Trang

▼

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 45


                                  (tiếp theo)

Vừa đổ xuống một con dốc thì chúng tôi băng ngang qua nghĩa địa của thuyền nhân nằm sát bên đường. Nghĩa địa cũng nằm trên một triền đồi thấp. Bậc thang xi măng dẫn lên lối vào có nguyên một tấm bia mầu trắng khắc chìm những hàng chữ sơn đỏ: ... Dedicated to the people who died in the sea on the way to the freedom... Tưởng niệm đồng bào đã tử nạn trên đường vượt biển tìm tự do... đã làm tôi nhớ đến khu mộ địa người Việt khi ở trại trong rừng Malaysia. Gần như chắc chắn là ở trại tị nạn người Việt nào cũng có người phải bỏ xác nằm lại, anh Khảm nói nghĩa địa Galang có tới mấy trăm ngôi mộ làm cả bọn nghe mà giật mình. Bị cái gì mà chết nhiều dữ vậy! Hết nghĩa địa thì gặp nhà thờ Tin Lành rồi quẹo vào một con đường phía tay phải, chúng tôi đi ngang qua văn phòng P3V. P3V là tên gọi của an ninh địa phương lo chuyện trị an tại trại, anh Khảm giải thích. Tầng dưới của một barrack dành cho đám police ở gần đó để nguyên một căn dùng làm nơi nhốt người gọi là chuồng cọp. Có vài người ngồi sau song sắt đưa cắp mắt buồn bã nhìn đám chúng tôi đi ngang. " Họ là người Việt mình phải không chị và tại sao lại bị bắt nhốt vậy? ", Bẩy hỏi nhưng anh chị Khảm-Phượng chỉ gật đầu và hối cả bọn chúng tôi rảo bước chân nhanh hơn. Đi hối hả cho đến khi gặp được nhà ở cùng hàng quán thì chị Phượng mới trả lời: " Ban nãy anh chị hối mấy em đi cho lẹ vì sợ mấy người bị nhốt ở trỏng gọi mình giúp họ một việc gì đó. Nếu không giúp thì mình áy náy trong lòng mà giúp lại sợ bọn police cà khịa kiếm chuyện. Đám police ở đây có vài thằng nói tiếng Việt sõi lắm. Nghe nói tụi nó từng sống bên nước mình rồi khi đám Việt Cộng vào Sài Gòn thì hồi hương về lại Indo rồi được tuyển đến đây làm việc đó ".

Chúng tôi đến một ngã ba đường, văn phòng ban Đại Diện Galang 2 là một barrack hai tầng nằm ở bên phải. Barrack này có một phòng nhỏ ở tầng trệt mang tên PKL của một nhà thầu địa phương. Nhà thầu này nhận thư bảo đảm từ bưu điện bên đảo Tanjung Pinang rồi mang sang Galang phát lại cho người tị nạn Việt Nam và cả người Khmer nữa. Thường thì thư bảo đảm nào cũng đều có check hoặc money order kèm ở trong và vì vậy, PKL nhận đổi check hoặc money order sang Rupiat (tiền Indo) để kiếm lời. Hối suất cứ 100 Đô la Mỹ bằng 160.000 Rupiat. Còn thư thường thì lại do phòng TMS thuộc ban Đại diện người Việt nhận từ phòng P3V về và lập danh sách người nhận thư rồi thông báo cho đồng bào biết qua hệ thống loa truyền thanh giăng khắp nơi trong trại. 

Trời tuy còn sớm mà quán nước nào trông cũng đầy nghẹt người ngồi bên nhau nói truyện bù khú, nhâm nhi ly cà phê nóng. Anh Khảm kéo chúng tôi vào một tiệm bên đường nói bọn mình ăn sáng rồi nghỉ một lát trong lúc chờ mấy chỗ bán vàng mở cửa. Được một chốc thì phòng Thông Tin trại bắt đầu đọc các bản tin sinh hoạt buổi sáng và khi kết thúc, loa phóng thanh phát ra một điệu nhạc Mỹ. Vừa nghe đoạn nhạc đó thì anh Khảm liền nói: " Ô! Hôm nay có chuyến định cư nè mấy em ". Thì ra, như một thông lệ, hễ trong trại có chuyến định cư thì phòng Thông Tin đều phát thanh bài hát này. Không biết hôm nay sẽ có bao nhiêu người rời khỏi Galang đây? Họ quá may mắn. Lời hát nửa buồn nửa vui trôi lãng đãng trong điệu nhạc: ... When will I see you again... When will we share precious moments... Will I have to wait forever... Or will I have to suffer and cry the whole night through... When will I see you again... When will our hearts beat together... Are we in love or just friends... Is this my beginning or is this the end... When will I see you again... Những người rời trại hôm nay đều đã đến Galang trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa, không bị thanh lọc như đám chúng tôi bây giờ và sở dĩ họ còn kẹt lại là vì bị trục trặc giấy tờ hoặc phải uống cho xong thuốc trị bệnh lao. 

Gần 10 giờ thì đám chúng tôi ghé vào một tiệm vàng nằm trong con phố chính của Galang 2. Mấy tiệm vàng ở đây ngoài chuyện mua đi bán lại thì họ còn làm kiểu như nhà thầu PKL là đổi ngoại tệ để kiếm lời. Tiền của quốc gia nào thì cũng được chủ tiệm nhận đổi sang Rupiat ngoại trừ tiền in hình lão già bên quê nhà. Trong các tủ kiếng của tiệm, ngoài dây chuyền, nhẫn, bông tai vàng còn thấy bầy cả tiền Canada, tiền Úc và tiền Franc nữa nhưng nhiều nhất vẫn là Đô la Mỹ. Gần bên cửa sổ mở, một thợ bạc lớn tuổi đang dùng cây đèn khò thổi chảy lỏng các mẩu vàng vụn trong cái khuôn nhỏ. " Ông này khéo tay lắm nha. Dây chuyền, cà rá bày bán ở đây là do một tay ổng làm ra ", chị Phượng thì thào. Thấy đám chúng tôi, hai vợ chồng chủ tiệm cười thật tươi. Trước mắt thì 5 đứa chúng tôi đổi mỗi người 50 đô la Mỹ để có tiền trả lại cho chị Phượng cùng để mua sắm những thứ mà cả bọn cần dùng. 

Có các dụng cụ mới mua, tôi và Đỉnh đã bỏ nguyên tuần lễ liền để sửa sang lại chỗ ở chung của cả bọn. Giống như những nhóm người khác trong barrack, chúng tôi đã làm chỗ ở như một cái phòng nhỏ và có cửa gắn bản lề cùng ổ khóa cẩn thận. Rồi đóng cái giường bằng ván gỗ to đùng cho cả bọn 5 người ngủ chung trong một cái mùng thật rộng. Ở trại tị nạn thì việc nam nữ thuyền nhân trong các buổi đầu mới đến phải sống chung đụng trong một chỗ với nhau là chuyện bình thường. Tách ra sống riêng là chuyện về sau. Bây giờ, cả đám phân công là nấu ăn thì do 3 cô gái lo còn việc gánh nước từ suối về xài chung là nhiệm vụ của tôi và Đỉnh. 

Chúng tôi đã trở thành ma cũ khi có thêm nhiều chiếc ghe khác đến được Galang. Trong trại tị nạn, ngày tháng rất dài vì dư thừa thời gian ở không mà không biết làm gì. Thời khóa biểu sinh hoạt hàng ngày giông giống nhau cứ buổi sáng sau khi thức dậy thì ra ngồi quán cà phê cho đến gần trưa mới về barrack kiếm cái ăn qua loa rồi ngủ. Chiều thức dậy, đi tắm rồi ăn tối sau đó lại mò ra quán cà phê ngồi tiếp cho đến khi gần giới nghiêm mới về lại barrack để ngủ. Biết anh Khảm dạy Anh ngữ, tôi khuyến khích Đỉnh và 3 cô gái nên theo học nhưng lớp của anh lại mở ở tận ngoài Galang 2. Nghe 3 cô gái than phải ra tận Galang 2 học quá xa, anh Khảm bảo anh sẽ hỏi một người bạn là chủ quán cà phê ở Galang 1 để anh mượn chỗ dạy Anh ngữ khi quán này vẫn chưa mở hàng vào lúc sáng sớm.

Một buổi tối có hẹn trước với anh chị Khảm-Phượng, đám chúng tôi đến quán cà phê có tên là Dạ Lý nằm ở trên một ngọn đồi thấp dọc theo con đường dẫn ra bãi biển. Bước vào quán, thấy anh chị Khảm-Phượng đã ngồi sẵn với một người lạ ở một bàn ngoài sân. Chúng tôi rụt rè ghé vào bàn thì anh Khảm liền giới thiệu với người lạ đó: " Anh Luân! Đây là các em tôi vừa mới đến trại ". Ông tên Luân gật đầu chào đám chúng tôi và hỏi cả bọn uống thứ gì rồi ông bỏ đi vào bên trong. Thì ra ông ta là chủ quán cà phê này. Anh Khảm kể: " Ông ấy gốc bác sĩ quân y VNCH và đã bị Việt Cộng bắt tù cải tạo gần 3 năm nhưng buộc phải làm việc cho chúng ở nhà thương Chợ Rẫy sau khi trả tự do. Ông vượt biên đến Galang trước ngày đóng cửa và lẽ ra phải đi định cư lâu rồi nhưng, bọn P3V cố tình dìm hồ sơ vì chúng cần bác sĩ phục vụ ở trại ". Tôi nhìn chung quanh, quán Dạ Lý này bài trí khung cảnh khá đẹp, đèn mầu ở các chỗ khuất soi mờ mờ ảo ảo các bàn ghế lộ thiên chung với các chậu kiểng cùng các chùm lan rừng ở cạnh các lối đi. Đó là ở ngoài sân, còn bên trong là gian phòng nhỏ kê gọn 4 bộ bàn ghế hình vòng cung trước một TV khá lớn. Khách ngồi ở các bàn đó đang dõi mắt xem các đoạn tin thời sự địa phương. Vài tấm hình phong cảnh treo trên vách cùng các sợi kiểng trầu bà buông lõng thõng gần các cột nhà. Quán cà phê này là nơi mà anh Khảm sẽ mở lớp Anh ngữ vì bác sĩ Luân phải đi làm thiện nguyện ở nhà thương Galang 1 vào buổi sáng và ông ta chỉ mở bán vào giấc chiều cho tới khuya.

Trong tuần lễ này, tối nào thì 5 đứa chúng tôi vẫn cùng anh chị Khảm-Phượng đến quán Dạ Lý ngồi uống nước, trò chuyện. Một buổi tối khi đang ngồi đồng ở cái bàn lộ thiên ngoài sân, trong lúc 3 cô gái đang hỏi chuyện học Anh ngữ với anh Khảm thì có một cặp nam nữ vào quán và họ ngồi gần một bàn không xa chỗ chúng tôi. Chị Phượng kín đáo hất mắt về hai người họ để chúng tôi nhìn. Người đàn ông thì lớn tuổi, da hơi đen, thân hình chắc nịch, mặc áo ngắn tay in mầu loè loẹt. Cô gái đi cùng có vóc dáng nhỏ nhắn và mặc áo thun ngắn quần jean xanh. Mặt cô gái đẹp, tuổi cỡ thiếu niên và có mái tóc đen dài. " Papa Phước và xe của lão đó mấy em ", chị Phượng nói nho nhỏ. Papa! Cái tiếng mà người tị nạn gọi các sĩ quan Indo ở trong trại. Sao ông papa này lại có tên Phước của Việt Nam? Biết chúng tôi thắc mắc, chị Phượng tiếp:

- Lão ta là sĩ quan thuộc bộ Nội Vụ Indo chuyên thanh lọc thuyền nhân mình, còn con nhỏ tên Hướng mới đến đảo trước ghe mấy em không lâu. Nó đi cùng với bà già ruột và đang chờ đến lượt làm hồ sơ sơ vấn đó.

Từ ngày vào trại, chúng tôi coi anh chị Khảm-Phượng là thổ công ở Galang, giờ nghe chị Phượng nói chuyện về lão papa nên 3 cô gái liền hỏi tới. Anh Khảm kể: " Lão này rành tiếng mình lắm. Mấy em còn nhớ có lần đi ngang qua chuồng cọp của tụi P3V, anh-chị đã nói trong đám police có đứa biết tiếng Việt không? Cái đám biết tiếng Việt đó nguyên đã từng sống bên nước mình từ nhỏ nên chuyện bọn họ rành tiếng nước mình cũng không lạ. Chỉ riêng lão papa này mới độc. Lão học tiếng Việt trong thời gian bị bọn Việt Cộng bắt bỏ tù, mà tù cải tạo nha mấy em ".

Bị Việt Cộng bắt tù cải tạo! Chắc lão ta là sĩ quan hay viên chức của chính quyền miền Nam VNCH trước đây? Có lẽ! Vì đã có nhiều người gốc Tàu làm việc trong chính quyền nhưng nếu có thêm lão người gốc Indo này nữa thì thật lạ vì tôi biết người gốc Indo, Mã Lai, Phi hay Ấn Độ sống ở Việt Nam lâu đời nhưng chưa thấy có người nào cộng tác với chế độ cũ của miền Nam. Hầu hết họ được người Việt mình gọi bằng cái tên là dân Chà Và, Ma Ní... và họ sống bằng nghề buôn bán, cho vay tiền hoặc nuôi dê lấy sữa đem bán. Tôi và Đỉnh nhìn nhau, nói ra với anh Khảm điều suy đoán của mình nhưng anh lắc đầu, kể tiếp: " Lão bị bắt khi đang công tác trong cái gọi là Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên trước ngày 30-4-1975 và khi đó lão đang là một sĩ quan của Indonesia ".


                                          (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét