(tiếp theo)
IV. Một số hoài nghi,
phản biện, bài bác Tân hình thức Việt
San sẻ với Tạp chí Sông Hương
trong Lời dẫn chuyên đề Thơ Tân hình thức - “như một trào lưu mới mẻ đối với
sáng tạo và phê bình người Việt”; “bất cứ một trào lưu sáng tạo nào, một lối
chơi mới mẻ nào khi mới quảng diễn chắc chắn sẽ tạo ra những hiệu ứng khác
nhau. Tân hình thức không phải là ngoại lệ. Việc truy vấn, hoài nghi về Tân
hình thức là điều dễ hiểu bởi thông qua sự hoài nghi thì giá trị của nghệ thuật
mới được kiểm chứng” - theo cách nhìn và tài liệu còn hạn chế chúng tôi mạn
phép chọn lọc một số hoài nghi, phản biện, bài bác Tân hình thức Việt (Phụ lục 9-), từ những năm mới vào các vòng đầu vũ điệu không vần (1999-2002)
cho đến tháng ngày (10/2013) sắp bước lên một sân khấu lớn.
Đơn cử các tác giả Mã Giang Lân, Nhã Thuyên,
Mai Văn Phấn, Nguyễn Hòa, Chân Phương, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Vũ Văn, và Ban biên tập talawas, chúng
tôi đã trích lược khá nhiều vì nội dung thi pháp, tư liệu bài vở, tinh thần học thuật, văn hóa tranh
luận, ảnh hưởng… Các ý kiến mở màn của Nguyễn
Vũ Văn và khép màn của Chân Phương có
thể xem là dữ dội nhất trong những cơn sóng phản bác Tân hình thức ở hải ngoại vào chính các năm hoàng kim của
thể thơ này 2002-2007. Dù chúng tạo ra các hiệu ứng tốt xấu khác nhau nhưng đều
mang mức học thuật cần thiết. Đó là điểm son cho phê bình văn nghệ Việt nói
chung, trong và ngoài nước. Nếu biết rằng do phải lấy sự tồn tại làm mục tiêu
tối hậu và do nhiều hạn chế nhất là về nhân sự, sinh hoạt văn chương Việt ở
ngoài nước thực tình rất khó có phê bình văn học chuyên nghiệp và khách quan dù
sống ngay trong lòng các quốc gia sở hữu một nền phê bình như thế, chúng ta
càng thấy quý cuộc tranh luận Tân hình thức như đã từng. Nó tỏ ra không bị
chính trị và thời cuộc can thiệp; tính chất phe bè cũng không là bao. Đỗ Kh.
từng ví cộng đồng văn chương di dân chật chội và vui vầy như gia đình “tứ đại
đồng đường” với một căn hộ khép kín. Giữa các tác giả hải ngoại với nhau, ai
viết được gì quý cái đó nếu như không “phạm giới” chính trị. Hầu như không có
những cuộc tranh luận học thuật về phương pháp sáng tác, ngoại trừ sự kiện Tân
hình thức.
Rất
cần tìm hiểu về những phê phán, chỉ trích, hoài nghi Tân hình thức từ dư luận
bạn đọc, giới phê bình ở trong nước. Đó có là một trong các chủ đề của Hội thảo?[i]
V. Những vấn đề thi
pháp
V.1. “Nhân vật” thể loại trong Thơ Tân hình thức Việt
“Nhân
vật chính” cũng là “nhân vật hạng nhì và hạng ba”
Thể loại thường được giới lý luận,
nghiên cứu, phê bình xem là một trong rất ít “VIP” theo quá trình phát triển
văn học, vì thế không thể nào có nhiều cách tân thể loại.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày,
trong thi ca hiện đại Việt ở mức thử nghiệm hoặc lý thuyết có Trần Dần (Thơ ý
niệm/ Thơ tiểu thuyết/ Thơ dòng chữ), Đặng Đình Hưng (Thơ tiểu thuyết), Dương
Tường (Thơ âm-hình), Ðặng Thân (Thơ phụ âm), Nguyễn Hoàng Nam, Lê Văn Tài (Thơ
đồ họa), Nguyễn Thúy Hằng (Thơ ấn tượng sự vật), Khải Minh (Thơ cấu), Nguyễn
Tôn Hiệt (Thơ thực hiện)… Mở đường và thành tựu càng hiếm: Phan Khôi đã khai
hỏa cách mạng cho phong trào Thơ Mới, và bây giờ Tân hình thức Việt cải cách và
sinh ra một thể thơ mới.
Như thế, nếu dùng cách đề cao như
của M.M. Bakhtin[ii] thì thể
loại với trào lưu Tân hình thức Việt, vừa làm “nhân
vật chính” vừa chiếm giữ cả “nhân vật hạng nhì và hạng ba”.
Ở thời kỳ đầu của các thử nghiệm, cải cách thể loại,
với người đọc mang “con mắt cũ” câu chuyện ranh giới hình thức thể loại luôn
sôi động. Đó là điều thường. Nhưng, có một số thể loại đến thời kỳ sung mãn hoặc
một số phong cách tới khi thoái trào vẫn không thể mang đường biên rành mạch. Người
ta gọi đó là thể loại, phong cách ký sinh vào các thể loại, phong cách kinh
điển và ổn định. Không cần xét đến ví dụ lớn là tiểu thuyết (thể loại văn
chương duy nhất đang biến chuyển và tới nay vẫn chưa định hình; thể loại mềm
mại nhất, năng động nhất, mở nhất - Bakhtin), cũng thấy rõ ở nhiều ví dụ nhỏ:
thể thơ văn xuôi, dòng Tiểu thuyết mới của Pháp, hoặc rộn ràng trên văn đàn
hiện nay là truyện cực ngắn.
Đặc biệt, không hiếm thơ của những tác giả độc lập tạo
nên các hiện tượng văn chương do mang phong cách bấp bênh thể loại mà thơ Nguyễn Quang Thiều là một cách tân hiển lộ
nhưng bất đồng trên thi đàn Việt suốt hơn 20 năm qua[iii].
Thơ Trần Vấn Lệ là trường hợp khác về biến cách thể loại giữa thơ và văn, thơ
văn xuôi và thơ tự do, tuy về nhiều mặt chưa cách tân. Còn thơ Nguyễn Đức Tùng,
chúng tôi từng nhận xét[iv],
có thể coi là hơn-cả-cách-tân khi đang cố gắng hoàn chỉnh một lối viết mới lạ
trong thể thơ-văn-kể. Vẫn là thơ tự
do không vần, nhưng nhịp điệu gần như không qua từ ngữ mà qua ý tưởng, ngôn ngữ
hiếm mỹ từ, đề tài thời cuộc, giọng hài giễu, song hành hai dòng văn hóa
Đông-Tây, hai nhân sinh quan từ hai ý hệ và nhất là bất ổn trong hai hình thức thơ-văn.
Nếu như thử nghiệm thơ-văn-kể theo kiểu như thế mà thành đạt thì, sau Nguyễn
Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần và Nguyễn Quang Thiều; Nguyễn Đức Tùng sẽ
là cá nhân thứ năm mở lối độc lập tiếp tục cải cách, cách tân Thơ Mới, cả về
đổi mới tư duy thể loại lẫn đổi mới phương pháp như 2 nhóm là Tân hình thức
Việt (đang thành tựu) và Mở Miệng (dở dang; hiện tượng văn hóa có tính văn học
hơn là hiện tượng văn học[v]).
Cùng là các dạng thơ lấy văn xuôi làm
hồn, nhưng cách làm thơ loang chảy vô lường Nguyễn
Quang Thiều đối ngược với đường lối Tân hình thức Việt. Cấu
trúc Tân hình thức bề ngoài vuông vắn, nhạc tính tuyệt không liên hệ với âm
vần; Thơ Nguyễn Quang Thiều có ngữ điệu và hình thể bất định của thơ tự do.
Nhận thức thẩm mỹ: Tân hình thức phá hủy tư duy Thơ Mới và thơ tự do hiện đại để
tạo ra dòng thơ kể; Thơ Nguyễn Quang
Thiều tựa hẳn vào mỹ học truyền thống mà nâng cấp qua diễn ngôn. Bút pháp: Tân
hình thức ra ngoài khuôn phép các thể tài truyền thống, dùng nhiều thủ pháp cực
đoan (tính truyện là tiên quyết, bỏ “vần lẻ” cuối câu tạo “vần lớn” toàn bài
bằng 2 kỹ thuật lặp lại và vắt dòng vô lối, không tu từ, giễu nhại bằng kiểu
nói đời thường); Thơ Nguyễn Quang Thiều coi trọng ngôn từ (hình tượng) và cú
pháp (mạch thơ), tung mở các thể loại cũ, không lệ thuộc vần, tính truyện vừa
phải mà thường là “truyện giả/ ảo”, diễn đạt nghiêm cẩn với cảm xúc lãng mạn và
cách xa ngôn ngữ bình dân[vi].
Để dễ so sánh chúng tôi đã thử chuyển bài thơ tự do Bữa tối của tác giả này sang thể Tân
hình thức. (Phụ lục 2-).
Suốt 10 năm qua Thơ Tân hình thức
Việt bị coi như “dở ông (thơ) dở thằng (văn)”. Nếu nó còn bị đọc theo cung cách
cũ thì việc khó tiếp nhận là điều có thật. Cứ riết róng săm soi các chi tiết
thuộc về hiện tượng, lại ở những bài chưa đạt ngưỡng, quả là nhìn đâu cũng thấy
văn xuôi trong Tân hình thức. Phải bằng cái nhìn bản thể phân biệt thơ và văn
xuôi mới thấy Thơ Tân hình thức Việt là… thơ. Tạp chí thơ danh tiếng của Pháp
Action Poétique (Hành động thơ) sau cuộc tranh luận vào năm 2000 đã đưa ra 3 điểm
lớn phân biệt thơ và văn xuôi[vii],
theo đó chúng tôi tách ra 6 chi tiết với thứ tự: đối tượng, chủ đề, tiết tấu,
thời gian, chủ thể, nghĩa. (Các mục V.2-V.4 sẽ minh họa qua trường hợp Tân hình thức Việt.) Như
một tin vui nho nhỏ “hậu sinh khả úy” trong làng thi ca Việt giữa làng văn hóa
toàn cầu, mời bạn đọc đến với Đỗ Lịnh Ái Linh/ Aline Dolinh, nữ sinh lớp 10
trường trung học Oakton, qua bài phát biểu của em - nhân vật được vinh danh -
tại tiệc mừng các Thi sứ quốc gia Hoa Kỳ ngày 21/9 vừa rồi:
“Tôi tin rằng thơ, khi so sánh với một hình thức khác
như văn xuôi, có vị trí đặc biệt qua cách chúng ta đánh giá ngôn từ. Trong văn
xuôi - và điều này chỉ là cách nói chung - chúng ta thấy ngôn từ làm nhiệm vụ
trang trí câu chuyện, một phương tiện đúc kết cốt truyện hoặc tạo dựng các nhân
vật. Nhưng trong thơ, ngôn từ là câu chuyện.”[viii]
So sánh của chính một cây bút trẻ Tân hình thức Mỹ nên cũng
gần gụi với thực trạng truyện trong thơ-kể Việt. Đúng thế! Tân hình thức là thể
loại duy nhất đã làm cho ngôn ngữ - đối tượng của thơ - trở thành “câu chuyện”.
Thơ Tân hình thức với thơ văn xuôi và trường
ca
Nào,
chúng ta nhìn ngang Thơ Tân hình thức qua 2 thể loại khác là thơ văn xuôi[ix]
và trường ca để thấy phần nào những cái giống, cái khác.
Hoàn toàn như ở thơ văn xuôi
và trường ca, một bài
Tân hình thức thành công khi và chỉ khi tạo được trường thơ phủ sóng toàn tác phẩm. Điều gì quyết định sự giống nhau
đó?
Trước hết, ở cả 3 thể loại thơ văn xuôi, trường ca và Tân hình thức, tùy
từng thể loại mà mỗi câu thơ riêng lẻ
có chức năng khác nhau nhưng chúng đều không còn như ở các thể loại vần điệu và
tự do. Câu thơ lúc này đã mất, giảm vai trò. Tác phẩm là một dòng chảy. Đó
chính là “minh triết” thơ-chảy, nếu
có thể gọi vậy. Bài thơ tạo ra câu thơ chứ không ngược lại: quan niệm ấy từng
rất đúng cho thơ văn xuôi và trường ca,
nay đến lượt Thơ Tân hình thức. Vậy nên, về văn bản và diễn ngôn, với 3
thể thơ này việc trích lược câu thơ sẽ có nguy cơ làm sai lạc. Cũng như các lời
nói, câu văn bị thiếu hoàn cảnh của chúng mà Alexis de Tocqueville đã từng răn
đe trong lĩnh vực báo chí, chính trị: “Nếu chỉ nghe theo những trích dẫn thì
bất kỳ ai cũng phải chém đầu!”
Về cú pháp, so với thơ
tự do nói chung và với thơ văn xuôi nói riêng, cách tân mãnh liệt của
Thơ Tân hình thức Việt là triệt tiêu ý
niệm câu thơ[x].
(Tiếp ở mục V.3.) Trong một bài trường
ca, hay một bài thơ dài mang tính trường ca, có rất nhiều câu thơ, đoạn thơ chỉ
như các đai ốc, vòng đệm nhỏ, các khoang phụ trong cả cỗ máy khổng lồ. Cũng như
với tiểu thuyết, do không đọc trọn tác phẩm hoặc đọc mà không dò ra được từ
trường văn học của nó, nên các kiểu trích dẫn hú họa và chủ quan một vài câu,
thậm chí cả trường đoạn không tiêu biểu để phán xét toàn tác phẩm vẫn là lề lối
phê bình “nhìn cây không thấy rừng” thường gặp. Nhưng dù sao, cũng là lỗi của
nhà phê bình hơn là của tác phẩm trường ca. Thơ văn xuôi và Thơ Tân
hình thức thì đúng chịu “lỗi”: khó có câu
thơ nào của hai thể thơ ấy được coi là độc lập, cả về nội dung tư tưởng lẫn
quan hệ cú pháp, cả về nhịp điệu lẫn ngữ nghĩa. Các câu thơ không được phép
mang một đời sống riêng. Khác hẳn ở những thể thơ khác, nhất là thơ truyền
thống, trong thơ văn xuôi và Thơ Tân hình thức các câu thơ sống bầy
đàn. Rất hiếm các câu-thơ-ong-chúa. Ở Tân hình thức, ngay trong những bài có
“câu văn” đầy đủ chủ vị, chấm phẩy chính kỹ thuật vắt dòng đã khiến bài thơ
không còn câu thơ. Ở thơ văn xuôi, vì bài không được phân
chia theo từng dòng như ở các thể truyền thống và tự do, dù câu
vẫn tồn tại nhưng không để tạo âm điệu bằng vần: câu thơ có tựa hồ không. Những
câu thơ hờ! (Bởi vậy chẳng ai thấy một câu thơ của bài thơ văn xuôi nào đó được
tuyển vào các tập như 1001 Câu thơ hay,
được thảo ra cờ phướn giữa sân Văn Miếu rồi thả lên trời xanh những Ngày Thơ
Nguyên Tiêu Việt Nam
hàng năm?)
[i] Tham khảo:
-
“Phóng viên Văn Nghệ Trẻ: (…) Thơ Tân hình thức có còn mới ở Việt Nam
không, và chúng ta có cần phải tổ chức một cuộc hội thảo với cả Tây lẫn ta quy mô
như vậy không?
-
Inrasara: Thơ Tân hình thức không còn mới
ở Việt Nam,
đó là điều người quan tâm không thể không biết. Dẫu sao, 12 năm hành trình, nó
cần được tổng kết, đánh giá. Vấn đề đặt ra là: hội thảo gồm những ai, và cách
thảo luận như thế nào? Tân hình thức hay trào lưu văn chương nào bất kỳ, luôn cần đến sự đánh giá ngay thời điểm nó
sắp kết thúc, là hay hơn cả. Hoài Thanh đã tổng kết phong trào Thơ Mới như
thế, tại sao hôm nay ta thì không? Do
đó, một hay vài hội thảo về Tân hình thức
ở thời điểm này là rất cần.” (Bđd, Văn Nghệ Trẻ 29/9/2013, và phongdiep.net
9/10/2013).
[ii] “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào
của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của
văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn
trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba.” (M.M.
Bakhtin; Nguồn: Đỗ Thị Thu Huyền, Những giọt
thơ tích tụ nơi thượng nguồn thi cảm, phongdiep.net 21/9/2013).
[iii] Đỗ Quyên, Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ
dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị, Tham luận Tọa đàm khoa học “Nguyễn
Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại”, Viện Văn học - Hà
Nội 28/6/2012; và vanvn.net 19-20-21/6/2012.
[iv] Báo Nghệ Thuật Mới số 11 tháng 12/2012; và Đỗ Quyên, Văn học Việt ở ngoài nước trong các năm
2005-2010, vanhocviet.org 25/8/2013.
[v] Xem thêm: Phân loại theo sáng tạo thi pháp thơ Việt
sau Thơ Mới (Mục IV.2. và Chú thích
38); Về hiện tượng văn hóa trong các sự kiện văn học (Đỗ Quyên, Thơ
Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị, sách Kỷ yếu Hội
thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Nxb Hội Nhà văn 2011, và
dangvansinh.blogspot.ca 16/5/2011); và, "Có thể nhận định rằng, sau Sáng
Tạo những năm 60 của thế kỷ trước, Mở Miệng là nhóm thơ đầu tiên đặt dấu ấn rất
đậm trong dòng chảy của thơ Việt. Chúng ta hy vọng 5 khuôn mặt này làm nên cuộc
cách tân lớn. Nhưng rồi họ cũng không thể. Tại sao?" (Inrasara, Sẽ
không có cuộc cách mạng thơ trong tương lai gần, Tham luận Hội thảo thơ
- TP HCM tháng 7/2006; và tienve.org).
[vi] Chú thích 38.
[vii] Tham khảo: Montel, Jean-Claude; Thơ/văn xuôi khác biệt
chỗ nào?, Hoàng Hưng dịch từ tiếng Pháp, phebinhvanhoc.com.vn
13/10/2012; Girshman, М.М., Văn xuôi, Lã Nguyên dịch từ
tiếng Nga, phebinhvanhoc.com.vn 3/9/2013; và Ngô Tự Lập, Văn
chương như là quá trình dụng điển, Nxb Tri Thức 2008, các chương II, IV, V và VI.
[viii] Đinh Từ Thức, Aline, cô bé gốc Việt được làm Thi
sứ và mời vào Bạch Ốc, damau.org 3/10/2013; Xem thêm: Các bài thơ
Tân hình thức Mỹ của Aline Dolinh (Trưởng nữ, di dân, hè sàigòn, damau.org
11/10/2013, Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ).
[ix] Riêng về đề tài thơ văn xuôi Việt chúng tôi cũng đang
thực hiện ở bài viết khác, với một số điểm nêu trong bài này cùng vài bài đã
công bố như ở Chú thích 38, 40, và Nhìn Nhã Thuyên, từ thơ văn xuôi, damau.org
14/10/2008. Muốn gửi trước đến bạn đọc một đoạn phóng bút chút ít dính với Tân
hình thức:
“Trong
số các tay thơ văn xuôi Việt đương đại, băng qua những Ðặng Ðình Hưng, Trần
Dần, Trần Vấn Lệ, Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Hiện, Trần Anh Thái, Lê Minh Quốc,
Nguyễn Minh Khiêm, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn
Lương Vỵ, Nguyễn-hòa-Trước, Đặng Thân, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Lê
Nghĩa Quang Tuấn, Nguyễn Thuý Hằng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, v.v… tôi thích nhất
nhì là Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Linh Khiếu. Bỏ qua nhân thân, vị thế ngoại vi
- trung tâm của nhị vị trên vùng thơ Việt, chỉ nói về “chuyên môn”. Trên bản đồ thơ văn xuôi Việt, Chánh như là Do Thái và Khiếu như là Ấn
Độ. Chánh chém đứt các tay thơ văn xuôi khác ở cái ẩn ức, hoang đàng, tục tằn
thời cuộc hóa và dục tính hóa vào hệ thống ngôn từ, Khiếu đè sập các hình hài
thơ văn xuôi bằng độ kỳ vĩ và ưu đàm của tư tưởng nhân sinh theo nhịp chảy chữ
nghĩa; Thơ Chánh càng nhấn nhá phần thú (để tìm về cái người) bao nhiêu, thơ
Khiếu nâng cao cái người (để tìm diệt cái thú) bấy nhiêu; Bút pháp: thơ văn
xuôi Chánh phúng dụ/ ẩn dụ/ ngoa dụ/ hoán dụ/ dụng điển/ so sánh lắt la lắt
léo, thơ văn xuôi Khiếu là dòng cuốn trôi bến tung bờ bằng thủ thuật lặp đi lặp
lại; Cấu trúc: Chánh ưa cú pháp chữ nghĩa quái đản và tếu táo, Khiếu mượn dòng
ý thức Pháp để chở đạo Việt. Sau thành tựu, 5-6 năm qua thơ Chánh phụt ẩn ức
chính trị và dục tính lên thành mục đích sáng tác: Tiếc! Trên lối thử nghiệm,
5-6 năm qua thơ Khiếu hẹn buổi chào đời một sáng tác khổng lồ nhất về dung lượng
(khoảng 210 trang, 110.000 chữ), kỳ vĩ nhất về nội dung tư tưởng nên khó đọc
nhất về hình thức nghệ thuật cho dòng thơ văn xuôi Việt, dòng thơ trường ca Việt và có thể cả dòng
thơ hiện đại Việt: một cuốn kinh về sự phồn sinh!
Năm
qua, thơ văn xuôi Việt, như là ở giữa Nguyễn Quốc Chánh và Nguyễn Linh Khiếu về thi pháp thể
loại và ngôn ngữ, đã có thêm Nguyễn Thanh Hiện đồ sộ về suy tưởng kinh điển và mênh
mang cảm hứng hiện đại cũng bằng dòng ý thức Pháp mà chở tình Việt làng Việt với những thiên trường ca tân cổ điển.
Và, trừ Trần Vấn Lệ, không một tay thơ văn xuôi nào nữa trong số các vị kể trên làm
bạn với Tân hình thức! Với Nguyễn Quốc Chánh, chắc vì dù dư giọng đời thường ứa
tràn bức xúc, phá ph/cách tùm lum, mạch thơ loang lổ vô lường, nhưng quá đậm ẩn
dụ đặc tu từ như một loài tái sinh của phái Tượng trưng. Nguyễn Linh Khiếu ắt
bởi dầu thật mênh mang sự kể, kỹ thuật lặp lại cái đối lập, vắt dòng trải
nghiệm tít mù nghi vấn, nhưng tuyền là đại tự sự, suy tưởng siêu nhân siêu
nhiên siêu đạo siêu đời, diễn ngôn cao vời đến chết đi được.”
[x] Xem thêm: “Lần đầu tiên, với phong trào Thơ Mới, thơ
tự do trở thành một trong những kỹ thuật chủ chốt của thơ ca Việt Nam
hiện đại. Đây là kỹ thuật mới nhất làm cho Thơ Mới đoạn tuyệt hẳn với thơ cũ.
Đặc biệt, trong khi tiếp thu kỹ thuật thơ tự do, các nhà Thơ Mới Việt Nam
còn thực hiện một bước đi triệt để hơn: thực hiện kỹ thuật thơ văn xuôi. Thơ văn xuôi là bước phát triển cao nhất của
thơ tự do. Ngoài đặc trưng chung của thơ ca là nhịp điệu, thơ văn xuôi còn giống thơ tự do ở cùng một
điểm chung là không bị ràng buộc vào các quy tắc về số câu, số chữ, niêm luật…
Nhưng, nó khác với thơ tự do ở chỗ là
trong khi thơ tự do vẫn lấy câu thơ làm
đơn vị nhịp điệu và vẫn có thể có vần,
thì thơ văn xuôi không phân dòng, không dùng hình thức câu thơ làm đơn vị nhịp điệu,
và thứ hai là thơ văn xuôi không
có vần.” (Nguyễn Văn Dân, Ảnh
hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ thuật trên thế giới và Việt Nam,
Tạp chí Văn học nước ngoài số 8/2012, và phebinhvanhoc.com.vn 9/5/2013).
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét