã được cộng đồng văn học chấp
nhận về học thuật. Trong môi trường lý luận, phê bình và sáng tác văn nghệ Việt Nam
lâu nay hiếm có tập quán trường/phái/nhóm, đây nên được xem là bước chuyển đổi ghê gớm[v].
Trước hết,
xin trích lược một số ý từ bài vở trước đây của chúng tôi về đặc điểm trường
phái của thơ Việt, qua đó tìm thấy vị
trí Tân hình thức Việt.
Theo dòng chảy của tri thức và
sinh hoạt văn hóa, các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết
vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của
riêng mình. Nói về trường/ phái/ nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách, hơn
một thế kỷ qua ở Tây phương, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực rỡ biết bao
mặt-trời-thơ nhỏ to khác nhau. Các trường phái nghệ thuật Tây phương thành quả
hơn ở Đông phương, phần vì đã mang tinh thần tự do cá nhân – yếu tính của văn
hóa Tây phương – vào sinh hoạt nghệ thuật nhóm phái, khuynh hướng. Tất nhiên
còn nhờ các lý do khác, như bài bản, nhà nghề, kỷ luật, biết chịu nhau… Rất ít sinh hoạt trường phái
văn nghệ Việt Nam thực hiện ngon ngọt tiêu chí
coi nghệ thuật là mục tiêu; vì đa số nhà cách tân thường là nạn nhân cụ thể của
một sự mất tự do nào đó. “Thi ca đã chọn chúng tôi!” Độc quyền làm tiền vệ, độc
tài cách tân – đó vẫn là lề lối làm việc của đa số trào lưu nghệ thuật Việt xưa nay dù ở trong hay ngoài vòng
chính trị. Nếu chưa có được các nhóm nhà thơ, các câu lạc bộ văn học thứ thiệt
thì văn nhân Việt đương đại quả là chưa biết cách hiện đại hóa một dân tộc thi
sĩ, một đất nước thi vị. Như vẫn còn đó một làng thơ của sáo diều giữa làng toàn cầu trên bàn phím.[vi]
Với thơ Việt, từ thời Thơ Mới
tới thời hiện đại rồi hậu hiện đại, đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần tỏa
sáng bầu trời thi ca nước nhà. Không kể phong trào Thơ Mới như cuộc cách mạng
nghệ thuật theo sau cuộc vận động toàn xã hội, trong một số tập hợp văn học có
chung quan niệm thay đổi thi pháp, thơ Việt dường như chỉ có 5 nhóm văn nghệ,
trường phái tạo ra hoặc liên hệ tới thi pháp[vii]:
Xuân Thu Nhã Tập, Nhóm thơ Bình Định/ Trường thơ Loạn, Nhóm Dạ
Đài, Thơ Tân hình thức Việt, và
Nhóm Mở Miệng. Ngoài Nhóm thơ Bình Định,
4 nhóm phái còn lại đều có cao vọng - và ít nhiều đã tuyên ngôn hoặc thực
hiện - ra khỏi thi pháp Thơ Mới.
Thi pháp Thơ Mới trong cuộc cách mạng lần thứ nhất đã lật lịch sử thi ca Việt Nam sang “chương hai”, từ ý niệm thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật thời trung đại sang quan điểm hiện đại cùng các nền thơ khác trên thế giới. Tới nay cuộc cách tân thơ Việt về thi pháp với những đại biểu, theo thứ tự và thành tựu là: 1- Nguyễn Đình Thi (1946; tiên phong, dang dở); 2- Thanh Tâm Tuyền (1955; ảnh hưởng lớn, hiệu quả); 3- Trần Dần (1963; ảnh hưởng lớn, thể nghiệm); 4- Nguyễn Quang Thiều (1992; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục); 5- Thơ Tân hình thức Việt (2000; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục); 6- Nhóm Mở Miệng (2001; ảnh hưởng giới hạn, thuộc về các vấn đề ngoài thơ).
Một cách tương đối, nếu xem hành trình sáng tác theo 4 bậc thang - Cách mạng (Cải cách) thơ: cần văn hóa, thời đại mới, thông qua chủ nghĩa, triết thuyết mới; Cách tân (mở đường) thơ: cần thi pháp mới, tạo khuynh hướng mới; Đổi mới thơ: bằng bút pháp mới tạo lối viết mới; Sáng tạo thơ: qua phong cách mới với thủ pháp mới - thì Thơ Tân hình thức Việt ở bậc thang Cách tân.
Thi ca là triết học cất cánh,
bay vào trái tim người rồi bay ra cuộc đời. Chúng
ta cần có một chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-khác-lạ của thơ Việt mà trước đây
chúng chưa đi hết, đến nay chúng chưa đi tới. Văn hóa nào cũng có thơ ca làm
tinh hoa. Từ lâu người Việt thường an phận rằng văn hóa Việt không có luận
thuyết theo quan niệm Tây phương, rằng
tư duy văn học - nghệ thuật Việt không theo tinh thần lý thuyết, duy lý như ở
Âu châu, phong cách khoa học thiết thực Bắc Mỹ. Trong 4 nhóm, trường thơ
Việt (Nhóm thơ Bình Định/ Trường thơ Loạn, Xuân Thu Nhã Tập, Nhóm Dạ Đài và Thơ
Tân hình thức Việt), thiển nghĩ, đến nay Xuân Thu Nhã Tập duy nhất là
nhóm phái có lý thuyết thơ hài hòa Đông Tây, có thực hành đủ thuyết phục về
chất lượng và được giới học thuật chính
thống quan tâm (dù chậm đến 40
năm) mà trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả: trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên chiêm bái. Cần tri ân các xu hướng, cách viết mới cho
thơ Việt từ một số ít cá nhân độc lập trong quá khứ chưa được, hay chưa thể, trở thành trường phái hoặc
trở nên có lý luận như ở các hiện tượng Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Dương
Tường... Và cũng nên ghi nhận trong mươi năm qua những khởi xướng, thử nghiệm
mang yếu tố hậu hiện đại của Khải Minh (thuyết thơ cấu), Đặng Thân (thủ pháp
thơ phụ âm), Nguyễn Tôn Hiệt (thủ thuật thơ thực hiện), nhóm nhà thơ của Ban
nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, Ngu Yên (thơ trình diễn) và đôi ba nhóm/ thi
sĩ khác.[viii]
Thơ Tân hình thức Việt đã tự và đang được khẳng định
như một tiến trình đầy thử thách mà thành đạt trong sự nghiệp đổi mới nghệ thuật
thi ca Việt, bắt đầu từ sự kiện cuốn sách Thơ
không vần - Blank verse song ngữ
Việt-Anh xuất bản tại Mỹ vào tháng 5/2006 gồm 65 tác giả ở trong và ngoài Việt
Nam. Bài tựa của Khế Iêm, Tân hình
thức bước ra từ nền văn học suy tàn, toát lên cao vọng với niềm “cực
đoan dễ thương” thường thấy ở các nhà khai phá kiên tâm và thực tài.
Cuộc tranh luận ở hải ngoại kéo dài trong các năm
2002-2006 dàn trải trên nhiều diễn đàn, rạo rực và căng thẳng. Mở đầu mạnh mẽ
và bài bản nhất là bởi Nguyễn Vũ Văn và rồi sự khơi lại coi như khép màn cũng
khá căn bản bởi Chân Phương. Bất chấp, chúng tôi vẫn thấy các thảo luận là lành
mạnh và khoa học xét về văn hóa và kiến thức tranh luận. Một đóng góp bức thiết
để khai triển thi pháp thơ Việt Nam.
Kết quả mà Khế Iêm cùng các bạn thơ trong thi phái làm được là cao hơn nhiều
bên mức độ cảm thụ thơ cùng sự phát triển văn hóa ở người Việt hải ngoại và
người Việt Nam nói chung. Giá như nhóm Tân hình thức
Việt giảm thiểu ý nghĩa “chuyển lửa Tân hình
thức Mỹ” cho văn chương Việt, cho người Việt ở hải ngoại và ở Việt Nam thì sự
tranh luận chắc sẽ dịu đi phần ồn ào về hình thức không đáng có. Khai thông
nghệ thuật, mở ra một quan điểm mỹ học khác cho một cộng đồng là nhu cầu nội
tại của chính cộng đồng với dòng văn hóa của nó chảy trong thời đại của nhân
loại. Chỉ khi đó “cây” tân nghệ thuật mới có thể tỏa ra ngoài bóng hình của
mình.[ix]
Trong sinh hoạt văn hóa và văn học, giữa cả ngàn báo chí in giấy và trên
mạng của cộng đồng người Việt ở ngoài nước từ 1975 tới nay, nếu chỉ được kể 3
diễn đàn thì với chúng tôi Tạp
chí Thơ[x],
cùng với Tập san Hợp Lưu và Báo mạng talawas, là có giá trị nhất về phẩm chất
văn chương và tính khai phá báo chí. Một trong các giá trị của Tạp chí Thơ là
đã làm cái nôi, làm ngôi nhà cho sự hình thành, phát triển dòng Thơ Tân hình
thức Việt. Âu cũng nhờ thuận lợi trong
chủ trương của diễn đàn này: vì văn chương và của văn chương. Nói về thể loại,
hầu như các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng thơ (và nhất dịch thơ) là thành tựu
lớn nhất của văn học Việt hải ngoại. Nói về phong cách và thẩm mỹ, Thơ Tân hình
thức vẫn đứng đầu, kế sau là trào lưu hậu hiện đại, phong cách hiện thực thần
kỳ, văn học nữ quyền, mỹ học của cái tục, của thân xác, v.v… Đứng đầu không chỉ
ở phong trào sáng tác mà còn ở tiếp nhận lý thuyết từ văn học quốc tế qua những
sáng tạo mới mẻ chứ không chỉ nối tiếp, minh họa.[xi]
Có thể nói gọn nơi đây trọng
điểm trong lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học Việt hải ngoại: Tiếp nhận,
phát triển, sáng tạo khuynh hướng riêng (Thơ Tân hình thức Việt) từ các trường
phái trên thế giới, sáng tạo thuyết mới, kỹ thuật mới (Thơ cấu, Thơ thực hiện);
Truyền bá, dịch thuật các lý luận, học thuyết, khuynh hướng mới, các tác
giả, tác phẩm đang nổi tiếng của văn học thế giới mà đối tượng chính là độc giả
trong nước; Tái giới thiệu, phê bình và mạnh nhất là phê phán, bài bác các bất
cập, nhược điểm, sai lầm, các sự kiện, vấn đề mới lạ từ văn học đương đại trong
nước; Giới thiệu các tác giả, tác phẩm, sự kiện văn học hải ngoại; Công kích,
phản bác các tác giả, tác phẩm, sự kiện văn chương khác chính kiến; và tất
nhiên ưu tiên số 1 vẫn là Quảng bá, tái thẩm định, phê bình theo hướng bảo vệ,
duy trì văn học miền Nam trước 1975 và các “vùng trắng” trong văn học hiện đại
Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, cùng những vấn đề kinh điển của văn học Việt…
Trào lưu
Tân hình thức Việt phát sinh ở Mỹ, từ “thủ phủ Bolsa” của người Mỹ gốc Việt,
rồi phát triển ở hầu khắp hải ngoại và ở cả Việt Nam ngay từ 4-5 năm đầu cho
tới nay; và cuối cùng nó đã chọn Việt Nam là nơi làm cuộc tổng kiểm thảo đầu
tiên bên sông Hương núi Ngự dưới mái nhà Tạp chí Sông Hương như một diễn đàn
văn học có thẩm quyền và sáng giá vào loại nhất không chỉ của địa phương mà của
cả đất nước Việt Nam. Một hành trình thơ sôi nổi nằm gọn trong cả hành trình
đầy thương đau và lạ lùng của người Việt từ thời hậu chiến đến thời toàn cầu
hóa. Hỏi có gì hơn thế khi muốn nói văn chương là con đẻ của thời đại, của cuộc
sống? Hỏi có gì hơn thế khi muốn minh họa cho sự giao hảo để mà từ đó có thành
phẩm chung giữa văn hóa Đông phương và Tây phương vốn mang nhiều khác biệt, bất
đồng?
Liên quan tới
khái niệm thơ không vần, không kể thể
thơ văn xuôi bộc phát tiếp nhận từ
văn chương thế giới, trong quá trình phát triển thơ Việt Nam có 2 cuộc cải cách
xa nhau đúng nửa thế kỷ mang ý nghĩa phá thể[xii],
với thơ Nguyễn Đình Thi (1949) và Thơ Tân
hình thức Việt (2000). Thơ không vần (so với Thơ
Mới thời đó) của Nguyễn Đình Thi là loại thơ phá thể đầu tiên từ thơ tự do mà
hiện nay thơ tự do đã phổ cập tới mức như một dòng chính song hành với tất cả
các thể còn lại. Tại đây, người viết muốn trang trọng đưa ra so sánh: sông Hồng
là dòng thơ truyền thống vần điệu Việt và sông Cửu Long là dòng thơ tự do cách
điệu Việt[xiii].
Bất toàn về thi pháp, bất thành về số lượng, bất dung về ảnh hưởng; nhưng chỉ
riêng nhịp điệu Nguyễn Đình Thi đã đi
trước thời đại và được chuyển giao đến thơ tự do không vần Thanh Tâm Tuyền
(1956) mỹ mãn cả về thi pháp lẫn thực hành cùng ảnh hưởng, dù chậm trễ do cản
trở ở nhận thức người đọc và thời cuộc đất nước. Trên con sông thơ tự do, thơ
không vần Nguyễn Đình Thi là của số đông, thơ không vần Thanh Tâm Tuyền là của
Thanh Tâm Tuyền mà số đông cần có như một bến trên.
Sau Hội thảo này, nơi hưởng lợi nhiều nhất không chỉ là Tân hình thức Việt, mà còn là mọi sáng tác và sinh hoạt nghệ Việt Nam
theo cung cách trào lưu, nhóm phái… Đã đành thơ hay có thể không cần
trường phái, và thường là thơ hay theo-kiểu-bình-thường thì không theo trường
phái nào. Nhưng thơ trường phái sẽ tạo cơ hội cho thơ hay phải nảy nở theo
hướng khác, và bắt buộc thơ-hay-theo-hướng-cũ phải hay hơn nữa nếu không muốn
bị vượt qua. Dùng cách nói chính trị, nếu thơ trường phái không đủ mạnh để làm
đối lập hay đối trọng, thì chí ít nó cũng làm phản biện cho thơ không trường
phái.
[i] Bản nguồn:
“Ôi
kể sao hết được
Những
anh hùng đánh Mỹ hôm nay
Như
Cửu Long mênh mông sóng biếc
Như
Trường Sơn sừng sững rừng cây”
(Thơ
Lưu Trùng Dương).
[ii] Trong bài, ở nhiều chỗ cụm từ “Thơ Tân hình thức Việt” tùy ý nghĩa được viết
gọn là “Thơ Tân hình thức”, “Tân hình thức Việt”, hoặc “Tân hình thức”.
[iii] Những nụ hồng
của máu của Nguyễn Đăng Thường, bài thơ “khai sinh” Tân hình thức Việt,
hiện chưa thấy đăng trên trang mạng; bản đầu tiên in trên Tạp chí Thế Kỷ 21 (số
27 - tháng 7/1991, California), sau đó có sửa chữa khi in trên sách báo khác:
Tạp chí Thơ (tr. 124, số 18 - 2000), tuyển tập 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại (tr. 254, Nxb Tân Thư, California
2002), tuyển tập Thơ không vần - Blank
verse (tr. 101, Nxb Tan hinh thuc, California 2006).
[iv] Khế Iêm “đã làm bài Tân hình thức và câu chuyện kể và viết thành bài tiểu luận Chú giải về Thơ Tân hình thức trong đó
lọc ra một số yếu tố như vắt dòng, lặp lại câu chữ, tính truyện và ngôn ngữ đời
thường. Bài thơ và tiểu luận đó in vào mùa Xuân năm 2000, cùng với sự hưởng ứng
của 11 nhà thơ Việt, chào đón thiên niên kỷ mới.” (Văn Bảy, Thơ
kể - tiếp nhận một thể mới cho thơ Việt!, thethaovanhoa.vn 18/7/2010).
[v] Xem thêm: Hai trong rất nhiều khao khát; Nguyễn Huy
Thiệp: "Có lẽ đã đến lúc người ta phải nghĩ đến một 'type' nhà văn khác:
lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý
luận, lý lẽ chứ không mò mẫm"; và Inrasara: “… chúng ta cần phát biểu
nhiều hơn nữa, có nghề hơn nữa. Để có thể khai mở một trào lưu sáng tác, một
trường phái văn chương. Các ý kiến cảm tính, cảm nhận mơ hồ hay quan điểm còn
rời rạc… cần được đúc kết và nâng cấp thành một hệ thống lý thuyết. Làm nền
tảng cho sáng tạo chuyên nghiệp." (Nguồn: Bùi Đức Hào, Cái Đẹp như
thách thức trong văn nghệ và triết học – 3,
diendan.org 14/9/2013).
[vi] Đỗ Quyên, Vòng vo về trường-phái-nhóm thơ Việt từ cảm
xúc Hậu hiện đại Việt, vanchuongviet.org 21/12/2009.
[vii] Các nhóm Sáng Tạo, Tự Lực Văn Đoàn không thuộc về các
trào lưu thi pháp.
[viii] Đỗ Quyên, Đến
trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt, Tạp chí Sông
Hương số 257 tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010; Tham khảo:
Inrasara, Thơ
Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại, inrasara.com 3/3/2009. Cập nhật:
Trong các thể loại mang khát vọng cách tân vừa dẫn trong bài, đến nay còn thơ
phụ âm (xem tiếp mục V.1.) và thơ trình diễn có ảnh hưởng nào đó; Bài thơ phụ
âm mới nhất được công bố là 6i+Hi vii (Ðặng Thân, tienve.org
21/8/13); với thơ trình diễn là Chết kiểu Lê Uyên Phương (Ngu Yên, gio-o.com 1/10/2013).
[ix] Đỗ Quyên/ Nguyễn
Đức Tùng, Thơ đến từ đâu,
talawas 8/8/2006; Nxb Lao Động 2009, tr. 332-333; và ebook damau.org
26/12/2011.
[x] “Từ trước trong văn chương Việt Nam chưa có một tạp chí chuyên về thơ, suy luận
về thơ, đăng tải phổ biến thơ của các tác giả có uy tín của Việt Nam và
các nhà thơ danh tiếng trên thế giới.” (Quỳnh Thi, Tân
hình thức - một thể thơ đã thành hình trong văn học Việt Nam,
thotanhinhthuc.org).
[xi] Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải, Tham
luận Hội thảo “Văn học hải ngoại: Thành tựu và tiềm năng” - California 27/1/2007, và damau.org
23/12/2006.
[xii] Thử đi tìm “Ai là tác
giả đầu tiên của thơ phá thể từ thơ tự do ở Việt Nam?”:
a. Vận hội mới của dân tộc, ngay từ những năm 1945-1946, đã tạo ra cuộc
“tiểu cách mạng” thể loại Thơ Mới mà Nguyễn Đình Thi là người “nhận đường” trực
tiếp theo cả nghĩa đen (quan hệ đồng chí) lẫn nghĩa bóng (nghệ thuật thơ) từ
các tác phẩm của Trần Mai Ninh, Trần Huyền Trân, Hữu Loan và Văn Cao dù đơn lẻ,
chưa hoàn toàn cách tân nhưng quan trọng ở sự biến đổi lối viết và - vinh quang
thay cho thi pháp thơ! - đó cũng là các thi phẩm vô giá không chỉ vì được viết
bằng máu trong lịch sử thơ cách mạng và chiến tranh Việt Nam.
Xem
thêm:
+ “Giở
những trang thơ thời kỳ đầu kháng chiến, có một ‘tam tuyệt thi’ cứ lừng lững
trong tâm trí bạn đọc: Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Hải Phòng 19/11/1946 của Trần Huyền Trân, Đèo Cả của Hữu Loan. Ba bài thơ được sáng tác cùng
một năm (1946), cùng tập trung khắc chạm hình tượng đất nước, con người Việt Nam trong cuộc binh lửa gian khổ,
thiếu thốn, hy sinh nhưng lãng mạn, hào hoa, anh dũng qua một lối thơ tự do đến bung tỏa, bạo liệt.” (Chế Diễm Trâm, Đèo
Cả của Hữu Loan, vanchuongviet.org 14/1/2012).
+ “Tại
thời điểm này [1945], với tác động của
cách mạng, cho dù ngôn ngữ thơ và thi ảnh đã mới thì Trần Huyền Trân vẫn
chỉ tung hoành cái mới của mình trong các thể thơ truyền thống (…) Chính thực tế
của Hải Phòng chiến đấu đã khiến cho hồn thơ Trần Huyền Trân thăng hoa sang một thể thơ tự do chất chứa đầy ắp hiện
thực. Bây giờ, thời gian đã qua đi nửa thế kỷ. Đọc lại Hải Phòng 19/11/1946
mới thấy hết cái đóng góp đóng cọc mốc
đầu tiên cho thơ chống Pháp của Trần Huyền Trân và thơ ca Hải Phòng trong
thời đại mới. Ở bài thơ, sức khêu gợi của những ngôn ngữ sống, những chữ mới, những thi ảnh mới đã làm mới
nó cùng nhịp điệu không bao giờ Thơ Mới có được. Cuộc chiến đấu chống xâm
lược đã khước từ những giọng điệu mượt mà của Thơ Mới. Nó cần chất thơ thô ráp,
mạnh mẽ như chính sức sống của nó. Vần và nhạc tính nằm ở ngay trong chi tiết,
ý tưởng của câu thơ. (…) Ngay từ đầu đề bài thơ, Hải Phòng 19/11/1946 đã cho
thấy một sự khác lạ so với những đầu đề thời Thơ Mới…”; Cảm nhận của Nguyễn Đình Thi: “Buổi sáng hôm ấy, tôi đọc trên
tờ Cứu Quốc bài Hải Phòng 19/11/1946 in suốt dọc trang báo. Vẫn cái hơi thơ bộc trực, và lần này dồn dập vang lên tiếng kèn trận.”
(Nguyễn Thụy Kha, Trần Huyền Trân với
‘Hải Phòng 19//11/1946’, vnca.cand.com.vn 25/11/2006).
+
Với Văn Cao: Bài Ngoại ô mùa đông 1946
đã được sáng tác ngay tại chiến lũy Ô Chợ Dừa vào tháng 12/1946 và sau in trên
Văn Nghệ số tháng 4-5/1948. Trước đó tác giả cũng có bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (1945) bước đầu của sự phá thể thơ
tự do “cũ” với ngôn từ, cảm xúc và nhạc tính còn dính dấp với Thơ Mới. (Tham
khảo: Văn Thao, Ngoại ô mùa
đông năm 1946, antgct.cand.com.vn 2/12013; Thiên Sơn, Nhà thơ Văn Cao: ‘Còn
những tiếng rạn vỡ’, vanvn.net 7/7/2013; Khuất Bình Nguyên, Có
ai cưỡi ngựa về Kinh Bắc, vanvn.net 19/10/2013; và Lê Thiếu Nhơn, Hành
trình thơ Văn Cao, giaitri.vnexpress.net 23/9/2011).
b. Nói thêm: Khoảng năm 2008, tại tòa soạn Tạp chí Khởi Hành (California) tôi đã được
nhà thơ Viên Linh cho xem bản chụp từ một tờ báo xuất bản trong vùng tạm chiếm
thuộc Hà Nội vào khoảng 1944-1947 (?) đăng một vài bài thơ ở thể thơ tự do có
phong cách rất khác Thơ Mới. Dù chỉ đọc vội, tôi cũng đề nghị Viên Linh sớm
giới thiệu tư liệu quý với niềm tin đó là tác giả thơ tự do đầu tiên hoặc đồng
thời cùng 3 tác giả thơ cách mạng nói trên. Có thể vì tác giả này không nổi tiếng,
hoặc chất lượng thơ hoặc hoàn cảnh binh lửa mà các bài thơ ấy bị lãng quên.
Thông tin này được ghi lại theo trí nhớ với sự dè dặt thường lệ.
c. Tham khảo: “Cũng như tiểu thuyết phá thể, thơ phá thể không phải là một trào lưu, một trường phái như những chủ
nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực v.v… vì phá thể thơ là một vận động hủy tạo
hiểu theo nghĩa “vận động hủy triệt trong sáng tạo”, có thể diễn ra trong quá
trình làm thơ của một nhà thơ, hay thể hiện đồng điệu nơi nhiều người, không
nhất thiết chung một ngữ pháp sáng tạo. Cuộc cách mạng thơ, phá thể thơ khởi từ
khi nào? Có gắn liền với lịch sử, với xã hội, với chính trị? Tùy thuộc vào lý
giải, dưới góc nhìn của nhà phê bình? Hay từ sáng tạo của người làm thơ?” (Đặng
Phùng Quân, Khái luận phê bình lý trí văn chương, kỳ
99, Thơ phá thể,
gio-o.com 8/10/2013).
[xiii] Còn sông Hương đang là dòng sông chảy quanh Hội thảo
đầu tiên cho thể thơ mới có hình thức “truyền thống” và nội dung “tự do”: Thơ
Tân hình thức Việt!
(còn tiếp)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét