Dầu sao thì những dòng chữ một khi đã gắn liền vào da vào thịt
ấy cũng ảnh hưởng đến lề lối suy nghĩ của mỗi người. Hoanh thì ồn ào, sôi nổi,
đầy vẻ anh hùng tính một cách rất cá nhân và hiếu thắng. Ở giữa đám đông, bao
giờ Hoanh cũng chứng tỏ sự hiện diện của mình bằng cách ăn to, nói lớn. Trong
mỗi câu nói, bao giờ hắn cũng tìm cách chêm được vào một tiếng thật kêu, thật
sáo, có khi sai lạc cả ý nghĩa nhưng hắn lại rất vừa lòng về phương diện “trí
thức” ấy của mình. Thêm vào đấy, Hoanh lại còn diêm dúa nữa. Ở cổ hắn, lúc nào
cũng có một vuông lụa đỏ, vuông lụa không bao giờ rời hắn, ngay cả đến giờ phút
nguy nan, dễ lộ mục tiêu nhất, hoặc vướng víu nhất, hắn cũng không chịu bỏ ra.
Cái bản tính này thật phù hợp với cái tính kiêu kỳ, diêm dúa
không kém của Thư, vợ hắn. Hồi chưa cưới nhau, họ là hai cái đinh đặc biệt để
mọi người trong ấp xì xào. Giữa thời kỳ chiến tranh, sự tàn phá đã cầy vào đến
từng gốc chanh, ngọn quít, giữa lúc mà dân chúng lấy hầm hố làm nhà, sống chui
rúc ẩn náu mũi tên hòn đạn của cả bên này lẫn bên kia, thì Thư vẫn có thể làm
đỏm được với đôi môi hồng, với mái tóc xức dầu óng ả. Sự đỏm đáng tuy khiến các
ông già, bà cả đàm tiếu nhưng lại được bọn thanh niên chiếu cố hết mình. Trong số
đó có cả thằng Hoanh lẫn thằng Há. Há ôm một mối tình câm nín, tuyệt vọng vì nó
rất xí trai. Người đã nhỏ thó, lại đen, lại xấu, ăn nói thì cục cằn chẳng ra vẻ
gì là có văn hóa. So với anh Hoanh, Há thua rất nhiều bậc. Mặc dầu vậy, nó vẫn
yêu. Càng thấy ánh mắt long lanh, tánh tình lộ liễu của Thư đối với anh ruột
của mình, Há càng mê đắm, càng nung nấu hình ảnh của Thư trong trái tim nóng
hổi. Tất nhiên đó chỉ là mối tình tuyệt vọng. Trước mắt Thư, Hoanh như một hào
quang che mờ cả hình ảnh một thằng Há loắt choắt, chẳng có vẻ gì là thương được
cho nổi.
Và rồi Thư đã ngã vào tay Hoanh trong một đêm tối trời, có
tiếng đại bác rót ì ầm về phía mật khu Lê Hồng Phong. Đám cưới sau đó chỉ còn
là vấn đề hợp thức hóa một sự đã rồi. Cũng chẳng ai quan tâm lắm đến điều đó,
bởi vì mọi người đã phân tán đi dần dần theo đà biến chuyển của tình hình chiến
sự. Một số gia đình rút lên tỉnh. Một số khác đi theo chương trình Phát Triển
Dinh Điền. Cũng có nhiều người ngã xuống và may mắn thay, họ được an nghỉ vĩnh
viễn trên mảnh đất quê hương của mình, điều mà các ông già bà cả vẫn ước ao
được như vậy. Có những người đã toại nguyện. Nhưng cũng có những kẻ khác chưa
biết số phận của mình sẽ ra sao, và họ cứ bền bỉ với ước ao nhỏ mọn đó bằng
cách bám riết lấy xóm làng như những con đỉa đói.
Dù trong hoàn cảnh buồn bã như vậy, nhưng việc lập gia đình của
Hoanh vẫn không bị giảm sút niềm vui tràn ngập trong lòng hắn. Nàng đã để lại
trong trí nhớ của hắn hình ảnh của một cô dâu tuyệt vời đúng như hình ảnh của
những đêm tân hôn mà hắn thường vẽ trong ý nghĩ. Bao giờ, ở đâu, lúc nào và
ngay cả khi ân ái, Thư cũng sống động, cháy bỏng khiến cho gã luôn luôn cảm
thấy mình được nâng niu, chiều chuộng, tuân phục, khiến gã lúc nào cũng như
được uống những ly rượu nồng.
Nhưng rồi Hoanh dần dà nhận ra rằng tính sôi nổi, lẳng lơ tình
tứ của Thư chẳng phải chỉ dành cho riêng gã. Cái đầu mày cuối mắt ấy của Thư
sao mà cứ như của chung tất cả mọi ngưòi, nhất là cái đám thanh niên mà Thư gặp
gỡ. Nàng ban phát một cách dễ dãi những nụ cười, những cái liếc mắt đong đưa,
những cái phát vai, phát vế đôm đốp trong tiếng cười giòn giã. Điều đó làm
Hoanh nổi cơn ghen lồng lộn. Nhưng càng ghen, càng chửi rủa tục tằn, càng phản
ứng với nàng thô bạo bao nhiêu, Hoanh càng thấy Thư như cái bóng hạnh phúc chập
chờn, nhởn nhơ ở ngoài tầm tay nắm giữ của hắn bấy nhiêu. Có lẽ rồi trong suốt
cuộc đời, hắn sẽ phải mãi mãi ở trong cái thế săn đuổi, gìn giữ, chụp bắt hoài
hoài cái con người nồng cháy ấy.
Điều mà Hoanh hận nhất là sau đêm bị thằng Há lén vô mùng, thế
mà Thư không chịu mất lấy một giọt nước mắt. Nàng vẫn nhơn nhơn như không thấy
đó là một điều ô nhục, như lương tâm của nàng chẳng hề bắt nàng phải cắn rứt.
Đến nỗi, mỗi lần say rượu nhắc lại chuyện đó, Hoanh không thấy thù hận thằng Há
bằng thù hận thái độ nhởn nhơ của nàng. Hắn đã gào lên:
-
Mầy có đầu óc suy nghĩ gì không? Tao như mầy thì tao đã
đâm đầu xuống sông chết cha đi cho rồi.
-
Thư vênh váo:
-
- Việc gì mà tôi phải chết. Tại nó chứ bộ tại tôi sao?
-
- Tại nó, sao mày không “hú” lên?
-
- Tôi hú, nhưng ai mà thấy? Anh nằm chết giấp trong
đồn, có vợ không lo thủ, còn nói. Đêm tối hù như thế, biết ai với ai mà đòi “
hú”.
Lời nói của nàng có đôi chút hữu lý. Bởi vì cũng có rất nhiều khi Hoanh làm
tình với nàng ở trong bóng tối ngay cả khi nàng đang ngủ mê mệt. Nhưng lòng hắn
vẫn hậm hực:
-
- Mầy không thấy, nhưng lương tâm của mầy sau đó cũng
phải cắn rứt chớ. Bộ bị thế rồi cứ nhơn nhơn cái mặt được sao?
-
Thư cười giòn:
-
- Bộ anh nhìn thấy được lương tâm của tôi sao, mà anh
biết nó không cắn rứt?
-
- Ngó cái mặt của mầy, làm sao tao không biết!
-
- Mặt tôi làm sao?
-
- Tức ứa gan quá đi.
-
- Tức thì thôi nhau đi. Nói cho hay, cái mặt anh cũng
chẳng đẹp đẽ gì. Người ta không nói là không nói vậy thôi. Đừng có nghèo mà
ham!
-
Những lời đối đáp cạn tầu ráo máng như vậy vừa đủ tạo
thành một cái cớ để họ xáp lại đánh nhau túi bụi. Kết cục, Thư ngồi khóc ở đầu
hè, Hoanh bỏ đi uống rượu. Men rượu gậm nhấm làm phai dần lòng thiết tha đối
với xóm làng của hắn. Cho đến một buổi chiều ngồi trong góc quán nhìn đoàn xe đầy
lính di chuyển băng băng qua quốc lộ mù mịt khói và bụi, Hoanh bỗng nẩy sinh ý
tưởng thoát ly gia đình để tìm một bầu không khí mới. Cái ý tưởng đó trước chỉ
là một cái bóng mơ hồ, sau hiện ra thành những toan tính rõ rệt, và cuối cùng
đã trở nên một khát vọng mà hắn ấp ủ không nguôi.
- Sẽ có một ngày tao
bỏ ra đi!
Bỏ ra đi cũng là một
cách trả thù những người ở lại. Điều đó hiển
nhiên ai cũng nhìn thấy rồi.
*
**
Những lời bàn tán về cái chết của thằng Bình, Hoanh nghe nhưng không góp
chuyện. Đứng giữa đám đông ở phố chợ nhỏ bé này, bản chất ồn ào của Hoanh bỗng
mất hẳn. Cái tâm lý này hầu như tất cả các bạn của Hoanh đều mắc phải, nhất là
những lúc ra phố có một mình. Một số không nhỏ dân chúng ở đây đã nhìn Hoanh và
những đồng đội của Hoanh với cặp mặt của kẻ đối nghịch. Họ là những người có
thân nhân đã chết vì bom đạn của bên này hoặc có người quen biết hoạt động cho
hàng ngũ bên kia. Những ý tưởng đối nghịch được thúc đẩy hoàn toàn bằng những
lý do tình cảm chứ không phải vì lý trí biết so sánh chủ nghĩa này hơn, chủ
nghĩa kia kém. Đầu óc đơn giản của họ chỉ quan tâm đến ruộng vườn, trâu bò, mùa
màng, mưa nắng. Và họ chỉ động lòng trắc ẩn đối với những tên du kích bên kia,
khi thấy chúng cứ phải kéo dài mãi cuộc sống lẩn trốn, lén lút trong đói khát,
thiếu thốn. Cái nhìn của họ đối với cuộc chiến, ít ra là vào thời điểm này, hầu
như chỉ đơn giản có thế mà thôi.
Hoanh lách qua đám đông chen chúc dưới bóng mát của một tàn cây lớn để chui vào
một quán lá lụp sụp. Hắn kêu một xị rượu nhấm nháp với đĩa tôm khô. Bên cạnh
gã, khẩu Thompson trần trụi đã tháo báng nằm lạnh lẽo trên mặt bàn. Hắn mệt mỏi
nghĩ đến gia đình, bạn bè và khung cảnh rã rời trước mặt. Những ý nghĩ thoát ly
lại bắt đầu gậm nhấm tư tưởng của hắn như men rượu đang bắt đầu dâng lên làm
mắt hắn thêm hoa, nắng lửa bên ngoài thêm đỏ rực. Hắn bỗng nghĩ đến một đời
sống thường trực di chuyển của những đoàn lính tác chiến. Cực khổ gian nan
nhưng lúc nào cũng đổi mới, lúc nào cũng đầy sinh động với tiếng bom rơi, đạn
nổ, tiếng lửa reo, tiếng kèn trận và những tiếng la hét om sòm trong đêm thâu
của những kẻ biến thành thiêu thân của lửa đỏ. Rồi khi đám người rút về hậu
tuyến, những kẻ sống sót lại vẫn tiếp tục sống điên cuồng, hối hả với những
ngày nghỉ phép ngắn ngủi tuy quí giá nhưng lại chỉ biết tiêu vào chuyện gái,
chuyện rượu, chuyện đập phá, đánh lộn để rồi bất chợt vào buổi sáng tinh mơ hay
lúc nửa đêm khuya khoắt, tất cả lại lầm lũi cấp tốc ra đi, hướng về một trận
địa mới.
So sánh cuộc sống ồn ào, sôi nổi, và đầy vẻ hào hùng đó với nếp
sống buồn tẻ của những ngày đứng chôn chân trong một vọng gác đã quen thuộc đến
từng bờ cây, ngọn cỏ, hay những buổi tuần tiễu quanh một chu vi không vượt quá
một tầm mắt hẹp, Hoanh lại càng thấy mình có nhiều lý do để thực hiện một cuộc
thoát ly. Như thằng Hinh, thằng Dũng đã làm. Giờ này, phút này không biết hai
kẻ ham chuộng phiêu lưu ấy đã luân lạc đến chiến trường nào và Hoanh không biết
cuộc đời đã xô đẩy chúng đến hoàn cảnh nào trong cuộc sống. Nhưng gã tin rằng
dù bất cứ chúng ở đâu, làm gì, chắc chắn cũng đáng vươn ngực tự hào, hơn là
đóng một vai trò mòn mỏi của một chú dân vệ quèn như hắn hiện tại.
Bỗng có tiếng ồn ào trước cửa và mọi người có vẻ nhốn nháo.
Hoanh nghe thấy cả tiếng ổ súng đem đạn lên nòng kêu lách cách. Hắn vội chộp
lấy khẩu Thompson của mình và lao ra cửa. Trong men rượu chập choạng, Hoanh
nhận thấy mấy bạn đồng đội của mình đang vây quanh một gã thanh niên. Thân hình
nhỏ thó của gã với khuôn mặt choắt choeo gợi cho Hoanh một hình ảnh quen thuộc.
Hắn cố lục lọi trí nhớ và một kỷ niệm xa xôi nào đó chợt lóe lên trong ý nghĩ:
-
À! Thằng Sách! Thằng Sách ở xã trên, hồi nhỏ đi làm mướn ở Vĩnh Hội và cũng đã có thời kỳ đi học
cùng với bọn Hoanh ở trường sơ cấp trong làng.
-
Sự xuất hiện đột ngột của nó làm Hoanh như vụt sống lại
cả một quãng thời gian êm đềm khi thôn xóm còn im tiếng súng. Bây giờ Sách đứng
đó. Vẫn thân hình nhỏ thó ngày xưa, nhưng nước da xanh mét, mặt mũi vêu vao,
quần áo xốc xếch, với một vết thương băng vội bằng nùi giẻ ở bụng chân bên
trái. Câu chuyện lộn xộn có vẻ bắt nguồn từ cái nùi giẻ đẫm máu này. Quả nhiên,
vừa trông thấy Hoanh, thằng Hữu, một đội viên trong tiểu đội của Hoanh đã la
lên:
-
Anh Hoanh đây rồi! Tụi tui bắt được thằng này mới tham
dự cuộc kích cầu đêm trước.
-
Hoanh len qua vai một vài người, vừa tiến vào hắn vừa
hỏi:
-
- Thằng Sách ở xã trên đây mà. Sao mầy biết nó dự vụ
kích cầu?
-
- Thì chân nó đó. Anh thử vạch ra coi có phải nó ăn đạn
Carbine của tụi tôi không?
-
Gã bị tình nghi, khi được Hoanh nhận ra tên của mình
thì vẻ mặt bớt nhợt nhạt hơn. Gã nói líu ríu:
-
- Phải rồi. Tôi là Sách đây “anh” Hoanh. Tôi Quốc Gia
mà. Tôi đâu có biết kích cầu, kích cọt gì đâu.
-
Hoanh kéo thêm cái ống quần bên trái của gã lên cao nữa
và hỏi:
-
- Cái chân này làm sao đây?
-
- Tôi ... Em .. Em té!
-
Một đồng đội của Hoanh la lên:
-
- Té cái con chó! Chân này không ăn phải miễng đạn cứ
chặt đầu tui đi.
-
Hoanh ra lệnh:
-
- Lột thử cái nùi giẻ ra coi!
-
Sách lậy van:
-
- Em lạy các anh. Em van các anh. Làm thế đau em lắm.
Rồi bỗng nhiên gã tu lên khóc như một đứa con nít. Thái độ bất chợt này làm
Hoanh nhìn gã chăm chú hơn. Những kỷ niệm thơ ấu ngày xưa chập chờn trong óc
gã. Nhưng một người đứng bên cạnh đã nhanh nhẩu rút chiếc dao găm, cúi xuống
cắt cái nút buộc chằng chịt trên vết thương của Sách. Mớ giẻ được rỡ lên. Những
tia máu tím bầm chợt ứa ra chan hòa trên bụng chân còm cõi của gã rồi chẩy qua
mấy đầu ngón chân và thấm xuống nền đất cát khô bỏng. Một bàn tay không biết
của kẻ nào nhấn phũ phàng vào miệng vết thương rồi banh ra. Mấy cái miệng cùng
la lên một lúc:
- Vết đạn rõ ràng.
-
Sách gân cổ lên cãi một cách tuyệt vọng:
-
- Em bị đạn, mà điều đó là đạn lạc hồi hôm. Em không đi
Cộng Sản. Em đi Quốc Gia. Em thề.
-
Vẻ mặt vừa thiểu não vừa sợ hãi của Sách làm Hoanh vụt
nhớ đến ngày xưa, cũng chính vẻ mặt y hệt như vậy đã nhiều lần Sách đã gân cổ
lên cãi với thầy giáo về sự nó không chịu làm bài và học bài. Nó cãi. Nó lý sự.
Rồi nó van xin. Rút cuộc nó thắng được lòng trắc ẩn của thầy giáo. Mười mấy năm
qua, Hoanh thấy nó vẫn là nó, mặc dù quê nhà biết bao thay đổi. Chính vì điều
đó mà trước mắt Hoanh bây giờ, nhân vật Sách học trò lấn át nhân vật Sách là
một tên du kích. Lòng Hoanh vụt nhen nhúm một nỗi chua xót y hệt như mỗi lần
Hoanh nghĩ đến thằng Há, em ruột của mình.
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét