Lại cấm viết
cải cách ruộng đất.
Hai mươi năm sau ngày ông Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh ký
lệnh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ xem ra 700 ông bà hội viên Hội nhà văn Việt Nam
không cảm thấy dễ thở hơn bao nhiêu, nhất trong việc xin “giấy khai sinh” cho
đứa con tinh thần của mình. Trong khi những tác phẩm “tào lao” : chuyện yêu
đương nhí nhố, chuyện phòng the, chuyện
nịnh Đảng .. dễ dàng ra mắt độc giả để tạo nên cả một nền “giả văn chương” thì những tác phẩm có đôi chút hiện thực, gói
ghém được phần nào sự thực của đời sống thì hoặc bị cấm ngay từ trước khi in,
hoặc in rồi bị xay ra thành bột giấy, hoặc phát hành rồi ra lệnh thu hồi hoặc
cấm tuyên truyền. “ Chuyện kể năm 2000”
của Bùi Ngọc Tấn, “Cọng rêu dưới đáy áo”
của Võ Văn Trực, “Hậu Chí Phèo” của
Phạm Thành, thơ Trần Dần ….và sau đó là tiểu thuyết “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng viết về đề tài cải cách
ruộng đất .
Nước
mắt một thời bao giờ lau khô ?
NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM KHÔNG NÊN “ĐÁNH BÀI LỜ” TRƯỚC
YÊU CẦU CHÍNH ĐÁNG CHO MỘT TÁC PHẨM RA ĐỜI !
Tôi là Nguyễn Khoa Đăng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam,
hiện nghỉ hưu tại 19/39 đường Thống Nhất Phường 16, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí
Minh, xin kêu cứu để được đáp ứng một yêu cầu trong việc xuất bản sách.
Vừa qua, tôi có viết được một cuốn tiểu thuyết- tự truyện,
nhan đề là “Nước mắt một thời”, kể về
sự phấn đấu đến kiệt lực để hoàn thiện nhân cách cuả một thanh niên mà ngay từ
15 tuổi đã bị gạt ra ngoài lề cuộc sống chính trị như không được tham dự các
buổi mít tinh, không được vào đoàn thanh niên, không được vào đại học. Tất cả
đều chỉ vì cái thành phần gia đình anh
ta bị quy buộc, thứ “địa chủ” mà số ruộng đất hạn hẹp không quá 3 héc ta, được
gây dựng bằng mồ hôi cuả bà mẹ, thời nhỏ từng đi ở đợ, lớn lên quanh năm đầu
tắt mặt tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, còn ông bố thì hết làm phu đồn
điền cao su, lại gần như cả đời còng lưng bên chiếc máy khâu cọc cạch, trong
khi ông nội thì được nông dân một làng ven biển nhớ ơn tôn làm thành hoàng và
lập đền thờ.
Điều đáng nói là
mặc dù bị đối xử nghiệt ngã như thế nhưng nhân vật này vẫn một lòng phấn đấu để trở thành một nhà văn. Có nhiều nguyên nhân để người thanh niên này
hoàn thiện nhân cách cuả mình, trong đó không thể không kể đến nguyên nhân khởi
đầu từ một bức ảnh chụp cảnh “Bác Hồ” đặt tay lên vai hai em thiếu nhi với dòng
chữ chú thích phơi phới một niềm tin “Có
Bác dẫn đường, chúng cháu tin tưởng ở tương lai tươi sáng” mà anh ta được
nhìn thấy trong thời khắc đen tối nhất cuả đời mình.
Ngay sau khi tập
bản thảo hoàn thành, nghĩ cuốn sách cuả mình không vi phạm luật xuất bản, tôi
mạnh dạn gửi bản thảo đến lần lượt từng nhà xuất bản.
Đầu tiên, là nhà Xuất bản Hội Nhà văn, cơ quan cuả Hội mà
tôi là Hội viên. Người trực tiếp nhận bản thảo và biên tập là nhà thơ Ý Nhi,
trưởng cơ quan đại diện cuả NXB tại TP Hồ Chí Minh. Sau một thời gian chờ đợi,
tôi đã được nhà thơ cho biết cuốn sách cuả tôi không được nhà văn Nguyễn Phan
Hách, giám đốc NXB chấp nhận. (Xin lưu ý, tất cả chỉ là nói miệng, không hề có
văn bản trả lời).
Tiếp đến, là NXB Văn học. Nhà văn Triệu Xuân nhận bản thảo
và biên tập. Sau khi đọc xong, anh tỏ ra rất nhiệt tình với tác phẩm cuả tôi,
động viên tôi bằng một câu mà nếu nói ra chắc tôi sẽ bị cho là tự đánh bóng
mình nên tôi không muốn nhắc lại. Song,
ít lâu sau thì lại chính anh Triệu Xuân trả lời: Ông Nguyễn Văn Lưu, giám đốc
NXB không chấp nhận (vẫn chỉ là nói miệng)
Không nản chí, tôi gửi đến NXB Trẻ. Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu nhận
bản thảo nhưng sau đo lại cho rơi vào quên lãng, không trả lời.
Vẫn kiên trì, tôi gửi đến NXB Văn hoá Sài Gòn. Nhà văn Trúc
Phương, Tổng Biên tập, trực tiếp đọc cuốn sách. Nhà văn đã nhận xét rất tốt về
tập bản thảo của tôi, hồ hởi bảo tôi nên kiếm một đạo diễn giỏi, người Bắc, để
chuyển thành phim, một bộ phim mà ông tin rằng sẽ có tiếng vang. Ông còn nói
một câu, nếu tôi nghe không lầm thì là: “Những người cách mạng chân chính nên
đọc cuốn sách này”. Vậy mà, sau
đó bản thảo lại bị Ban giám đốc từ chối (vẫn không có văn bản).
Tôi vẫn không nản chí, lại gửi bản thảo đến Công ty Cadasa, nơi thường liên kết với các
nhà xuất bản in sách. Sau khi xin giấy phép ở một số NXB nữa, không được, họ đã
đưa bản thảo của tôi đến NXB Công An Nhân dân, cơ quan đại diện phía Nam. Nhà thơ
Phan Trung Thành là người trực tiếp biên tập cuốn sách này. Lần này rất may là
bản thảo đã được chấp nhận và được Cục Xuất bản cấp giấy phép. Cuốn sách sẽ
được in theo phương thức liên kết giữa tác giả và Nhà Xuất bản. Hôm sau, nhà
văn Phùng Thiên Tân, Tổng biên tập cho gọi tôi đến báo tin NXB sẽ đứng ra in
cuốn sách này, không cần phải liên kết. Tôi rất vui chờ ngày cuốn sách được ra
đời sau bao ngày tháng lăn lộn hết NXB này đến NXB khác. Sau đó, không hiểu vì
lý do gì, anh Thành lại bảo tôi photo bản thảo đã được Nhà văn Phùng Thiên Tân
trực tiếp biên tập lần cuối, thành 3 tập, để NXB gửi ra Hà Nội xin thêm ý kiến
các anh Đào Duy Quát, phó Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương, Đỗ Kim Cuông, Vụ
trưởng Vụ văn nghệ…Tôi đoán bản thảo cuả tôi lại gặp phải trục trặc gì đó. Tôi
còn được biết, cùng với bản thảo, anh Phùng Thiên Tân còn gửi kèm theo hai lá
thư (đề ngày 18.10.2007) cho anh Quát và anh Cuông với lời lẽ rất tha thiết.
Mạn phép anh Tân, tôi xin được trích một đoạn trong bức thư của anh: “Tôi và anh Đăng quen biết nhau đã lâu, đọc
cuả anh ấy vài cái rồi, nhưng đến cái này tôi rất tâm đắc, thấy bạn mình viết hay hơn, tâm huyết hơn, nhưng
vì câu chuyện có liên quan đến cải cách ruộng đất, một đề tài rất nhạy cảm.
Tôi đã trực tiếp biên tập từng câu chữ, tất thảy 3 lần rồi,
chúng tôi xác định, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng có cái nhìn khách quan và nhân bản
về thời khắc lịch sử đau lòng ấy, không hề có những câu chữ hằn học, bôi bác
như một vài nhà văn khác đã viết về đề tài này.”
Dù biết bản thảo của tôi đến đây không xuôi chèo mát mái
rồi nhưng tôi vẫn không hết hy vọng, vẫn ước mong nó được xuất bản. Tôi cứ nghĩ
mong ước này là chỉ cuả riêng tôi. Nào ngờ, các anh ở NXB cũng có tâm trạng ấy.
Một hôm tôi đến NXB thì được anh Thành cho biết tại buổi họp giao ban sáng nay,
anh Phùng Thiên Tân có kể lại giấc mơ anh gặp đêm trước. Anh đã mơ thấy cuốn
sách của tôi được cấp trên cho xuất bản. Nghe lại câu chuyện, tôi cảm động đến
ứa nước mắt. Sao lại có một ông phụ trách xuất bản tâm huyết nhiệt tình với tác
phẩm của cộng tác viên đến thế.
Từ đó, tôi càng hy vọng hơn. Nhưng cho đến nay thì sự hy
vọng cuả tôi có phần nào hơi bị lung lay. Vì đến nay số phận bản thảo cuốn sách
cuả tôi vẫn chưa được định đoạt, mặc dù đã nửa năm trôi qua, đã quá thời hạn do
Luật xuất bản quy định.
Điều tôi muốn nói ở đây là cho đến giờ, tôi vẫn không hề
nhận được một văn bản trả lời của các NXB (Ngoại trừ NXB CAND) về lý do tại sao
không cho in sách cuả tôi. Tất cả chỉ là trả lời bằng miệng, trong khi chúng ta
đang hô hào cải cách hành chính, hô hào “sống và làm theo pháp luật”.
Chẳng lẽ với những cơ quan xuất bản từng in ra các sản phẩm
văn hoá, luật pháp mà lại hành xử như thế ?
Vì những lẽ đó, tôi xin gửi bức xúc này đến các quý vị, hy
vọng sẽ được đồng cảm, chia sẻ. Xin cảm ơn các quý vị đã đọc hết bức thư này
của tôi.
TP. Hồ Chí Minh, 20.1.2008
NGUYỄN KHOA ĐĂNG
Ý kiến của bạn bè
sau khi đọc bản thảo “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng :
NGUYẼN MINH PHÚC (nhà báo) :
Tôi đọc rất nhiều lần tiểu thuyết
Nước mắt một thời. Xúc động bởi cuốn
sách viết rất thật, rất người.Hai chi tiết trong sách cứ ám ảnh tôi mãi. Đó là
việc anh đau đớn khi đánh con bò vì uất ức và chuyện anh không hái chè vì sợ
cây chè đau như mất một cánh tay. Hình như anh đã khuấy động được tâm hồn vốn
từ lâu đã chai sạn của tôi. Con người đã yêu thương cỏ cây súc vật đến nhường
ấy dứt khoát phải là một con người lương thiện. Biết nói gì và làm gì được cho
anh khi cuốn sách không được xuất bản . Nhưng nếu anh đã từng hy vọng trong
những lúc cùng khốn nhất của một thời nước mắt thì hãy cứ hy vọng điều tốt đẹp
sẽ xảy ra. Tôi chắc là như vậy và xin được đồng cảm cùng anh .
TRAN :
Đọc NƯỚC MẮT MỘT THỜI, tôi thấy
thương cho anh, cho gia đình và cho cả dân tộc. Đọc những gì anh viết tôi thấy
anh là một người nhân hậu ,nhiều đoạn tôi rất thích.Nhưng tôi cảm động là đoạn
cả gia đình anh ngày ước, đêm mơ,....Sáng mai thức giấc bỗng thấy mình trở
thành người nghèo, nghèo rớt mồng tơi. Tôi nghĩ đấy là một kiệt tác văn học nên
đưa vào sách giáo khoa dể hậu thế được biết đến bối cảnh đau thương của dân
tộc. Vì sao đến bây giờ cuốn sách vẫn chưa được xuất bản? Như thế đâu phải là
NƯỚC MĂT MỘT THỜI mà nước mắt vẫn còn mãi mãi phải không anh...?
Tôi rất mong được đọc một cuốn sách như thế, một cuốn sách chân thật phản ánh đúng hiện thực, không tô vẽ, không thóa mạ và thấm đậm tình người Việt Nam (mà bao năm qua không có ). Sao anh không gửi ra nước ngoài để in ?
Trả lờiXóaBác Đăng ơi! Hiện tại nước mắt người dân còn chan chứa khắp nơi vì những sai lầm của lãnh đạo, của thể chế, của cường quyền, của những oan ức vì bị cướp đất, bị chèn ép, bóp nặn, đánh đập tới chết mà chẳng biết vì tội gì. Nước mắt vẫn đang chẩy vì những phiên tòa oan sai, xử không đúng luật, bức cung, dàn dựng, và bóp méo sự thật.....Nước mắt không phải chỉ có một thời mà nó còn chẩy mãi, nếu chính thể này không thay đổi. Vì vậy họ không dám cho bác in và xuất bản là phải thôi. Họ không nhìn thấy những sai trái, kiếm khuyết và không muốn nhắc đến nó, thỉ nước mắt có bao giờ ngưng?
Trả lờiXóa