VŨ HUY
QUANG
Đệ Tứ Quốc Tế biểu tình '45 tại Saigon
III.“Lỗi lầm” của Trần Độc Tú
Theo Đường Bảo Lâm, Trần Độc Tú theo Cộng sản vì “lầm lẫn”. Thật ra, thuyết Trốt kýt của Trần có là do luận điểm tột cùng của ông
về dân chủ, đế quốc và quan điểm xã hội của ông lớn dần lên từ king
nghiệm cay đắng về thất bại mà do sự dàn xếp của phe Stalin làm
ông vướng vào, trong cách mạng
1925-27. Kiểu trình bày của Đường là nói theo kiểu triết gia cấp tiến Hồ Thích trách Trần Độc Tú theo Cộng Sản vì lầm lẫn - sau khi ông đã
bỏ Đại Học Bắc Kinh cùng xa
cách nhóm bạn cũ. “Bốn bản văn” viết ngay
trước khi ông sắp qua
đời năm 1942, chứng tỏ ông là người xã
hội chủ nghĩa cùng là người quốc tế chủ nghĩa, ngay trong
nội dung là Trốt kýt.
(Đọc: G.Benton, Chen Duxiu’s Last Articles and Letters).
Như vậy thật là “lầm lẫn” khi bảo ông
“theo Trốtkýt vì lỗi lầm, để rồi cuối đời lại trở về theo Dân chủ-Tư sản. “
IV.Hai Mặt
Đường không hề tỏ ý thương sót hoặc tán
thành với vụ án dành cho các nạn nhân đối thủ của Stalin trong vụ án Moscow. Tại
Trung Quốc cũng thế, Đường cũng thấy sai
lầm khi lấy lời cung của những người Trốtkýt, theo Đường, để rồi trừ khử các nạn nhân, như vụ Dư Tín Đông (9),
Hoàng Thạch Vệ (Wang shih-wei).
Thế mà, Đường vẫn dùng những lời cung do nạn nhân
bị thẩm vấn để làm chứng cớ chống họ, nhận là từ “phương pháp lấy cung
khoa học” đối với các bị can
trẻ bị chế độ Mao bắt trong năm 1952; Đường lại dùng những thú
nhận ấy, để kết án bị cáo cùng các đồng chí
của bị cáo về tội ác chính trị.(Khác nào như trên
chứng từ của những thú tội đồng lọat ở Moscow thập niên 1930, bằng tra
vấn của GPU mà Zinoviev,
Bukharin…phải tự cung khai đã làm
gián điệp cho Hitler, “chỉ vì những ý nghĩ điên cuồng của họ”.
Những chứng cứ Đường chọn đem ra, rất lạ, như đã được dùng trong thời kỳ những người được học tập ở Moscow đem về (như Khang Sinh và Vương
Minh trước đó, (đầu
1930) đã dùng, và đã bị chính các nhà sử học ngay tại
Trung quốc ngày nay gạt bỏ, về việc “Trốt kýt Trung quốc đòi hợp tác
Quốc Dân Đảng”,
là “điềm chỉ Cảnh sát”, “cộng tác
với Nhật”. Lấy một thí dụ, những cung từ năm 1973 (sáu năm trước
khi những người Trốt kýt được tha
- hai mươi mốt năm sau khi họ bị bắt) mà người tù
Dư Chấn Hoa khai, là Trốtkýt Bành Thuật Chi
đã nói rằng, từng cộng tác với lãnh
tụ cao cấp của QDĐ là Tôn Khoa (Sun Ke,i.e., Sun Fo), con Tôn Văn,
đã quan tâm đặc biệt tới quỹ làm tờ báo Quizhen (“Cầu
Chân” -Tìm chân lý) của Bành; nào là Bành còn nói là đã tìm gặp Tôn Khoa ở Quảng Châu trước khi
đi HongKong năm 1949; rồi Trương Thư, một Trốtkýt phản bội làm cảnh sát
cấp cao cho QDĐ ở Thượng Hải, đã bảo là cố che chống cho chúng tôi; và khai là chúng tôi (tôi và Trịnh Siêu Lân) cùng nói là chúng tôi cảm thấy rất an toàn, khi quân Nhật
chiếm đóng Thượng Hải, vào đúng lúc mà Trần
Qúy Chung bị Nhật sát hại!.
Trả lời cho những vu
cáo như thế, đã có chính Dư Chấn Hoa nhìn nhận với Trịnh sau năm 1979, rằng bắt buộc phải nói như thế cho thẩm sát
viên, chứ lúc ấy, anh ta “mới 13 tuổi ở Dự Châu lên tỉnh, có biết gì
mà tố cáo ai.”
V.“Thất bại chủ nghĩa” và “Phản bội đất nước”
Đường Bảo Lâm không nhìn nhận cáo
buộc kiểu Vương Minh và Khang Sinh cho Trần Độc Tú cùng Trốtkýt Trung quốc hành
động như gián điệp “ăn tiền đế quốc Nhật”, nhưng ông ta có vẻ lại tin là người Trốtkýt (có lẽ trừ Trần Độc Tú) toàn là hành
động theo ý Nhật. Ông
ta cáo buộc Trốtkýt chỉ chủ trương Thất bại chủ nghĩa trước phong trào kháng Nhật,
cùng truyên truyền trong Đảng Cộng sản chủ trương như thế, trong lúc QDĐ
đang đối đầu với Đảng Cộng sản.
Ông ta vu cáo Trốtkýt
Trung quốc là “cực Tả và phản động”. Thật ra,
ông ta không hiểu (hay cố ý
không muốn hiểu) quan điểm Trốtkýt trên chiến tranh Trung-Nhật; đặc biệt, ông ta diễn dịch sai về “Thất bại chủ nghĩa.”
Chính sách của người Trốt kýt Trung quốc căn cứ trên sự phân tách của Trốtky, như sau:
“Theo như tôi
đã tuyên bố trên các báo chí Tư sản, thì bổn phận của toàn thể các tổ chức công nhân ở Trung
quốc là tham gia tích cực
và có mặt trên chiến tuyến trong cuộc chiến hiện nay với Nhật. Và không bỏ dở, không một lúc nào hết, chương trình riêng của mình
cùng sự độc lập của mình…
Nhưng Tưởng Giới Thạch có đảm bảo chiến thắng được không? Tôi
không tin. Chính ông ta, người tiến hành cuộc chiến hiện nay, chỉ huy nó. Để có thể thay thế ông
này điều cần là phải chiếm được ảnh hưởng quyết định trên giai cấp vô sản cũng như trong
quân đội, và đạt được điều ấy, người ta không cứ ngồi hóng mát mà có được, phải lao vào cuộc chiến. Chúng ta bắt buộc phải thắng trong cuộc chiếm lấy ảnh hưởng và uy tín của đấu tranh quân sự chống đế quốc xâm lăng, đồng thời chiếm phần thắng trong đấu tranh chính trị, vượt qua mọi nhược điểm, những thiếu sót cùng những lật lọng nội bộ. Đến chừng mực nào đó, chúng ta
biết là không thể sửa chữa trước khi có vấn đề, sự đối lập chính trị này có khả năng,
và phải, chuyển đổi thành đấu
tranh vũ trang, vì nội chiến – cũng như các cuộc chiến khác - không gì khác hơn,
chỉ .là cuộc đấu tranh chính trị kéo
dài. Điều cần, là phải biết đến lúc nào thì chuyển biến đấu tranh chính trị thành đấu
tranh võ trang”. (Nhấn mạnh trong nguyên
tác: L.Trotsky, Đời Tôi, 467)
Vậy đó là chủ trương thất bại hay chủ trương phòng vệ? Câu trả lời không giản dị. Trong chính trị
Mácxít cũng như trong ngữ vựng Mácxít, chính sách này của Trốtky hoàn toàn mới. Cũng không phải là
biểu trưng cho hình thức “phòng vệ chủ nghĩa” truyền thống, cũng không phải “thất bại chủ nghĩa” như thời Lênin áp dụng sau
thế chiến thứ nhất. Tham gia vào cuộc chiến chống xâm lăng từ bên
ngòai, lại vừa chuyển thành cuộc thay
đổi lãnh đạo
trong mặt trận kháng chiến, vừa bảo đảm có thắng lợi cách mạng – chính sách này rất
gần với chủ nghĩa thất bại hơn là chủ nghĩa phòng vệ.
Và có sự khác
biệt lớn giữa chủ nghĩa thất bại của Lênin và chủ nghĩa
phòng vệ của Trốtky về Trung quốc thời kháng Nhật, vì điều sau
không xa cách với kết qủa chiến tranh, nhưng không thể coi
cách mạng nằm trong sự bảo đảm (không phải tiên
quyết) của chiến thắng trong chiến tranh mà không đếm xỉa. (L.Trốtky là
Dân ủy Ngoại giao, dự Hòa đàm Brest-Litovsk giữa Xôviết với Đức tháng Giêng, Hai
1918. Lênin đã ký hòa ước nhục nhã để có hòa bình, vì không thể thắng trong chiến tranh được –
là thời kỳ “chủ nghĩa
thất bại.” - Ng.D)
Cho nên hồi tưởng qúa khứ, tôi
viết về vị trí lúc chiến
tranh Trung-Nhật mà Trốtky đã
nhỉn thấy, và chúng tôi đi
theo cũng có thể gọi là “chủ nghĩa cách mạng chiến thắng” chứ không là chủ nghĩa
thất bại.
Những điều trình bày ở trên
đủ bác bỏ cáo buộc của Đường Bảo Lâm, rằng “Trốtkýt Trung quốc, dù xét trên khía cạnh
khách quan, thì họ đã phục vụ cho đế quốc Nhật”.
Trốtky và những ngưới Trốtkýt Trung quốc dùng
chính sách “chiến thắng chủ nghĩa” do từ sự việc về Trung-Nhật chiến tranh là một phần hậu qủa thất bại cách mạng lần 2 (1925-27) của
Trung quốc; nó đã từ đống tro của sự thối nát cùng thương tật của chế độ Quốc Dân Đảng mà ra, thì không thể
nào thắng quân Nhật được, nên cái chắc chắn nhất, cái bảo đảm nhất phải tiến hành là tổ chức công nhân cùng nông dân đứng lên dưới khẩu hiệu chính trị của chính họ.(Vì sau rốt,
Uông Tinh Vệ chả đã thôi chống Nhật, trở thành bù nhìn cho Nhật;
còn Tưởng thì chao đảo, chỉ tìm cách đầu
hàng, hay sao?)
Đường Bảo Lâm còn muốn tố cáo nữa, rằng Trốtkýt áp dụng chủ nghĩa thất bại trước Đảng Cộng Sản Trung quốc trong thời nội chiến 1945-49, không
có cơ sở nào cả.
VI.Nghị Hội Quốc Dân.
Đường Bảo Lâm chịu,
không hiểu nổi tại sao Trốtkýt
Trung quốc lại kêu gọi Nghị Hội Quốc Dân, sau năm
1927. Theo ông ta, Trốtkýt chúng tôi từ đầu đã “đau khổ vì ảo tưởng ĐCSTQ có thể chiếm chính quyền bằng cách vận động quần chúng đô thị vào
phong trào Nghị Hội Quốc Dân.) Thật ra,
tuy Trốtkýt chúng tôi kêu Quốc
dân nghị hội thật, chỉ vì để cả nước thức tỉnh sự thất bại 1927, mà Stalin
không chịu thừa nhận, vẫn cho rằng cách mạng
trên đường thắng lợi, đang đi đúng hướng,
còn đòi kêu gọi dân Trung quốc tiếp tục nổi dậy võ trang cùng
thành lập Xôviết.
Theo Đường Bảo Lâm, Trốtkýt
Trung quốc tập trung vào chuyện vô sản thành phố nên kêu gọi Nghị Hội Quốc Dân hầu lãnh
đạo họ, bỏ qua nông dân; nên kết
qủa chuyện này đã phải chôn vùi. Mao Trạch
Đông thành công vì biết lãnh đạo nông
dân tiến tới khởi nghĩa võ trang dưới khẩu hiệu thành lập Xôviết. Đường coi bộ như quên chuyện năm
1928, Mao than thở là Đảng CSTQ thiếu khẩu hiệu dân chủ, ông
ta không thể cách gì làm nông dân nổi
dậy được. Đường cũng quên luôn chuyện
1937, lần thứ nhì kết hợp Mặt trận thống nhất, đảng CS cũng kêu gọi Nghị hội quốc dân.
VII.Nô Lệ Quan Thầy.
Đường Bảo Lâm, tùy tiện quên
chuyện các “chiêm tinh gia bằng
vàng ròng” từ Moscow gửi đến, cùng các người nước ngoài như
Sneevliet, Borodin, Voitínki, Roy, Pavel Mif và Otto Braun để bôi nhọ Trốtkýt Trung quốc là “nô lệ quan
thầy”, trên dẫn chứng là Tháng Chạp
1935, chúng tôi bầu Frank Glass, (bí danh Lý Phục Nhân, Li Furen) người
gốc Anh quốc làm
bí thư kiêm thủ qũy
cho tổ chức. Theo Đường,
“Một chính đảng nhận trợ cấp của người ngọai quốc, còn bầu lên làm lãnh tụ, hiếm khi nào được sự chấp nhận mà còn bị bảo là “phản bội đất nước”, “đầu hàng”, “nô lệ”, “tay trong”…đại lọai như thế cũng đúng. Thế mà bọn Trốtkýt, coi quốc tế chủ nghĩa là cao hơn hết, cùng nghĩa vụ quốc tế là nhiệm vụ trọng hơn hết, tất nhiên chúng xem
chuyện này là đương
nhiên.” (10)
Đường có thể chống đỡ cho lý luận đó,
rằng Frank Glass “hướng dẫn” người Trốtkýt bằng cách lờ đi và nhất định hủy bỏ ghi chép của
chúng tôi, đã ghi lại hẳn hòi trong biên bản (mà Đường có
thể tham khảo dễ dàng), rằng việc chúng tôi trao cho Frank Glass chỉ được xem là thuần “kỹ thuật”, không dính đến
chính trị. Biên bản (bằng Anh ngữ) rất minh bạch
chuyện này:
“Trần Qúy Chung [Chen
Qichang, Chen Chi-chang) – Trong thời điểm này điều quan
trọng là chức Bí
thư -Thủ qũy của ban Chấp hành
nên làm sao để có sự đoàn kết trong toàn thể hội viên. Cho nên tốt nhất là để CFG (Cộng sản F.Glass, viết tắt) đảm nhiệm.
Tính chất chức vụ này chỉ là bí thư, khi
cần mới là phát biểu chính trị, hay
khi cần thì nhiệm vụ là chuyện kỹ thuật, như trách nhiệm hộp thư, ghi biên bản, vân vân.
Hoàng Minh Nguyên [Hoàng Phần Du] -- chức vụ chỉ nên được xem là đảm nhiệm việc kỹ thuật, không nên dính
vào những quyết định đường lối chính trị của đảng.” (11)
Đề nghị của tôi được tòan thể những người có mặt chấp thuận. (12)
Người Trốtkýt chúng tôi xem chức
vụ bí thư như những người Bolshevik thời
Lênin. Đối với người Bolshevik, đó là một
chức vụ không dính đến chuyện gì quan trọng; đó “chỉ có
tính kỹ thuật, không chính trị” (13) Chuyện xem
chức bí thư có
tính chính trị, chỉ có từ khi Stalin và những người Stali-niêng tạo ra
(chức “thủ lĩnh chính trị thứ nhất”). Rất xa là chuyện Frank Glass có thể là
lãnh tụ, Glass chỉ là quản trị viên kỹ thuật.(14)
Thực sự, thì Frank Glass đảm nhiệm chức này trong 15
tháng, với hai điều. Anh
đích là người thủ qũy, người nhậy chuyện “kỹ thuật”, cũng có nghĩa rằng anh
là người đóng góp nhiều nhất cho tài chánh sinh hoạt
ra báo; anh trông việc giao dịch thư từ cho chúng tôi, là
“hộp thư”, liên lạc với những Trốtkýt khác ở hải ngoại. Sau khi rời Thượng Hải, người thay anh là Jack Belden (anh này không là Trốtkýt, chỉ là bạn của Glass) thay thế làm “hộp thư”. (Tôi còn nhớ không
lầm, tôi được anh
chuyển giao một lần khi tôi có thư).
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét