Trang

▼

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 67 - ĐẤU TỐ TRỞ LẠI - KỲ 10




  Lại cấm viết  cải cách ruộng đất.
                                                                                  
Hai mươi năm sau ngày ông Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh ký lệnh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ xem ra 700 ông bà hội viên Hội nhà văn Việt Nam không cảm thấy dễ thở hơn bao nhiêu, nhất trong việc xin “giấy khai sinh” cho đứa con tinh thần của mình. Trong khi những tác phẩm “tào lao” : chuyện yêu đương nhí nhố, chuyện phòng the,  chuyện nịnh Đảng .. dễ dàng ra mắt độc giả để tạo nên cả một nền “giả văn chương”  thì những tác phẩm có đôi chút hiện thực, gói ghém được phần nào sự thực của đời sống thì hoặc bị cấm ngay từ trước khi in, hoặc in rồi bị xay ra thành bột giấy, hoặc phát hành rồi ra lệnh thu hồi hoặc cấm tuyên truyền. “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, “Cọng rêu dưới đáy áo” của Võ Văn Trực, “Hậu Chí Phèo” của Phạm Thành, thơ Trần Dần ….và sau đó là  tiểu thuyết “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng viết về đề tài cải cách ruộng đất .

            Nước mắt một thời bao giờ lau khô ?


NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM KHÔNG NÊN “ĐÁNH BÀI LỜ” TRƯỚC YÊU CẦU CHÍNH ĐÁNG CHO MỘT TÁC PHẨM RA ĐỜI !

Tôi là Nguyễn Khoa Đăng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nghỉ hưu tại 19/39 đường Thống Nhất Phường 16, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh, xin kêu cứu để được đáp ứng một yêu cầu trong việc xuất bản sách. 
Vừa qua, tôi có viết được một cuốn tiểu thuyết- tự truyện, nhan đề là “Nước mắt một thời”, kể về sự phấn đấu đến kiệt lực để hoàn thiện nhân cách cuả một thanh niên mà ngay từ 15 tuổi đã bị gạt ra ngoài lề cuộc sống chính trị như không được tham dự các buổi mít tinh, không được vào đoàn thanh niên, không được vào đại học. Tất cả đều chỉ vì  cái thành phần gia đình anh ta bị quy buộc, thứ “địa chủ” mà số ruộng đất hạn hẹp không quá 3 héc ta, được gây dựng bằng mồ hôi cuả bà mẹ, thời nhỏ từng đi ở đợ, lớn lên quanh năm đầu tắt mặt tối bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, còn ông bố thì hết làm phu đồn điền cao su, lại gần như cả đời còng lưng bên chiếc máy khâu cọc cạch, trong khi ông nội thì được nông dân một làng ven biển nhớ ơn tôn làm thành hoàng và lập đền thờ.
  Điều đáng nói là mặc dù bị đối xử nghiệt ngã như thế nhưng nhân vật này  vẫn một lòng phấn  đấu để trở thành một nhà văn.  Có nhiều nguyên nhân để người thanh niên này hoàn thiện nhân cách cuả mình, trong đó không thể không kể đến nguyên nhân khởi đầu từ một bức ảnh chụp cảnh “Bác Hồ” đặt tay lên vai hai em thiếu nhi với dòng chữ chú thích phơi phới một niềm tin “Có Bác dẫn đường, chúng cháu tin tưởng ở tương lai tươi sáng” mà anh ta được nhìn thấy trong thời khắc đen tối nhất cuả đời mình.
  Ngay sau khi tập bản thảo hoàn thành, nghĩ cuốn sách cuả mình không vi phạm luật xuất bản, tôi mạnh dạn gửi bản thảo đến lần lượt từng nhà xuất bản.
Đầu tiên, là nhà Xuất bản Hội Nhà văn, cơ quan cuả Hội mà tôi là Hội viên. Người trực tiếp nhận bản thảo và biên tập là nhà thơ Ý Nhi, trưởng cơ quan đại diện cuả NXB tại TP Hồ Chí Minh. Sau một thời gian chờ đợi, tôi đã được nhà thơ cho biết cuốn sách cuả tôi không được nhà văn Nguyễn Phan Hách, giám đốc NXB chấp nhận. (Xin lưu ý, tất cả chỉ là nói miệng, không hề có văn bản trả lời).
Tiếp đến, là NXB Văn học. Nhà văn Triệu Xuân nhận bản thảo và biên tập. Sau khi đọc xong, anh tỏ ra rất nhiệt tình với tác phẩm cuả tôi, động viên tôi bằng một câu mà nếu nói ra chắc tôi sẽ bị cho là tự đánh bóng mình nên tôi không muốn nhắc lại.  Song, ít lâu sau thì lại chính anh Triệu Xuân trả lời: Ông Nguyễn Văn Lưu, giám đốc NXB không chấp nhận (vẫn chỉ là nói miệng)
Không nản chí, tôi gửi đến NXB Trẻ. Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu nhận bản thảo nhưng sau đo lại cho rơi vào quên lãng, không trả lời.
Vẫn kiên trì, tôi gửi đến NXB Văn hoá Sài Gòn. Nhà văn Trúc Phương, Tổng Biên tập, trực tiếp đọc cuốn sách. Nhà văn đã nhận xét rất tốt về tập bản thảo của tôi, hồ hởi bảo tôi nên kiếm một đạo diễn giỏi, người Bắc, để chuyển thành phim, một bộ phim mà ông tin rằng sẽ có tiếng vang. Ông còn nói một câu, nếu tôi nghe không lầm thì là: “Những người cách mạng chân chính nên đọc cuốn sách này”. Vậy mà, sau đó bản thảo lại bị Ban giám đốc từ chối (vẫn không có văn bản).
Tôi vẫn không nản chí, lại gửi bản thảo đến  Công ty Cadasa, nơi thường liên kết với các nhà xuất bản in sách. Sau khi xin giấy phép ở một số NXB nữa, không được, họ đã đưa bản thảo của tôi đến NXB Công An Nhân dân, cơ quan đại diện phía Nam. Nhà thơ Phan Trung Thành là người trực tiếp biên tập cuốn sách này. Lần này rất may là bản thảo đã được chấp nhận và được Cục Xuất bản cấp giấy phép. Cuốn sách sẽ được in theo phương thức liên kết giữa tác giả và Nhà Xuất bản. Hôm sau, nhà văn Phùng Thiên Tân, Tổng biên tập cho gọi tôi đến báo tin NXB sẽ đứng ra in cuốn sách này, không cần phải liên kết. Tôi rất vui chờ ngày cuốn sách được ra đời sau bao ngày tháng lăn lộn hết NXB này đến NXB khác. Sau đó, không hiểu vì lý do gì, anh Thành lại bảo tôi photo bản thảo đã được Nhà văn Phùng Thiên Tân trực tiếp biên tập lần cuối, thành 3 tập, để NXB gửi ra Hà Nội xin thêm ý kiến các anh Đào Duy Quát, phó Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương, Đỗ Kim Cuông, Vụ trưởng Vụ văn nghệ…Tôi đoán bản thảo cuả tôi lại gặp phải trục trặc gì đó. Tôi còn được biết, cùng với bản thảo, anh Phùng Thiên Tân còn gửi kèm theo hai lá thư (đề ngày 18.10.2007) cho anh Quát và anh Cuông với lời lẽ rất tha thiết. Mạn phép anh Tân, tôi xin được trích một đoạn trong bức thư của anh: “Tôi và anh Đăng quen biết nhau đã lâu, đọc cuả anh ấy vài cái rồi, nhưng đến cái này tôi rất tâm đắc, thấy bạn mình viết hay hơn, tâm huyết hơn, nhưng vì câu chuyện có liên quan đến cải cách ruộng đất, một đề tài rất nhạy cảm.
Tôi đã trực tiếp biên tập từng câu chữ, tất thảy 3 lần rồi, chúng tôi xác định, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng có cái nhìn khách quan và nhân bản về thời khắc lịch sử đau lòng ấy, không hề có những câu chữ hằn học, bôi bác như một vài nhà văn khác đã viết về đề tài này.”
Dù biết bản thảo của tôi đến đây không xuôi chèo mát mái rồi nhưng tôi vẫn không hết hy vọng, vẫn ước mong nó được xuất bản. Tôi cứ nghĩ mong ước này là chỉ cuả riêng tôi. Nào ngờ, các anh ở NXB cũng có tâm trạng ấy. Một hôm tôi đến NXB thì được anh Thành cho biết tại buổi họp giao ban sáng nay, anh Phùng Thiên Tân có kể lại giấc mơ anh gặp đêm trước. Anh đã mơ thấy cuốn sách của tôi được cấp trên cho xuất bản. Nghe lại câu chuyện, tôi cảm động đến ứa nước mắt. Sao lại có một ông phụ trách xuất bản tâm huyết nhiệt tình với tác phẩm của cộng tác viên đến thế.
Từ đó, tôi càng hy vọng hơn. Nhưng cho đến nay thì sự hy vọng cuả tôi có phần nào hơi bị lung lay. Vì đến nay số phận bản thảo cuốn sách cuả tôi vẫn chưa được định đoạt, mặc dù đã nửa năm trôi qua, đã quá thời hạn do Luật xuất bản quy định.
Điều tôi muốn nói ở đây là cho đến giờ, tôi vẫn không hề nhận được một văn bản trả lời của các NXB (Ngoại trừ NXB CAND) về lý do tại sao không cho in sách cuả tôi. Tất cả chỉ là trả lời bằng miệng, trong khi chúng ta đang hô hào cải cách hành chính, hô hào “sống và làm theo pháp luật”.
Chẳng lẽ với những cơ quan xuất bản từng in ra các sản phẩm văn hoá, luật pháp mà lại hành xử như thế ?
Vì những lẽ đó, tôi xin gửi bức xúc này đến các quý vị, hy vọng sẽ được đồng cảm, chia sẻ. Xin cảm ơn các quý vị đã đọc hết bức thư này của tôi.                                                          

                                                                    TP. Hồ Chí Minh, 20.1.2008

                                                                        NGUYỄN KHOA ĐĂNG

Ý kiến của bạn bè sau khi đọc bản thảo “ Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng :

NGUYẼN MINH PHÚC (nhà báo) :
Tôi đọc rất nhiều lần tiểu thuyết Nước mắt một thời. Xúc động bởi cuốn sách viết rất thật, rất người.Hai chi tiết trong sách cứ ám ảnh tôi mãi. Đó là việc anh đau đớn khi đánh con bò vì uất ức và chuyện anh không hái chè vì sợ cây chè đau như mất một cánh tay. Hình như anh đã khuấy động được tâm hồn vốn từ lâu đã chai sạn của tôi. Con người đã yêu thương cỏ cây súc vật đến nhường ấy dứt khoát phải là một con người lương thiện. Biết nói gì và làm gì được cho anh khi cuốn sách không được xuất bản . Nhưng nếu anh đã từng hy vọng trong những lúc cùng khốn nhất của một thời nước mắt thì hãy cứ hy vọng điều tốt đẹp sẽ xảy ra. Tôi chắc là như vậy và xin được đồng cảm cùng anh .
TRAN :
Đọc NƯỚC MẮT MỘT THỜI, tôi thấy thương cho anh, cho gia đình và cho cả dân tộc. Đọc những gì anh viết tôi thấy anh là một người nhân hậu ,nhiều đoạn tôi rất thích.Nhưng tôi cảm động là đoạn cả gia đình anh ngày ước, đêm mơ,....Sáng mai thức giấc bỗng thấy mình trở thành người nghèo, nghèo rớt mồng tơi. Tôi nghĩ đấy là một kiệt tác văn học nên đưa vào sách giáo khoa dể hậu thế được biết đến bối cảnh đau thương của dân tộc. Vì sao đến bây giờ cuốn sách vẫn chưa được xuất bản? Như thế đâu phải là NƯỚC MĂT MỘT THỜI mà nước mắt vẫn còn mãi mãi phải không anh...?

   

2 nhận xét:

  1. Tôi rất mong được đọc một cuốn sách như thế, một cuốn sách chân thật phản ánh đúng hiện thực, không tô vẽ, không thóa mạ và thấm đậm tình người Việt Nam (mà bao năm qua không có ). Sao anh không gửi ra nước ngoài để in ?

    Trả lờiXóa
  2. Bác Đăng ơi! Hiện tại nước mắt người dân còn chan chứa khắp nơi vì những sai lầm của lãnh đạo, của thể chế, của cường quyền, của những oan ức vì bị cướp đất, bị chèn ép, bóp nặn, đánh đập tới chết mà chẳng biết vì tội gì. Nước mắt vẫn đang chẩy vì những phiên tòa oan sai, xử không đúng luật, bức cung, dàn dựng, và bóp méo sự thật.....Nước mắt không phải chỉ có một thời mà nó còn chẩy mãi, nếu chính thể này không thay đổi. Vì vậy họ không dám cho bác in và xuất bản là phải thôi. Họ không nhìn thấy những sai trái, kiếm khuyết và không muốn nhắc đến nó, thỉ nước mắt có bao giờ ngưng?

    Trả lờiXóa