Mười ba.
Một cây gỗ bắc ngang làm cầu qua con suối nước
xanh làm bọn tôi dừng sững lại. Thằng hộ pháp đang cõng ba lô và chiếc máy VTĐ
reo tướng lên:
“Tắm đi, tắm đi chúng mày ơi”.
Trừ ông toán trưởng, cả bốn đứa tôi trần truồng
lao ào xuống nước chẳng kể gì đến lạnh buốt đang khứa vào da. Trời đất, dễ đến
nửa năm mới được vùng vẫy thỏa thuê, kỳ cọ kỹ càng đến thế. Người nhẹ bỗng đi
vì sức nước, vì bao nhiêu đất cát bám trên người đã trôi đi hết, tôi nằm ngửa
trên mặt suối lâng lâng trong cảm giác rũ tuột được thân xác còn lại cái phần
hồn đang bập bềnh trong cõi hoang sơ giá lạnh.
Tie. ng còi và tiếng quát eủa ông toán trưởng lôi
tôi về thực tại:
“Lên thôi, lên thôi, không cảm lạnh chết hết cả
giờ”.
Tháng học giả chạy lên trước tiên cười hô hố:
“Những bốn ông A Đam mà chẳng có lấy một bà E
Và.”
Thằng hộ pháp chạy sát lưng thằng cấp dưỡng và
làm cái gì đó làm thằng này vừa xua tay ra sau đít vừa chửi ầm ĩ. Tôi bật cười
nhảy cẫng lên cho đỡ rét rồi cũng bắt chước chúng nó, tôi lục ba lô ra bộ quần
áo sạch nhất, lành lặn nhất. A... dẫu sao cũng phải ra mắt các cô gái trong bản
với cái vỏ bảnh bao tý chút chứ. Thằng hộ pháp soi mặt xuống nước xòe năm ngón
tay làm lược chải hết tóc ra sau, lúc lắc cái đầu:
“Chà, giờ có vài giọt nước hoa rảy rảy lên tóc
thì phải biết...”
Tôi ngước nhìn và ngạc nhiên về sự thay đổi của
nó. Chiếc sơ mi màu trứng sáo ôm khít lồng ngực vạm vỡ, chiếc quần ka ki bó
chặt đôi hông nở, mắt sáng lên, tươi tắn, thật khó nhận ra cái thằng “voi đực”
quần áo lấm lem, vá chàng vá đụp, huỳnh huỵch mang vác leo rừng lúc sáng. Và
chẳng riêng gl nó, cả thằng học giả, thằng cấp dưỡng, và cả tôi nữa cũng thế,
đứa nào đứa ấy như mới lột xác trở thành những trang nam nhi công tử, thật cứ
như mới từ thành phố đi trực thăng đổ bộ xuống nơi hoang dã vậy.
“ Mẹ kiếp, khôi ngô tuấn tú cả thế kia mà cấm
không cho lại gần đàn bà, có phí không cơ chứ...”
Thằng học giả lại lên tiếng khích bác. Ông toán
trưởng quay đi vờ như không nghe thấy, thoáng trên gương mặt một vẻ áy náy,
ngường ngượng như chính ông là người có lỗi trước bốn thằng con trai khỏe mạnh,
tươi tắn đang đứng đàn ngang trước mặt ông. Ông chợt gắt lên:
“Thôi, đi tiếp... khẩn trương lên.”
Con đường mòn càng lúc càng dẫn chúng tôi vào
vùng thoáng đãng, hai bên sườn núi đã thấy những mảng nương mới phát, nhưng lều
canh cao lênh khênh. Bầu trời như cao hẳn lên, doãng rộng ra, trôi nổi những
làn mây trắng và tịnh không thấy một bóng chim. Càng đi gần tới bản, cái im ắng
hoang vu càng làm tôi bồn chồn. Nỗi ám ảnh bất an gây nên bởi tiếng chó tru đêm
qua lại đè nặng trong tôi và rồi khi qua hàng rào thấp ngăn trâu bò, bước vào
bản, tất cả chúng tôi dừng sững cả lại. Trên khoảng đất bằng phẳng rộng mênh
mông, những dãy nhà vách nứa nằm nôi đuôi nhau san sát, những ống dẫn nước cao
lênh khênh, những máng lợn khoét từ thân cây gỗ... tất cả nằm im lìm dưới ánh
nắng trưa gay gắt. Thằng hộ pháp khum hai bàn tay đưa lên miệng hét váng:
“U... oa... u... oa... có ai đó không?”
Tiếng gọi của nó vang vang khắp bản và vách núi
vọng ngược lại thành những tiếng oa... oa... kéo dài. Nó cứ gọi mãi, gọi mãi
nhưng không ai trả lời. Ông toán trưởng ra lệnh cho tôi và thằng cấp dưỡng xách
súng đi sâu vào bản.
Tôi rụt rè bước đi trên nền đất trần, chân dẫm
lên những thanh củi cháy dở, những đám cứt dê lổn nhổn khô cứng. Thằng cấp dưỡng
lò dò xách súng nhìn ngang nhìn ngửa, kéo tay tôi thì thào:
“Sao im quá vậy mày? “.
“Giờ này có lẽ họ đi làm nương hết.”
“Nhưng ít ra cũng còn người già, trẻ con ở nhà
chứ...”
Nỗi lo của nó lan cả sang tôi khi hai đứa qua
những căn nhà rỗng không, cỏ đã mọc xanh các lối vào., những cối giã gạo đổ
nghiêng, vài hạt thóc rơi vãi đã mọc mầm, những hàng dậu đổ, chỏng chơ những
ống bương đựng nước... Tôi đạp cửa bước vào một căn nhà ngay sát đường. Mùi ẩm
mốc thoảng lên trong cái hoang vu không người, không đồ đạc, không súc vật,
không có gì hết ngoài cái bếp giữa nhà đã nguội lạnh vung vãi tro tàn. Tôi sục
sạo thêm vài căn như thế rồi đành thở dài, kéo thằng cấp dương quay lại chỗ đầu
bản, nơi ông toán trưởng vẫn ngồi chờ. Nỗi thất vọng chúng tôi mang về làm ông
tái mặt:
“Vô ly... cả cái bản lớn này không một bóng người
thì thật lạ.”
Thằng học giả bỗng đập hai tay vào nhau reo lên:
“Thôi đúng rồi, đồng bào ở đây đã xuống núi định
canh định cư làm ruộng, thôi không phá rừng làm rãy nữa. Chủ trương chính sách
Nhà nước mới ban hành mà...”
Ông toán trưởng lắc đầu, không tin vào phỏng đoán
ấy, ông vẫn ngơ ngác nhìn quanh cố tìm một giải thích khác. Thằng hộ pháp mặt
buồn xo, giờ mới lên tiếng:
“Có kiếm được cái gì bỏ bụng không mày?”
“Có đấy, mày có nhá được cứt dê khô thì xin mời,
nhiều vô kể.”
Thằng cấp dưỡng cười khẩy, dựa súng vào bờ rào
rồi ngáp một cái rõ dài. Thôi thế là bao nhiêu mộng tưởng rượu nồng, lợn béo
theo ngọn gió mà bay đi hết, mặt buồn rười rượu, chắc nó nghĩ tới bao gạo lép
kẹp, chiều nay biết lấy cái gì bỏ vào nồi. Bây giờ thì tám điều kỷ luật eủa ông
toán trưởng chẳng còn ý nghĩa gì nưa, suốt cả buổi chiều chúng tôi chia nhau đi
lục lọi các căn nhà trống khắp trong bản cũng chỉ ôm về được vài bắp ngô mọt và
ít củ sắn khô gác bếp cứng như đá. Thằng hộ pháp vác về mấy cây mía non mọc dại
bên bờ dậu, quẳng xuống đất lầu nhầu:
“Mẹ kiếp, cái dân ở đây cấm thấy bỏ quên được thứ
gì cho mình nhai được.”
Thằng cấp dưỡng khuân đâu về một cái thùng sắt
sơn xanh, ném xuống chân thống học giả, cười nhếch mép:
“Tao mang cái thùng thư về cho mày tha hồ bỏ thư
cho con búp bê...”
“Đừng có trêu gan tao, đang sôi tiết lên đây.”
Cơn giận bùng ra, thằng học giả co chân đá tung
cái thùng thư ra sân và nếu tôi không can, hẳn nó đã xông tới đấm túi bụi vào
mặt thằng cấp dưỡng. Nỗi thất vọng ghê gớm làm cả bọn phát khùng dường như chỉ
cần một cái cớ nho nhỏ cũng đủ xúm vào nhau đấm đá. Ông toán trưởng giống như
một người thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm khi thủy thủ đoàn sắp nổi loạn, vội
vàng lệnh cho thằng cấp dưỡng đục một hộp thịt dự trữ để “bồi dưỡng sức khỏe
anh em” sau một đợt chuyển quân mệt nhọc. Vậy cũng không làm chúng tươi lên
được chút nào. Thằng hộ pháp lẩn đi đâu đó, mãi gần bửa ăn tôi mới bắt gặp nó
đang đứng ngẩn ra rất lâu ở bến tắm. Nó nhìn dòng nước chảy lặng lờ, mắt sáng
trưng như mới phát hiện ở dưới đó thứ gì quý giá lắm.
“Nhiều cá lắm phải không?”
Nó quay lại kéo tay tôi, thì thào:
“Mày biết không, trước đây bọn đàn bà nó tắm ở
đây đấy. Mày đã được thấy tụi nó tắm lần nào chưa? Này nhé, có cứ cuộn váy cao
dần cao dần, đội lên đầu rồi cứ thế ào xuống nước, chẳng có che đậy gì, mình
tha hồ đứng xem thỏa thích...”.
Tôi thộp lấy ngực áo nó lay mạnh:
“Thôi đi về ăn cơm. Tao tưởng mày yêu con vợ
thằng xã đội lắm kia mà. Sao còn nghĩ tới con khác?”
“Ấy, tao vừa nghĩ tới nó đấy. Mày biết không tao
tưởng tượng ra nó đang tắm ở đây...”
Tôi lôi nó đi, mặc nó lảm nhảm những điều cái đầu
đang bốc lửa của nó tưởng tượng ra. Nỗi thất vọng làm con người ta điên khùng
như thế đấy. Bỏ đi hết đúng vào lúc chúng tôi tới, cái đám dân bản Mù U này
đúng là chơi chúng tôi một quả trời giáng. Bữa ăn chiều có món rau sắn nấu thịt
hộp cũng chẳng làm nở được một nụ cười trên miệng thăng nào. Thằng hộ pháp mọi
ngày mồm miệng nói như vặt rau, vậy mà bữa nay nó lầm lì cầm bát cơm trệu trạo
như bò nhai lại. Thằng họe giả bưng bát ra góc ngồi, vừa ăn vừa trừng mắt với
ai đó, thằng cấp dưỡng bẽn lẽn múc canh vào bát vẻ như có lỗi đã không nấu được
một bữa “trâu luộc cả con” nó đã hứa hẹn trước hôm vào bản. Tội nghiệp nhất là
ông toán trưởng, cảm thấy mọi hờn giận của bọn nó đang chĩa cả vào mình ông cúi
mặt xuống bát cơm, bối rối nhặt một hạt rơi xuống đất, đôi vai gày guộc nhô lên
như trách nhiệm để cho cái bản Mù U này chuyển đi đang đè nặng lên cổ ông. Sau
bữa ăn, không chịu nổi không khí câm lặng, nặng nề, tôi đâm phát cáu:
“Chúng mày làm gì như đưa đám cả thế? Không lợn
gà không đàn bà con gái thì đã chết được đâu. Bao nhiêu tháng sống không dân đã
sao nào? Chưa chi đã nhũn hết cả lại thế kia...”
“Đúng đấy, đàn ông đàn ang gì mặt cứ như cái bánh
đa nhúng nước. Tươi tỉnh lên, tối nay tao cho chúng mày một chầu sắn nướng.”
Hóa ra thằng cấp dưỡng tìm thấy một nương sắn
non, cỏ tốt um, dân bản bỏ lại và chẳng kể gì tám điều kỷ luật, nó nhổ phứa lên
được một rổ. Nó hỏi tôi có nên xin ý ông toán trưởng không, sắn còn nhiều, nhổ
cả tuần ăn không hết, tôi bảo nó tốt nhất đừng có hỏi, eứ để ông ấy đánh bài lờ
còn hơn buộc ông ấy quyết định thì ắt hẳn ông ấy phải cấm. Tôi nhẹ người, vậy
có cái sống được người rồi, khỏi lo xuống núi bỏ dở cuộc hành trình như tối đã
thoáng nghĩ tới lúc đặt chân vào bản không người. Buổi tối chúng tôi chọn căn
nhà rộng nhất, sạch nhất, đốt lên đống lửa và nhai những cu sắn nướng thơm
phức. Thằng cấp dưỡng bưng một đĩa sang nhà bên nơi ông toán trưởng ở ma bọn
tôi gọi là nhà Ban chỉ huy. Lúc quay về nó cười nhăn nhở:
“May quá, ông ấy không hỏi sắn lấy đâu ra, chỉ
gật đầu cám ơn.”
Thằng hộ pháp lúc này đã bớt lầm lì, nói buông
thõng:
“Chết đói đến đít rồi, nội quy con mẹ gì nữa...”
Thằng học giả trầm ngâm từ tối, giờ mới lên
tiếng:
“Chúng mày có thấy ở đây có chuyện lạ không? Đã
gọi xuống núi định cư thì họ phải có kế hoạch chuẩn bị từ trước chứ, vậy sao
còn trồng sắn để phải bỏ lại Tao nghi cái bản này bỏ đi đột xuất quá”.
“Đột xuất hay kế hoạch gì thì nó cũng đi hết rồi.
Có dở hơi như mày mới nghĩ ngợi chuyện đó”.
“Tao lo nhỡ ra có phỉ gần đây họ phải chạy thì
sao? Lúc đó mình có mỗi khẩu súng gỉ thì chống đỡ thế nào?”
Thằng hộ pháp bĩu môi:
“Phỉ có tới thì dù súng tốt mày cũng hàng trước
tiên.
“Tao biết, bụng càng nhiều chữ, dạ càng hèn”.
Tôi phải can hai đứa kẻo cãi nhau cả đêm cũng
chẳng thằng nào chịu thằng nào, ai gan ai hèn cứ phải lâm trận mới biết được,
nói suông cái miệng ai chẳng anh hùng.
Đêm đó giữa lúc còn ngủ lơ mu, bên tai tôi bất
chợt lại vẳng tới tiếng chó tru. Tôi ngồi bật dậy, đúng tiếng chó sủa gần chứ
chẳng còn xa xôi mơ hồ như đêm qua nữa. Bếp lửa đã tắt ngỏm, bọn nó đều ngủ cả,
ngay thằng học giả cũng leo lên võng từ sớm, thôi không viết thư nữa. Tiếng chó
im bặt, khi tôi đặt mình xuống, nó lại cất lên rền rĩ, ai oán như cái chết đang
rình rập nó. Không, tôi không thể mạo hiểm ra ngoài dó rất có thể thằng học giả
nói đúng về sự lẩn khuất của bọn phỉ, nhưng tiếng chó chốc chốc lại tru lên như
cái lưỡi dao cùn cứa vào những sợi thần kinh không sao chợp mắt. Hôi còn ở
trường thanh niên vừa học vừalàm tôi có nuôi một con chó hoang bị đàn chó nhà
cắn gần chết ngay đầu làng. Khi nhìn con chó tôi ôm về, lông trụi sạch, ghẻ lở
đầy người, đầu nứt toác, bê bết máu, mấy đứa trong tổ khăng khăng không cho tôi
mang vào nhà. Tôi vội xuống bếp, xin eô cấp dưỡng một cái bu gà, che chắn tạm
thành chuồng mãi sau vườn. Từ hôm đó bát cơm sau cùng trong bữa ăn, bao giờ tôi
cũng giành lại cho con chó. Nó lành da rất nhanh, lông mọc trở lại, con Mực của
tôi đã từ bỏ cái máu đi hoang, yên phận ẩn dật sau vườn để ngày hai buổi, sau
tiếng kẻng hết giờ làm việc, nó được quấn quít với tôi cho tới khi mọi người
phát hiện ra sự tồn tại của nó đi ngược lại chủ trương tăng gia sản xuất của
nhà trương. Ai cũng tự ý nuôi riêng gia súc thì có loạn? Tinh thần tập thể ở
đâu? ông Trưởng ban tăng gia gọi tôi lên bảo thế. Tôi thưa với ông, nếu vậy tôi
xin góp con Mực vào trại chăn nuôi của nhà trường để nó được trở thành sở hữu
tập thể. Ông trưởng ban ngẫm nghĩ một hồi rồi lắc đầu, trong danh mục chăn nuôi
của nhà trường chỉ có gà, vịt, ngan, ngỗng và lợn, không có ngoại lệ dành cho
nó, tốt hơn hết, ông khuyên tôi nên hiến con Mực cho bếp ăn tập thể. A, thà tôi
thả nó đi hoang còn hơn đưa vào cái lò sát sinh ấy. Ông trưởng ban cười nhạt,
được, nó là sở hữu của cá nhân cậu, cậu muốn làm gì tuỳ cậu. Ông nhấn mạnh hai
chữ cá nhân và ra lệnh cho tôi phải giải quyết gấp vụ con chó, nếu không sẽ mất
điểm thi đua tổ học tập. Buổi chiều hôm đó tôi lại ra sau vườn, con Mực thấy
tôi lại quen lệ nhảy cẫng, vẫy đuôi rối rít. Tôi chờ nó ăn xong mới bảo: “Tao
cũng muốn nuôi nấng mày tử tế mà chẳng được, thôi đành trả mày về kiếp đi
hoang”. Nói rồi tôi vỗ vỗ mấy cái vào người nó và quẳng nó qua hàng rào, phá bỏ
cái chuồng tự tạo, mang trả lại bu gà cho cô cấp dưỡng. Ấy thế rồi chiều hôm
sau đi tha thẩn sau vườn, tôi lại gặp nó nằm đó, thấy tôi nó lại cuống lên mừng
rỡ. Tôi lấy cơm cơm cho nó ăn rồi lại đành quẳng nó qua rào. Ba hôm liền như
vậy cứ đuổi đi nó lại tìm mọi cách quay về. Cho tới một buổi chiều đi làm gô về
tôi nghe tin người ta mới bắt được con chó hoang, chui rào đuổi gà trong vườn.
Tôi vội phóng xuống bếp và lặng người, con Mực của tôi bị trói gô cả bốn chân
lẫn mõm nằm dưới đất chờ bác cấp dưỡng mài dao. Thấy tôi nó không sủa được chỉ vẫy
đuôi và nhìn tôi với đôi mắt lồi ra và ướt nhoẻn. Nhung tôi làm gì được, nó đã
là con chó hoang bị người ta bắt chứ không còn là con Mực “sở hữu cá nhân “của
tôi nữa. Tôi bất lực quay đi, bỏ bữa cơm chiều và suốt mấy ngày liền tôi không
dám ra vườn sau, đôi mắt con chó cứ nhìn tôi vừa vật nài vừa uất hận trong mấy
đêm liền mất ngủ.
(còn nữa)
PHỤ LỤC :
CÙNG NHẬT TUẤN ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ
NGUYỄN NGUYÊN BẢY
(Trích)
Theo một số nhà lý luận phê bình văn học bậc mét,
thì đây chỉ là cuốn truyện dài, không phải tiểu thuyết. Để tránh những thanh
cãi không đáng có ngay từ dòng mở đầu bài viết, tôi đã xin phép Nhà văn Nhật
Tuấn, gọi tác phẩm Đi Về Nơi Hoang Dã của anh là cuốn
Văn Dài, 268 trang kể là dài, một cuốn văn dài đáng đọc, đáng tôn vinh, với
riêng tôi, đây là cuốn văn dài hay nhất, chuông khánh nhất, thức tỉnh nhất của
Văn Đàn Việt Nam kể từ khi tôi biết đọc sách đến nay.
Cái hay khởi ngay từ tựa đề sách, tựa đề lại
chính là thông điệp sách, chính là thông điệp tác giả gửi đến người đọc. Một
thông điệp đay đi đay lại, tàng ẩn hư thực nghĩa, đọc một lần nhớ lâu, nghĩ
mãi, nhớ nghĩ cho đến vỡ nghĩa đa chiều, rồi thấm mà nhận thức, mà ngộ ra thông
điệp. Thực đúng lý của câu chuyện, tựa đề phải là : Đi Về Nơi Thiên Đường. Nhà
văn Nhật Tuấn cao tay, đã không lộ mình và lộ văn như một số nhà văn viết và in
sách thể tài này trước anh, như Xuân Vũ với Thiên Đường Treo hoặc
Dương Thu Hương với Thiên Đường Mù. Anh gọi tên cuốn sách của
mình là Đi Về Nơi Hoang Dã.
Nơi Hoang Dã theo
cách gọi của Nhật Tuấn lại chính là Nơi Thiên Đường, trong sách là đỉnh Hua Ca.
Hành trình lên đỉnh Hua Ca (thiên đường) là hành trình gồm ba khúc thức (tỉnh
thức), nói cách khác 268 trang sách miêu tả truyện này truyện khác đọc vắn, đọc
nhanh,cốt truyện cũng chỉ là ba khúc thức,dẫn lại dưới đây:
………
Văn dài Đi Về Nơi Hoang Dã không có cốt truyện, không có nhân vật, không có tình yêu nảy lửa, sét
đánh, tay ba, tay tư tranh dành chụp giựt..nói tóm, là không có những cái/ thứ
mà các tiểu thuyết xưa nay dụng biến. Nhật Tuấn đã viết một thứ văn dài hay
tiểu thuyết kiểu Nhật Tuấn, mới, lạ, không giống ai và quan trọng là đã thành
công. Có thể gọi đó là tiểu thuyết luận giảng hay tiểu thuyết dịch lý. Tôi
nghiêng về ý sau: Tiểu thuyết dịch lý. Dịch lý ngay từ thông điệp đến bố cục,
đến nhân vật đến văn phong. Nói vậy không cố ý định văn pháp Nhật Tuấn, càng
không ẩn ý thăng hoa Nhật Tuấn như một kỳ tài, mà là nói đúng theo cảm
nhận thu hoạch của người đọc. Trường hợp ngay cả Nhật Tuấn cũng bất ngờ vì nhận
định này, thì Tuấn ơi, hãy chắp tay cảm ơn Trời, đã ban cho Tuấn cái linh thần
mà viết được sách Đi Về Nơi Hoang Dã với lý dịch mạch lạc, cao siêu và đầy nhân tính. “ Sẽ nói với nàng Sao rằng suối thần trên đỉnh Hua Ca chỉ có trong
huyền thoại, tuy nhiên, Không Vì Thế Con Người Không Thực Bụng Yêu Nhau..”Câu văn này sâu cực ý nghĩa dịch. Một hạt dương hoan phối với một hạt
âm mà sinh ra thai khí, mà thành con người, cứ thế, thành gia đình, thành quê
hương, thành xã tắc. Dịch học gọi toẹt huyệt đàn ông gặp gỡ huyệt đàn bà là
hoan phối, văn chương văn vẻ chữ hoan phối thành làm tình, thành yêu nhau, rồi
mở rộng thành tình yêu. Như vậy chữ tình yêu ít nhất cũng bao gồm một cặp âm
dương, yêu nhau để sống và để truyền giống mà con người còn mãi, còn mãi để yêu
nhau. Như vậy, trong chữ Tình yêu tàng ẩn hai hạt cơ bản gây dựng nên nó, đó là
hạt sinh tồn và hạt sinh lý. Chất lượng của hai hạt cơ bản này là thước đo cuộc
sống, con người phấn đấu không ngừng để mức độ hai hạt cơ bản này cao dần, cao
dần, cao cho tới mức mơ ước của con người, mức mơ ước ấy chính là thiên đường.
Ai trong Đi Về Nơi Hoang Dã đã đi về nơi thiên đường-đỉnh Hua Ca ấy? Mời theo văn của Nhật Tuấn,
nơi trang 11: “ Chúng tôi có năm người, một ông già và bốn gã đàn ông lực lưỡng sẵn
sàng làm chồng những cô gái khỏe mạnh, làm cha những đứa bé chập chững, làm chủ
những gia đình vào chiều đông xám lạnh như chiều nay hẳn đang quây quần quanh
bữa cơm nóng sốt. Vậy mà, đằng đẵng bao năm nay, chúng tôi bị quăng lên những
đỉnh núi quanh năm mây phủ, không có cả đến tiếng chó, một bãi phân trâu, cái
thứ ở dưới miền đồng ruộng kia, ta bắt gặp nhan nhản ngay khi chưa bước chân
vào cổng làng..”
Vậy là có 5 người, nhấn mạnh 5 người. Số 5 nhân
vật, rõ ràng, minh bạch thế này tất không thể là suy diễn, Nhật Tuấn đã tung
ngũ hành vào hành trỉnh tìm kiếm thiên đường. 5 người này, tượng cho năm nhân
vật (tạm gọi vậy) của truyện, mỗi nhân vật một hành. Ông già, nhân vật trưởng
toán, là nhân vật tung tâm, thuộc thổ. Nhân vật Thằng học giả, tượng trưng cho
trí, thuộc thủy/ Nhân vật Thằng Hộ Pháp tượng trưng cho lễ (thành tích, cơ
bắp) thuộc hỏa/ Nhân vật Thằng cấp dưỡng, tượng trưng cho nghĩa, thuộc kim./ Và
nhân vật “Tôi”, thuộc nhân mộc. Nôm na, ngũ hành cũng là năm giai cấp chính
trong xã hội: Công, nông, binh, trí, thương. Ngũ hành có tương sinh, tương
khắc, mỗi hành phát huy hết năng lực của mình, điều tiết cân bằng, sinh khắc để
tồn tại, để phát triển, để tiến hóa. Ví von về sự điều tiết sinh khắc: Trên
sông (thủy) có con thuyền (mộc), trong con thuyền có bếp lửa (hỏa), cạnh bếp
lửa có hũ gạo (thổ), cạnh hũ gạo có con dao (kim).. Trong Đi
Về Nơi Hoang Dã, ngũ
hành người này chỉ là một toán, răm rắp tuân lệnh của toán trưởng, phạt cây, mở
đường, ăn rắn ăn rết, đói khô mép khô môi, cắn rắng, cầm lòng ức nín mà hô khẩu
hiệu tiến lên Đỉnh Hua Ca/ thiên đường. Chỉ có tiến lên, kẻ nào mở miệng bàn
không tiến, nghi hoặc ‘đường đi không đến”, hoặc có đến thì đấy cũng chỉ là
Đỉnh Hua Ca đầy sương mù và nước đọng bẩn thỉu..thì xích xiềng/xiềng xích/xích
xiềng và cái chết nhơ bẩn, hổ cha, xấu mẹ, ô danh nguồn cội xóm làng..là một
kết thúc. Vì thế, chỉ một con đường vượt núi, tiến lên đỉnh Hua ca huy hoàng.
Tiến lên. Tiến lên ta lại tiến lên/ Tiến lên ta quyết vượt lên hàng đầu/ Hàng
đầu chẳng biết đi đâu/ Đi đâu thì cứ hàng đầu tiến lên/ Nhất định phải tiến
lên. Không được phép nghi ngờ cái sai lầm, cái lạc hướng của Một Ban Chỉ Huy vô
hình, vô tích sự, ngây thơ, ngu dốt nào đó. Tiến lên hay là chết? Thật tiếc mà
may, tiếc là tiếc ông già trưởng toán, vì sức cùng lực kiệt, mà gục ngã trước
cổng thiên đường, và được chôn cất trang nghiêm trên đỉnh Hua Ca mà cả đời ông
ước mơ lên tới đó. May là, toán 5 người cùng lên đỉnh Hua Ca, chỉ một người
chết, 4 người trẻ còn lại đều sống sót, nhấn mạnh, cố ý sai văn phạm: 4 người
chẻ còn nại đều xống xót! Lạc hướng thiên đường thì câu văn cũng phải xám hối , sai văn phạm là
xám hối nhẹ như kiểu nức nở cười..Biết đâu những nức nở cười của tứ hành dân
chúng này sang tai ầm vang đến Ban chỉ huy, lay thức cơn mê lú của họ về Lỗi Hệ
Thống, Lỗi Chỉ Sai Hướng, Lỗi Dẫn sai Đường..để họ hiều là phải thành thực,
phải dũng cảm đoạn tuyệt sai lầm, bắt đầu lại từ đầu như thế nào. Xin thêm một
lần cảm ơn nhà văn Nhật Tuấn đã chuông khánh thức báo cái sai lầm của lỗi hệ
thống cho mọi giới bạn đọc bằng thông điệp Đi
Về Nơi Hoang Dã!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét