Trang

▼

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

PHẠM THẮNG VŨ - Con sóng dữ - KỲ 43





                                              (tiếp theo)

Phần vách barrack của ghe chúng tôi ở vẫn còn trống toác hoác và nhớ lời dặn của người đàn ông cho mượn cái gầu, Đỉnh nói ba cô gái nên cất quần áo ướt vừa giặt để chờ ngày mai sẽ phơi sau. Riêng tôi vì bộ quần áo vừa giặt đã cũ mèm, không sợ mất nên cứ phơi nó ở trên các hàng cọc gỗ sát vách. Ba cô gái ngồi chụm lại với nhau vừa nói chuyện vừa chải tóc cho mau khô. Trong barrack dưới ánh đèn lập lòe khi tỏ khi mờ, chỗ này người đang sắp xếp lại chỗ ở, chỗ kia người soạn đồ đạc cá nhân cho gọn gàng hoặc đã nằm im như đang ngủ. Mùi đất thoang thoảng chung với tiếng vo ve của muỗi rừng bay kiếm ăn bên tai.

Barrack chúng tôi bắt đầu có khách ghé thăm, họ là những người đã nhập trại từ trước nay nghe nói có hai ghe mới đến thì vội vào, tìm xem coi có gặp thân nhân hay người quen. Họ đi lẻ từng người hoặc từng cặp với nhau, dõi mắt nhìn lom lom vào mặt chúng tôi trong ánh đèn leo lét, mờ vàng. Đang ngồi bó gối trên tấm chiếu chưa biết tối nay cả đám năm người chúng tôi sẽ ngủ nghê ra sao thì tôi nghe có tiếng hỏi: " Vũ! Phải là Vũ không hả? ". Ngẩng đầu, tôi nhìn lên hai người một nam một nữ đang đứng trước mặt, thầm nghĩ họ là ai mà biết tên mình. Tôi chưa kịp hỏi thì tiếng đàn ông nói: " Đúng là Vũ rồi. Anh là Khảm nè Vũ! ". Tôi liền kéo cái đèn lại gần chỗ hai người đang đứng, ba cô gái cũng ngừng chải tóc và nhìn họ. Anh Khảm! Tôi nhận ra rồi. Nhà anh ở gần tiệm chạp phô nhỏ trong cùng khu phố bên quê nhà. Nhưng, tôi nhớ anh đã vượt biên từ năm ngoái và sống ở bên Malaysia mà. Sao bây giờ anh lại có mặt ở đây? Không lẽ anh cũng bị y như ghe chúng tôi? Tôi liền mời hai người họ ngồi xuống chiếu, cô Đào lật đật mang nước trà nóng ra mời. Anh Khảm cười với cả bọn chúng tôi và kể:

- Hồi chiều khi biết tin có hai ghe mới đến trại, anh hỏi thằng bạn làm trong phòng hành chính thì nó dò hồ sơ, nói có vài người thuộc quận Tân Bình mà không rõ ở phường nào. Do vậy, khi vừa cơm nước xong thì anh chị vội tìm đến, xem coi có gặp người quen nào trong khu phố không. Ghé qua mấy cái barrack của chiếc ghe trước nhưng không gặp friend nào cả, vào đây thời may anh gặp Vũ. Mừng quá đi!

" Anh-Chị "! Khi vừa từ Campuchia trở về, tôi vẫn còn gặp vợ và hai đứa con anh Khảm, vậy thì người phụ nữ trẻ cạnh bên anh ở đây là ai? Sẽ hỏi anh sau vậy, chắc chắn! Vừa lúc thì Đỉnh đi tắm về tới, anh Khảm mời cả nhóm chúng tôi đi ra quán uống nước tán chuyện cho vui. Lời mời của anh thật đúng lúc vì ba cô gái mới vừa ban nãy đã bàn nhau khi Đỉnh tắm về, cả bọn sẽ đi một vòng xem coi phố xá Galang cho biết. Chúng tôi liền gom các túi xách để gọn chính giữa một tấm chiếu và phủ kín lên bằng các tấm khác rồi kéo nhau đi theo anh Khảm cùng người phụ nữ.

Ba cô gái bám sát người phụ nữ hỏi chuyện huyên thuyên để tôi, Đỉnh và anh Khảm lẽo đẽo theo sau lưng họ. Lấy tay chỉ người phụ nữ đó, tôi hỏi nhỏ anh Khảm: " Chị nầy là ai vậy hả anh? ". Anh Khảm mỉm cười, khẽ khàng: " Xe của anh đó Vũ ". Tôi thắc mắc: " Xe là nghĩa gì, em không hiểu? ". Anh Khảm giải thích: " Ở Galang, người ta gọi bồ bịch với nhau là Xe mấy em à. Đẩy xe nghĩa là có bồ, có girlfriend hoặc boyfriend đó ".

Khi còn ở trong barrack đèn vàng lù mù mờ mịt, giờ theo lời mời của anh Khảm đến quán thì chúng tôi mới thấy phố xá Galang thật nhộn nhịp. Tiệm tạp hóa, quán ăn, quán nước và cả nhà ở nằm sát bên nhau dọc theo cạnh đường có đèn chiếu sáng chưng. Thêm vào đó, vài xe bán bánh mì, nước mía hoặc sữa đậu nành nóng lạnh... làm khu phố thêm sinh động. Quán cà phê nào đám chúng tôi đi qua cũng đông nghẹt khách vừa uống nước vừa xem TV khá lớn được treo ở hộc trên tường. Anh Khảm dẫn chúng tôi vào một quán cà phê có những bàn phía ngoài sân và chọn một cái bàn rộng nằm cạnh một cây dù nylon lớn phòng mưa. Anh Khảm lấy thuốc lá ra mời tôi và Đỉnh rồi nói khi thấy một cô hầu quán đến bên bàn.

- Ba người mình uống cà phê sữa đá nha hai em? Còn Phượng và ba cô gái thích thứ gì thì cứ gọi tự nhiên nghe.

Bẩy, Đào, Yến và người phụ nữ đi cùng anh Khảm đều gọi trái Vải đóng hộp. Nhìn bên trong và ngoài sân quán, khách đông nghẹt ngồi ken chật với nhau ở các bàn, tôi nghĩ ít nhất cũng phải trên dưới 200 người. Phía bên ngoài hàng rào của quán cà phê, người đi kẻ lại đông đúc trên đường hoặc dừng chân trò chuyện với nhau. Đèn điện sáng chưng trong các tiệm ăn phía bên kia đường soi rõ khá đông thực khách đang dùng bữa tối với nhau. Một hình ảnh giống như của khu phố buôn bán náo nhiệt cuối năm gần Tết bên quê nhà. Không biết đảo tị nạn Galang rộng cỡ nào mà trước mắt tôi lại có quá đông người Việt. Nghe tôi giới thiệu tên của Đỉnh và của ba cô gái xong, anh Khảm hỏi:

- Nhập trại Galang, rồi thấy barrack Cao Ủy cho mình ở đâu dè lại tệ như vậy hả mấy em? Hàng tiếp liệu họ phát cho được những thứ gì rồi, kể anh nghe xem?

Tôi kể tên các món hàng mới nhận được lúc xẩm tối, anh Khảm nghe qua từng thứ rồi bảo: " Thế thì còn thiếu một cái chăn len. Có lúc thì thiếu chiếu hoặc thiếu khăn, thiếu nồi... Vậy là hàng tiếp liệu chưa về kịp rồi, còn phải chờ vài ngày mới có đấy ". Hàng tiếp liệu về không kịp thì số người nhập trại Galang phải rất đông. Anh Khảm lại tiếp: " Hiện giờ, Galang có khoảng 15.000 người Việt tị nạn và sẽ còn thuyền nhân tiếp tục đổ đến nữa. Chưa bao giờ trại Galang lại đông người như vậy, cứ nhìn các quán cà phê ở đây thì biết. Không còn chỗ chứa, Cao Ủy phải cấp tốc làm các loại barrack lợp lá cho người mới đến trại như chỗ mấy em ở đó ".

Các thức uống được cô hầu bàn mang ra, anh Khảm và chị Phượng mời đám chúng tôi dùng. Cà phê sữa đá đã làm tôi sảng khoái tỉnh cả người. Nó quá ngon vì đã bao nhiêu ngày rồi nay chúng tôi mới có miếng nước đá để uống. Đào, Bẩy, Yến và Đỉnh cùng mỉm cười nhìn nhau sau ngụm nước mát lạnh. Anh Khảm hỏi thăm về gia đình tôi cùng các người quen khác trong khu phố bên quê nhà. Anh Khảm lớn hơn tôi 6 tuổi, gốc lính không quân và có vợ tên Hoa cũng người sống chung trong khu phố. Tôi còn nhớ vào cuối năm 1974, cả khu phố đã kéo nhau ra xem đám cưới của anh Khảm khi họ hàng hai bên đi rồng rắn từ nhà trai qua nhà gái rồi đến nhà thờ để làm lễ hôn phối. Ai cũng khen đôi vợ chồng anh thật đẹp. Anh Khảm tính tình hiền lành, rất thương vợ con và lúc nào cũng sống hoà thuận với chòm xóm-láng giềng. Tôi chưa thấy vợ chồng anh gây gỗ, to tiếng với nhau. Có người ở trong khu phố còn lấy gia đình anh Khảm để làm gương mẫu cho con cái trong nhà học theo. Khi đám Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH thì anh Khảm bị tù cải tạo hơn 4 trời vì chuyện đi tu nghiệp một khoá 8 tháng ở Mỹ lúc trước. Khi ra tù, anh Khảm phải làm đủ nghề từ đạp xích lô, bỏ mối nước đá, sửa xe đạp... phụ với chị Hoa buôn bán lặt vặt ở chợ để sống. Vậy mà cũng không yên với Hai Lùn, gã công an trong khu vực. Hai Lùn vẫn nói dân buôn, người bỏ mối hàng như vợ chồng anh Khảm... thuộc thành phần ăn bám xã hội. Hai Lùn là con trai một gia đình cán bộ mới chuyển đến sống ở khu phố trong thời gian nhiều gia đình phải bỏ nhà để đi vùng kinh tế mới. Không lâu sau đó thì Hai Lùn được chính quyền địa phương chọn để làm công an khu vực. Trình độ văn hóa thấp và bản thân còn đang học bổ túc nên Hai Lùn luôn có thành kiến với những người học hành đàng hoàng và đặc biệt, y rất ghét người từng du học nước ngoài bất kể về một chuyên môn gì. Người chế độ miền Nam VNCH còn sống trong khu phố đã phải khổ và điêu đứng vì y. Lấy cớ là thăm hỏi bà con cùng đi sâu đi sát quần chúng, Hai Lùn thường bất ngờ đi vào nhà những người nằm trong sổ đen. Y làm ra vẻ quan tâm hỏi han nạn nhân nhưng thực ra là để dò xét, theo dõi.

Chị Phượng bảo xong chầu nước thì cả bọn sẽ đi quán hủ tiếu nhưng anh Khảm góp ý nên ăn bánh mì cho gọn. Thấy năm đứa chúng tôi đồng ý, chị Phượng kéo Yến đi ra ngoài rồi sau đó mang về các ổ bánh mì thịt còn ấm. Nghe Đỉnh thắc mắc về chủ quán cà phê, quán ăn ở Galang là người bản xứ hay người Việt thì anh Khảm cho biết: " Galang nó như một cái phường ở bên Việt Nam. Dân tứ xứ người vượt biên mình được Cao Ủy tập trung về hết nơi đây. Người có tiền nhiều thì mở quán bán cà phê, tiệm may quần áo hoặc quán ăn. Vốn nhỏ thì bán bánh mì, gánh nước, làm công... để sống lây lất qua ngày chờ đi định cư ".

Chị Phượng rủ ba cô gái đi lòng vòng cho biết phố xá, để anh Khảm cùng tôi với Đỉnh ngồi lại quán. Anh Khảm lúc này mới hỏi: " Vũ thấy chị Hoa và hai con anh vẫn khoẻ chứ? Có nghe bà con chòm xóm nói gì về anh không vậy? ". Thực tình, tôi chẳng nghe bà con chòm xóm nào trong khu phố nói gì về anh cả. Hỏi vậy, chắc anh Khảm muốn thăm dò chuyện đang sống chung với chị Phượng ở đây? Thấy tôi lắc đầu, anh Khảm bộc bạch:

- Anh và Phượng quen nhau từ lúc sống bên Malaysia rồi khi chuyển đến trại Galang, cả hai càng thân hơn và... bồ bịch với nhau từ lúc nào cũng chẳng nhớ.

- Chị ấy có biết anh còn gia đình bên quê nhà không? Tôi hỏi.

- Biết chứ em! Anh đâu dấu diếm gì. Những lần anh viết cho Hoa hoặc nhận được thư gửi sang thì Phượng cũng được đọc. Không biết cứ sống với Phượng mãi như thế nầy rồi anh sẽ phải làm gì? Cũng khổ tâm lắm Vũ ơi!

Hỏi thêm về vợ và hai người con anh nhưng thấy tôi chẳng biết nhiều hơn thì anh Khảm im lặng, ngồi dựa lưng vào thành ghế tư lự. Đỉnh nháy mắt nhìn tôi rồi nó bỏ vào bên trong quán kiếm chỗ để xem TV đang chiếu một đoạn phim cao bồi miền viễn Tây-Hoa Kỳ có tài tử Clint Eastwood đóng. Tôi và anh Khảm ngồi nói chuyện quê nhà được độ gần một tiếng đồng hồ thì chị Phượng cùng ba cô gái quay về mà trên tay mỗi người lỉnh kỉnh vài thứ đồ gồm xô đựng nước, bình, ly và các món lặt vặt cá nhân. Yến cho biết: " Chị Phượng cho tụi em mượn tiền để mua đó anh Vũ ". Thấy Đỉnh trở lại bàn, anh Khảm gọi quán tính tiền rồi rủ cả bọn ghé vào barrack nơi anh sống cho biết chỗ. Theo chân anh Khảm-chị Phượng, đám chúng tôi băng qua cổng lớn của một bức tường bằng tôn ngăn cách với phía ngoài đường nhựa rồi đi vòng vèo, xuyên thẳng ngang ruột các barrack nằm liền sát bên nhau. " Đây là zone 3, nơi ở của những người đến từ đầu năm 1989 ngay sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa trại ", anh Khảm kể. Khác hẳn với các barrack lợp lá thô sơ tạm bợ như ở zone 4 chỗ ban Đại diện vừa sắp xếp cho chúng tôi nhập trại hồi lúc chiều, những barrack ở trong zone 3 đều cất bằng gỗ ván có mái lợp tôn vững chắc nhưng có điều phải nằm trong một hàng rào ngăn cách với bên ngoài. Có lẽ lúc đầu, Cao Ủy nghĩ chỉ còn ngần đấy người Việt vượt biên đến trại nên mới thiết lập barrack kiểu biệt lập như vậy. Đèn neon treo đều trên các cột điện ở các lối đi nên trông khu vực zone 3 thật sáng sủa, sạch sẽ. Barrack nào cũng vậy, đều một kiểu có sập gỗ ở hai bên để làm giường cho người ở và một lối đi tráng cement ngay chính giữa căn nhà. Chỗ ở của anh Khảm-chị Phượng ở gần cuối barrack nơi đã được họ quây kín bằng các tấm plastic mầu thành một căn phòng nho nhỏ khá kín đáo. Lấy tay vén các tấm plastic về một phía cho gọn, anh Khảm-chị Phượng mời đám chúng tôi ngồi lên phần ván gỗ, giang sơn riêng của hai người họ.

- Đây là nhà của anh chị. Lúc đầu, khi Cao Ủy cho tụi anh vào sống trong barrack nầy thì ai cũng thấy nó quá tệ so với các bararck ở trong Galang 2. Bây giờ, so sánh với barrack của người mới đến như các em thì mới thấy trại tị nạn càng ngày càng tệ hơn. Anh Khảm nói.


                             (còn nữa)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét