Trang

▼

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ - Tiểu thuyết NHẬT TUẤN - KỲ 15


Mười bốn.

Không phải tiếng còi mọi khi của ông toán trưởng, chính cái đạp của thằng hộ pháp đã làm tôi choàng dậy, xóa tan giấc mơ ngọt ngào mà lúc này lười nhác oằn người trên võng, tôi không thể nào nhớ lại. Buổi sáng đã lâu, nhưng trời mù phà qua cửa sổ những mảng sương đặc sệt làm trong nhà vẫn còn mờ tối.
“Dậy đi bắn chó mày”.
Thằng hộ pháp cúi xuống gương mặt đầy hí hửng, hềnh hệch cái cười quen thuộc buộc tôi phải hiểu rằng nó đang bày ra một trò đùa và tôi trả lời bằng kéo chăn kín mặt.
“Thật mà, thằng cấp dưỡng tìm thấy một con chó hoang...”.
Hai chứ “chó hoang” làm tôi sửng sốt, lập tức nhớ lại giấc mơ đêm qua. Đúng rồi, tôi nằm mơ thấy mình khoác ba lô trở về góc vườn cũ, con Mực mừng quơ lên rối rít nhảy cả hai chân lên ngực tôi. Tôi giở trong túi ra bao nhiêu là bánh ngọt mà mỗi lần tôi ném, nó lại há miệng ra đớp, vừa nhai vừa sủa ăng ẳng.
“Đi ra đó đi, trưa nay tao đánh mỗi thằng một đĩa tiết canh chó, ăn vào cứ gọi là chết lịm người.”
Tôi vội vàng mặc quần áo theo chân bọn nó, thằng cấp dưỡng vác súng hùng hổ dẫn đầu, thằng học giả đi sau luôn miệng:
“Đúng con chó tao nghe sủa đêm hôm trước khi vào bản.”
Tôi cũng tin thế, chỉ lạ một điều sao nó không theo chủ ra đi, lại quanh quẩn đây làm kiếp chó hoang và sao đêm qua lại tru lên ai oán thế.
Thằng cấp dưỡng dẫn bọn tôi quanh co qua những quả đồi thấp, những nương lúa bỏ hoang những chòi canh xiêu vẹo rồi chui qua một lùm cây ken đặc, vệt đường mòn bị cỏ dại xâm lấn chỉ còn lờ mờ, trước mặt tôi chợt hiện ra khu nhà mồ. khu nhà mồ. Thằng cấp dưỡng ra hiệu chúng tôi đi chậm lại, và rồi sau khi vòng vèo qua rải rác những ngôi mộ mới, nó chỉ tay ra trước thì thào: “Nó đấy”. Bên cạnh chiếc nhà mồ thấp lè tè, ghép bằng tre và lá gói, tôi nhìn thấy con chó hoang ấy, hay đúng hơn một đống xương lẫn da trụi lông và người ta chỉ nhận ra sự sống ở hơi thở làm phập phồng những chỗ lõm xuống của thân thể.
“Nó kiệt sức rồi, không sủa được nữa đâu”.
Thằng cấp dưỡng lại thì thào bên tai tôi và giương khẩu súng lên, cứ như là cái đống xương da kia sắp sửa nhảy lên cắn cổ nó. Tôi bước lại gần nhìn rõ cả bộ xương sườn nhô lên, những cẳng chân khô quắt và đôi mắt nhắm nghiền.
“Nó chỉ còn thở được thôi”.
Thằng cấp dưỡng lại nói và lại giơ súng lên. Tôi gạt thằng đó ra khuỵu một chân xương để có thể nhìn kỹ con chó hơn. Có lẽ thằng cấp dưỡng nói đúng, trong cả đống xương da khô này chỉ còn mỗi quả tim là đang co bóp. Bất giác đôi mắt con chó mở ra nhìn tôi. Không giống như con chó hoang ngày trước, vật nài và uất hận, đôi mắt nầy đầy vẻ dửng dưng cứ như mọi thứ xung quanh: bọn tôi, ngôi mộ và bầu trời thăm thẳm xanh chẳng còn dính dáng gì tới nó nữa.
“Thôi đủ rồi, xích ra tao bắn về làm tiết canh...”
Thằng cấp dưỡng lại giơ khẩu súng lên. Trong những lý lẽ của tôi chẳng có thứ nào lọt tai để ngăn nó lại. Tôi đành dùng lý lẽ của nó:
“Chúng mày nhìn kỹ coi, nó chỉ còn xương bọc da thế kia, ăn thế quái nào được. Thôi, tha cho nó, để yên cho nó nằm chết theo chủ”.
“Không được, xương da gì cũng được một bữa. Mình đang thiếu đạm động vật mà.”
Thằng cấp dưỡng lại đẩy tôi ra. Tôi còn đang nghĩ xem còn có lý lẽ nào khác, thằng học giả đã bước tới:
“Đúng đấy, xương bọc da thế này, ăn làm gì tổ tanh miệng. Thôi, tha cho nó.”
Nó kéo thằng cấp dưỡng ra xa, thì thầm gì đó, chỉ thấy thằng này gật gật. Khi cả bọn kéo nhau về trước, thằng hộ pháp còn quay lại cười hềnh hệch với tôi:
“Kỳ này tao lại giành cho mày quả tim như lần giết con lợn rừng.”
Đôi mắt con chó đã nhắm lại. Thật khó hiểu được tại sao tôi lại ngồi xuống bên nó, bôi rối và bứt rứt vì một chuyện gì đó. Hình như tôi muốn nắm lấy cẳng chân truyền cho nó hơi ấm là thứ duy nhất lúc này tôi có được. Vậy nhưng tôi vẫn ngồi im, co cả người lại không dám thở mạnh. Tôi cứ ngồi như thế rất lâu, không động đậy tay chân, không động đậy cả đôi mi mắt đã nhắm nghiền, cơ thể tôi lúc này phần nào đó cũng giống như con chó cũng chỉ có quả tim là đang co bóp. Tôi cứ ngồi như thế cho tới lúc tôi cảm thấy nôn nao, choáng váng hệt như lúc đang bám víu bên vách đá cheo leo. Và rồi không chỉ là cảm giác nữa, tôi thấy rõ ràng tôi đang chới với, dãy dua giữa khoảng không, bên dưới là một vực sâu chóng mặt. Tôi kinh khủng ngửa mặt, nhìn ngước lên trông chờ một ai đó tới kéo tôi lên. Ông toán trưởng mải cúi xuống tấm bản đồ thằng hộ pháp cười hềnh hệch, thằng cấp dưỡng giương súng lên ngắm cái gì đó eòn thằng học giả đang đứng trên cao giảng giải về nghịch lý để nhận ra cái hố thẳm. Tôi cứ chờ, chờ mãi và rồi tuyệt vọng buông người rơi xuống chiều sâu hun hút tối tăm và giá lạnh. Rất có thể tôi cứ trong trạng thái rơi mãi, rơi mãi như thế, nếu không có vật gì đó mềm mềm và ấm nóng lướt trên mặt làm tôi tỉnh giấc và rét run lẩy bẩy. Trời ơi, con chó hoang đã lết tới, nằm bên tôi lúc nào và đang nhẹ nhàng liếm lưỡi trên gương mặt tôi. Trời tối tự bao giờ, mảnh trăng uốn cong đã lại treo lơ lững giữa bầu trời giá lạnh. Và rồi chẳng giống như ý định ban đầu truyền hơi ấm của mình cho con chó, mà chính là tôi đang quàng tay ôm lấy nó để nhận được sức nóng của nó truyền sang tôi...

                                                (còn nữa)

PHỤ LỤC :

 LES GOUFFRES DE L’ÂME

Entretien de Mireille Gansel avec Phan Huy Duong

La Quinzaine Littéraire, n° 840
          
                                (suite)

MG : Mais ce livre n’a-t-il pas à cet égard une originalité tout à fait novatrice ?
PHD : Au départ, dans cette communauté on retrouve des ‘types’ humains familiers dans la vie, la littérature et le théâtre populaire : « Une fois la bête abattue, l’Érudit reçut le cerveau, le courageux Gendarme qui avait frappé le sanglier à la tête hérita du foie. Ils me réservèrent le cS_ur à cause de la pitié que j’avais témoignée à l’animal et le Cantinier, bon dernier à courir, reçut la queue. » On trouve ici un élément commun avec Kafka : l’humour noir.
Mais ces hommes obligés de risquer quotidiennement leur vie pour une mission absurde finissent par prendre conscience d’eux-mêmes et découvrir les ‘gouffres de l’âme’ individuelle.
MG : N’est-ce pas là la critique la plus radicale du système, du slogan qui accompagne toute cette traversée de la jungle (la fin justifie les moyens), puisque dorénavant ce qui prime, c’est l’humain ?
PHD : Effectivement. Et pas seulement critique du système socialiste. Dans la culture traditionnelle, l’homme vietnamien prend conscience de soi en tant que sujet à travers ses relations concrètes à sa communauté : la famille, le clan, le village, la région, le pays. ‘Dông bào’ qu’on traduit par compatriote signifie étymologiquement ‘né de la même matrice’. Sur cette forme de conscience de soi, au vingtième siècle, s’est greffée une autre forme de conscience communautaire de soi : l’idéal communiste, le Parti. Face à l’effondrement de la mission, nos héros découvrent qu’ils sont aussi des invidus nés d’une histoire personnelle, d’amours et d’aspirations singulières. Le narrateur est à ce titre emblématique. C’est un orphelin, il n’a pas de famille, donc pas d’ancêtres, donc pas d’origine sociale identifiable dans cette société confucéenne où le PC exige dans tout CV politique de remonter au moins jusqu’à la troisième génération. Il ne peut se raccrocher à aucune communauté humaine. La seule amitié qu’il ait connue est celle d’un chien. Par ses questions nạves, libres, il amène chaque personnage à jeter le masque, à assumer son histoire personnelle, à affronter son propre gouffre.
                                              
                                        (à suivre)

      HỐ THẲM TRONG TÂM HỒN

           Trao đổi giữa Mireille Gansel và Phan Huy Duong
                      La Quinzaine Littéraire, n° 840

                                          (tiếp theo)

MG : " Nhưng cuốn sách này dường như không nhằm tới cách …tân ?"
PHD : " Ngay đầu truyện ta đã thấy những mẫu nhân vật quen thuộc trong đời sống, trong văn học, trong sân khấu dân gian :" Thằng học giả sính chữ nghĩa nhường cho nó trọn bộ óc, thằng hộ pháp dũng cảm đập gậy vào đầu con lợn thưởng cho nó buồng gan, tôi được quả tim vì đã tỏ vẻ xót thương con lợn bị băm vằm mổ xẻ, còn thằng cấp dưỡng chạy sau cùng bị phạt phải ăn khấu đuôi. " Ở đây ta thấy yếu tố chung với Kafka :" hài hước đen".."
NG :" Nhưng những con người này hằng ngày  buộc phải mạo hiểm cuộc sống cho một sứ mạng phi lý cuối cùng tự nhận ra mình và cả cái hố thẳm trong con người mình"
MG :" Phải chăng phê phán tận gốc rễ cái hệ thống , cái khẩu hiện thúc đẩy đi cho hết cánh rừng ( cứu cánh biện minh cho phương tiện) cho đến khi nhận ra con người là trên hết ?"
PHĐ : " Thực ra,,,không chỉ phê phán hệ thống xã hội chủ nghĩa.Trong văn hóa cổ truyền , con người Việt nam rất chú trọng tới những mối quan hệ chặt chẽ trong cộng đồng : gia đình, họ hàng, vùng miền. Từ "đồng bào" có nghĩa là sinh ra từ cùng trong bọc mẹ. Với kiểu suy nghĩ này, vào thế kỷ 20, nó được ghép với một hình thức khác của ý thức cộng đồng về chính mình :" lý tưởng cộng sản, Đảng" . Đối mặt với sự sụp đổ của nhiệm vụ, những nhân vật của chúng ta mới phát hiện ra rằng họ cũng là một cá nhân, có cuộc đời riêng, tình yêu riêng và khát vọng riêng. Người kể chuyện là một cá nhân mang tính biểu tượng. Đó là một đứa con mồ côi, không gia đình, không tổ tiên, không nguồn gốc xuất thân trong cái xã hội nho giáo mà Đảng cộng sản đòi hỏi lý lịch phải rõ ràng tới ba đời. Hắn chẳng có dây mơ rễ má với bất kỳ ai trong cộng đồng nhân loại này. Hắn chỉ có tinh bạn thân thiết với một con chó. Bằng những câu hỏi thật thà, thoải mái hắn lột mặt nạ của mỗi người, làm  họ nhận rõ hoàn cảnh mình và đối diện với hổ thẳm trong từng mỗi người.

                                                (còn tiếp)

Tiểu thuyết do Phan Huy Đường và Đặng Trần Phương dịch từ tiếng Việt
Nhà  xuất bản Philippe Picquier





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét