Nhà văn
Nhật Tuấn : Trung Quốc đã có ý độc chiếm biển Đông từ
trước khi cưỡng chiếm Hoàng Sa. Rồi sau đó từ 1987 đến 1988 liên tục lấn chiếm
đảo của Việt Nam : đảo Louisa và một số
bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, đánh chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin
và Len Đao. Hiện ráo riết xây đắp Gạc Ma thành đảo nhân tạo khổng lồ có sân
bay, cảng biển . Sau khi hoàn thành, Gạc Ma sẽ là nơi Bắc Kinh giương oai diễu
võ uy hiếp, khống chế các nước ven bờ
Biển Đông. Việc đặt giàn khoan HD 981
trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam,
chỉ là sự tiếp nối hàng chuỗi hành
động diễn ra từ cuối năm 1987 nhằm chiếm luôn cả Trường Sa. Đó là ý chí
quyết không thay đổi của Trung Quốc. Xin hỏi nhà văn Hoàng Quốc Hải, nếu chỉ
dùng các biện pháp hòa bình như chủ trương của đảng, chắc chắn Trung Quốc nuốt
gọn Trường Sa. Tới lúc đó liệu đảng có
dám dùng tới vũ khí không ?”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải :
Thưa nhà văn Nhật Tuấn, việc anh hệ thống các chuỗi hành động mang tính xâm
lược của nhà cầm quyền Trung Quốc đủ tỏ rõ cái dã tâm thuộc về bản chất của họ
được ấp ủ từ lâu. Và họ đang thực hiện từng bước, mỗi khi thời cơ đến. Cái học
thuyết “ Tọa sơn quan hổ đấu”, thực ra đó là thủ thuật lưu manh của kẻ luôn chờ
thời trục lợi.
Đơn cử như vụ tháng 1 năm 1974 là lúc ý chí của người Mỹ ở Việt
Nam
đã rã rời. Và hai miền Nam
– Bắc đang lo thủ thế để diệt nhau. Chính lúc đó, quân Trung Quốc chớp thời cơ
cướp đảo. Sau này đọc lại các hồi ký của sỹ quan và binh lính trong quân lực
Việt Nam Cộng hòa, cho ta thấy ý chí bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc đối với họ
thật sục sôi. Họ hạ quyết tâm chiếm lại đảo. Bởi so sánh về khí tài quân sự, Việt
Nam Cộng hòa vượt hơn nhiều đối với Trung Quốc lúc đó. Đặc biệt là với không
quân. Quân chủng không quân đã lập nhiều phi đội, quyết tâm tiêu diệt toàn bộ
quân xâm lược Trung Quốc cùng tất cả khí tài của chúng, để hải quân đổ bộ lên
tái chiếm Hoàng Sa. Bởi thời điểm đó Trung Quốc chỉ sở hữu các loại máy bay Mig
15, Mig 17 của Liên Xô, loại đó không thể bay ra chiến đấu tại Hoàng Sa và còn
đủ xăng dầu bay về đất liền. Thế nhưng cuối cùng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
không phê duyệt kế hoạch tác chiến, nghe đâu có sự can thiệp của tòa sứ Mỹ tại
Sài Gòn.
Thế mới biết
lòng yêu nước và quả cảm của người lính là không giới hạn, nhưng nó bị cản trở
bởi những đầu óc ngu tối đang nắm giữ quyền lực nhưng lại phụ thuộc ngoại bang.
Thưa anh Nhật
Tuấn, tôi đã nghiên cứu khá kỹ về lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là giới cầm quyền
Đại Hán, họ có đầu óc hết sức bệnh hoạn, rằng bằng mọi cách phải cưỡi lên đầu
thiên hạ thay vì làm bạn với thiên hạ. Cái học thuyết “Tứ hải giai huynh đệ” của ông Khổng Tử, chỉ là lời nói suông giả dối.
Cũng chính ông ta đưa ra thuyết “Tứ di”.
Nghĩa là các nước bao quanh Trung Quốc gồm bốn phương: Đông, Tây ,
Nam , Bắc thì họ gọi là: Đông
di, Tây nhung, Bắc địch, Nam
man. Tức là các dân tộc khắp bốn phương chỉ là sâu bọ, chó má thôi. Bởi chữ “
địch” có bộ “khuyển”, chữ “man” có bộ “trùng”. Còn Trung Quốc của Khổng Tử là “
Hoa Hạ”, tức là đẹp đẽ văn minh, nên có sứ mệnh giáo hóa “ Tứ di”.
Cái thứ văn hóa
tự đề cao mình và coi khinh thiên hạ, tự nó đã không có nhân tố văn hóa rồi.
Cho nên cái văn minh của nó là văn minh ăn cướp. Bởi thế, việc xâm lấn hoặc ăn
cướp đất đai trở thành bản chất kẻ cướp. Khi họ yếu thì họ lấn, một xăng ti mét
họ cũng lấn. Khi họ mạnh thì họ cướp. Cướp theo kiểu xung đột biên giới chứ
không dùng chiến tranh tổng lực. Đem quân ra khỏi biên giới làm chiến tranh
tổng lực, chưa bao giờ Trung Quốc thắng. Cứ chiêm nghiệm mà xem. Ngoài biển
cũng thế thôi, họ cứ nhập nhèm biến vùng không có tranh chấp thành yếu tố tranh
chấp, rồi mới chịu thương lượng, và đòi chia cái không phải của họ và chưa bao
giờ thuộc về họ. Đó là quốc sách truyền đời của Hán tộc. Xa xưa người Hán chỉ
lưu trú quanh quẩn trong lưu vực sông Hoàng Hà, nghĩa là họ cũng nhỏ bé như các
tộc người khác. Nhưng họ được sở hữu một đồng bằng phì nhiêu, nên kinh tế, văn
hóa sớm phát triển. Và chỉ bằng việc lấn và cướp đất, đã nuốt chửng hàng trăm quốc gia và bộ tộc
khác xung quanh nó. Và họ Hán hóa bằng chính văn hóa của Hán tộc. Vì vậy ngày
nay, Trung Quốc chỉ đồng tự chứ không đồng ngôn. Nghĩa là chỉ thống nhất được về chữ viết chứ chưa thống
nhất được về tiếng nói.
Năm 1950, họ
nuốt chửng cả một nước Tây Tạng, rồi năm 1962 họ gây hấn với Ấn Độ, cướp một
dải đất biên giới tới 50 000km2. Cho tới nay họ còn đòi cả bang Amurachal
Pradesh của Ấn Độ nữa kia. Thế thì việc họ vẽ cái bản đồ hình lưỡi bò trùm lên
hết tất cả các phần thềm lục địa của các nước khác, vi phạm trắng trợn Công ước
quốc tế về Luật biển UNCLOS mà họ cũng là một bên ký kết là nằm trong tham vọng
của họ . Họ bất chấp cả công lý và đạo lý và tự thi hành một thứ luật rừng. Và
viên Bộ trưởng Bộ quốc phòng đưa ra một thứ chứng cớ bất minh tuồng như dân lục
lâm Thủy Hử,rằng vùng biển này đã thuộc
về Trung Hoa từ 2200 năm trước, nay mới thực thi chủ quyền.
Số phận dân tộc
ta phải sống bên cạnh một hàng xóm gian manh đáng kinh tởm như vậy. Chỉ hớ hênh
một chút, không chỉ mất mạng mà còn mất nước không chừng.
Thưa anh Nhật Tuấn, phần kết thúc câu hỏi một, anh có ý nhấn
mạnh: “ Xin hỏi nhà văn Hoàng Quốc Hải, nếu chỉ dùng các biện pháp hòa bình như
trước của Đảng, chắc chắn Trung Quốc nuốt trọn Trường Sa. Tới lúc đó liệu Đảng
có dám dùng tới vũ khí không?” .
Trước hết anh
hãy nhìn ra biển Đông, xem hàng ngày các lực lượng chấp pháp của chúng ta đang
xua đuổi bọn cướp biển. Thì trước đây nó xâm phạm vùng biển chủ quyền của mình,
bắt ngư dân, cướp ngư cụ, tịch thu tàu thuyền, đòi tiền chuộc y hệt bọn cứop
biển Xô-ma-li mà ta chỉ dám kêu “tầu lạ”. Ngay việc nó cắt cáp tầu Bình Minh và
“ Vi king” đang làm nhiệm vụ thăm dò dầu khí trong vùng biển của mình, cũng chỉ
dám kêu là “ tầu lạ xâm phạm”. Như thế là ta đã dám chơm chớm tháo cái vòng kim
cô “ Bốn tốt” và “ Mừoi sáu chữ” gông xiềng rồi đấy chứ.
Ngoài việc lực
lượng chấp pháp ngày đêm xua đuổi lũ cướp biển HD- 981, thì hàng ngày Đài
Truyền hình trung ương và các Đài của trên 60 tình thành ra rả chửi bọn cướp
biển, và tung hình chúng nó hung hăng đâm, húc và bắn súng nước vào tầu của ta,
không chỉ cho dân ta mà cho cả thế giới đều biết. Lại nữa Hội thảo và họp báo
cả trong và ngoài nước, nói về bằng chứng lịch sử chủ quyền của ta trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho tới khi giặc Trung Hoa cưỡng chiếm năm 1974
và 1988.
Thưa anh Nhật Tuấn, trong câu hỏi của anh, tôi cảm nhận như anh
vẫn lo lắng rằng ta sợ Tầu. Không phải đâu, cái gì cũng phải có lộ trình chứ.
Cứ nôn nóng đi trước một bước như mọi năm dân ta đi biểu tình chống Trung Quốc,
khối người bị bắt, bị tù đấy thôi. Còn như trên mặt báo công khai mà nói đến
Hoàng Sa là cấm kỵ.
Tình hình bây giờ khác rồi Nhật Tuấn ạ. Tôi vừa có một bài khá
dài nói về lịch sử thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa của
Việt Nam từ thế kỷ17 tới nay, và lịch sử không Trường Sa, Hoàng Sa của Trung
Hoa và cả lịch sử họ ăn cướp hai quần đảo của ta như thế nào. Bài đăng trang
trọng trên “Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm”
của Hội ta hẳn hoi. Nói dại chứ chỉ cách đây dăm tháng thôi mà viết thế, thì…bố
ai dám in.
Theo tôi, cái gì cũng phải công bằng, tôi thấy mặt trái của sự
xâm lược ( Giàn khoan HD- 981) này, nó giúp ta sáng mắt ra đấy. Để biết ai là
bạn ai là thù. Ta hãy nghe những lời phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà
nước.
Mở đầu cho cuộc phản kích tự vệ theo lập trường của Việt Nam là
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ông phát biểu sau vụ giàn khoan HD 981 của Trung
Quốc xâm lấn vùng biển đặc quyền kinh tế về quyền chủ quyền, quyền tài phán của
Việt Nam: “ Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền
biển đảo là thiêng liêng, nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển
vông, lệ thuộc nào đó” ( 22-5-2014).
Sau cuộc tiếp xúc với
Ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng
phát biểu: “ Việt Nam cân nhắc hòa bình hữu nghị với
Trung Quốc, nhưng phải giữ được chủ quyền”.
Buổi họp Quốc hội chiều
2-6-2014, đại biểu tỉnh Thanh Hóa bức xúc nói:, Không bán mình cho quỉ dữ và không đẩy nhân dân của chúng ta vào chốn
hòn tên mũi đạn chiến tranh” “ Dứt khoát bảo vệ toàn vẹn giang sơn đất nước mà cha ông để lại. Dứt khoát không
chịu hèn, chịu nhục.”
Ngày 21 tháng 6 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khi trả lời TTX
Việt Nam ,
ông có trích nguyên văn lời vua Lê Thánh tông răn dạy các triều quan đi đàm
phán với phía Trung Hoa về biên giới lãnh thổ .
Tiếp đó ông nói: “Trung
Quốc đã đơn phưong vi phạm thỏa thuận cấp cao hai nước về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề trên biển, vi phạm
luật pháp quốc tế”.
Như vậy lập trường của Nhà nước và của Đảng cộng sản Việt Nam
đối với hành vi xâm phạm ( đúng ra là xâm lược) của phía Trung Quốc về quyền
chủ quyền, quyền tài phán vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của ta là rõ ràng
và dứt khoát.
Những phát biểu đó là đại diện cho ý nguyện của toàn dân đối
với đất đai, sông núi, biển trời của Tổ Quốc. Nó được đổi bằng xương máu của
không biết bao nhiêu thế hệ người Việt. Tới lúc này mà kẻ nào còn mơ hồ nhận họ
là “ bạn” là “ chiến hữu” nữa, chắc sẽ tự xếp mình vào hàng ngũ Trần Ích Tắc,
Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan…
Mà này Nhật Tuấn, cái chỗ anh hỏi: “ Tới lúc đó Đảng có dám dùng tới vũ khí không?”. Tôi thấy câu hỏi ấy hình như chưa ổn. Chỗ này tôi sẽ bàn
với anh sau. Nhưng cái việc dùng tới cơ bắp, bao giờ cũng là hạ sách. Thì Tầu
chẳng đang dùng cơ bắp và cũng đang làm trò cười cho thế giới đó sao. Chỗ này
thì mưu Tầu quá thấp. Hay nói cách khác, cu cậu nóng ăn quá, trỗi dậy non quá.
Thành thử nó là một cú tự lật mặt rất ngoạn mục. Bởi họ cam kết “ trỗi dậy
trong hòa bình” và “ không bá quyền”.
Trở lại câu hỏi: “ Tới
lúc đó Đảng có dám dùng tới vũ khí không?”. Đây là việc mất còn của cả một
dân tộc. Việc ấy thuộc về toàn dân. Dân quyết thì không một kẻ thù nào dù mạnh
như quân Mông Cổ thế kỷ 13, cũng chỉ một “ Diên Hồng” là xong. Giặc Minh thế kỷ
15, cũng chỉ một ngọn cờ nghĩa của Lê Lợi cũng xong. Nhưng trước đó Hồ Quý Ly
hết thành này đến lũy nọ, nhưng số phận của cha con ông ta cũng kết thúc chóng
vánh. Tất cả đều bị giặc Minh bắt, giết, hoặc cầm tù. Chỉ vì ông ta khinh dân,
không cho người dân có một vai trò gì hết, ngoài việc làm bia đỡ đạn. Đã thế thì
nước ấy là của cha con Hồ Quý Ly chứ không phải của nhân dân Đại Việt nữa.
Nhân dân Đại Việt lúc đó không hợp tác với kẻ đã đàn áp họ,
khinh thị họ. Nhưng sau đó họ quay về hợp tác với Lê Lợi, dù phải nằm gai, nếm
mật gian khó tới mười năm mới đuổi xong giặc.
Nói cho cùng thì việc giữ nước, thời nào cũng vậy đều thuộc về
dân, đều là máu xương của dân cả. Dù Ngô Quyền hay Lê Hoàn, dù Trần Nhân tông
hay Lê Lợi, dù Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,Quang Trung hay Võ Nguyên Giáp…nếu dân không theo, cũng
chẳng làm nên trò trống gì.
Xứ sở chúng ta thời nào cũng có giặc. Vì vậy, từng tấc đất,
từng ngọn cỏ, gốc cây đều thấm máu cha ông ta. Chính những người dân ấy làm nên
nước non này, phải kính trọng họ.
Từ mấy ngàn năm nay, với dân tộc ta, tội ác thường do giặc phương Bắc gây ra, không giấy
bút nào mà chép ghi cho xuể. Đúng như nhà thơ Lưu Trùng Dương đã viết:
Từng chiếc lá giặc ghi từng tội ác
Mỗi
gốc cây ta khắc một căm hờn.
Thưa nhà văn Nhật Tuấn, với Hồ Quý Ly, đó là bài học lịch sử
đau đớn nhất mà dân tộc ta phải trả giá. Cứ yên tâm đi Nhật Tuấn, nhân dân ta
bây giờ thông minh và sáng suốt lắm, tới mức hai chữ đó phải viết hoa: NHÂN DÂN.
Dân tộc ta đã trải non nửa thế kỷ chiến tranh, nên chúng ta yêu
quí hòa bình hơn cả châu ngọc. Chẳng hay ho gì việc nổ súng đánh nhau. Nhưng
nếu cực chẳng đã, không còn chỗ để lùi mà nhân nhượng nữa, kẻ thù buộc ta phải
cầm súng. Tới lúc đó NHÂN DÂN sẽ ra lệnh !
Nhà văn Nhật Tuấn : Các nhà lãnh đạo VN khi trả lời TQ thường viện ra những “thỏa thuận cấp cao” , “đại cục”. Nó là cái gì vậy ? Những thoả thuận cấp cao đó nếu liên quan
tới lãnh thổ đã được quốc hội thông qua chưa ? Và vì sao không công bố cho toàn
dân…”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
: Cái “đại cục” chưa từng được công
bố như nhà văn Nhật Tuấn hỏi đó, tôi chắc là đã có thỏa thuận ở cấp cao. Làm
sao mà tôi biết được nội dung của nó. Bởi nó ở cái tầng nấc cao tít, có ngửa
đến gẫy cổ cũng chẳng nhìn thấy.
Còn “vì sao không công bố”
cũng là một câu hỏi đi vào ngõ cụt. Làm sao mà tôi trả lời anh được. Hoặc đó là
bí mật của các nhà lãnh đạo hai nước mà họ cam kết không nói ra. Hoặc nó thuộc
phạm trù tế nhị khó nói lắm. Có trời mà biết được. Tốt nhất anh đi hỏi các đời
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ ông gọi là “đổi mới”, gọi là “cởi trói” - Ông
Nguyễn Văn Linh ấy. Kế đó là các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh.
Đương kim là ngài Nguyễn Phú Trọng.
Ông Linh chết rồi đã có các ông khác kế tiếp. Họ đã từng nắm
vận mệnh quốc gia, qua những bước thăng trầm lịch sử. Đại cục là ở đấy, cứ hỏi
họ là biết tuốt.
Nhà văn Nhật Tuấn : Có ý kiến cho
rằng “Giữ quan hệ với Trung Quốc là giữ được chế độ. Mỹ vẫn là kẻ thù lâu dài." là chủ trương lớn của đảng . Nhà
văn nghĩ sao ?”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
: Nhà văn Nhật Tuấn chắc không phải đảng viên Cộng sản, nên cứ hỏi kề cà, đôi
khi lạc đề.
Anh
nên nhớ Đảng cộng sản Việt Nam
lãnh đạo toàn diện. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
hiến định rồi.
Đến
lớn như cơ quan quyền lực cao nhất của toàn dân là Quốc hội, còn đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Và nhỏ như “nuôi con gì”, “trồng cây gì” của người nông dân
cũng đều dưới sự lãnh đạo của Đảng cả. Mới vài ngày gần đây thôi, ông Nguyễn
Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam còn ra tận đảo Phú Quý (Bình
Thuận) khuyên ngư dân phải đóng tầu to, ra khơi xa đánh bắt cá mới tăng được
sản lượng khai thác, và bảo vệ biển đảo cho Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng vừa
toàn diện vừa sát sao đến vậy đó. Thế thì cái việc xác định ai là bạn, ai là
thù để có lợi cho Đảng, sao chẳng thuộc về chủ trương đường lối của Đảng. Đó là
nguyên tắc bất di bất dịch, không ai có thể chia sẻ được quyền lãnh đạo ấy. Đây
là chuyện bất khả bàn.
Anh
lại hỏi: “Nhà văn nghĩ sao?” Việc đã rõ rành rành như thế lại còn hỏi “nghĩ
sao”.
Tuy
nhiên, tôi vẫn có thể trả lời anh về suy nghĩ của riêng mình. Rằng tôi chỉ có một niềm suy
nghĩ mà không gì có thể chuyển lay được. Đó là nghĩ về Tổ quốc tôi và Nhân dân
tôi. Bởi tôi thuộc về họ.
Nhà văn
Nhật Tuấn : Qua chuyến sang
Hà Nội của Dương Khiết Trì, các nhà lãnh đạo VN có dịp phát hiểu rất hăng hái
đòi rút giàn khoan 981 ra khỏi vùng lãnh hải VN và biểu lộ quyết tâm giữ nước
đến cùng, báo chí cũng đã được phép nói nhiều về những tham vọng, thủ đoạn thâm
độc của Trung Quốc. Vậy sao biểu tình chống Trung Quốc vẫn bị cấm triệt để ? Có
phải để làm vừa lòng Trung Quốc không ?”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
: Thưa nhà văn Nhật Tuấn, về cái chuyện biểu tình, anh nên nhớ, nước mình
thường có chuyện trái khoáy. Hiến pháp từ năm 1946, 1959, 1980, 1992...đều ghi
công dân có quyền biểu tình, có quyền lập hội và nhiều quyền khác nữa. Nhưng
Quốc hội bận trăm công nghìn việc nên chưa kịp làm luật. Mà chưa có luật anh đã
làm, lại làm không đúng lúc chính quyền cần thì anh bị cấm, thậm chí bị bắt, bị
cầm tù vì biểu tình trái phép. Trái phép tức là trái pháp luật. Mà luật thì
chưa có, mới thực sự khó cho người dân muốn biểu lộ sự yêu mến hoặc bức xúc của
mình.
Sau
vụ “giàn khoan HD 981” tôi cũng đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Chúng
tôi đi đông lắm. Đến tận vườn hoa Canh Nông, ngay trước Đại sứ quán Trung Quốc,
hô khẩu hiệu đả đảo và đòi rút ngay lập tức gian khoan ra khỏi vùng biển quyền
chủ quyền của Việt Nam. Xong lại giễu về tận vườn hoa Lý Thái Tổ, rồi tản về
các phố. Chúng tôi đi, công an còn phải chạy theo giữ trật tự, không cho ô tô
và xe máy cản đường của người biểu tình.
Thế
vì sao sau đó lại cấm biểu tình? Là bởi có các vụ biểu tình đập phá, tức là phá
hoại ghê gớm ở Bình Dương, ở Hà Tĩnh khiến Chính phủ phải è cổ đền bù các nhà
đầu tư, nghe nói tới cả hàng trăm triệu Đô đấy. Cũng lại nghe nói vụ ấy là bọn
gián điệp Tầu cài cắm cùng bọn thân Tầu gây ra. Cho nên cái sự biểu tình ở ta
nó phức tạp lắm anh Nhật Tuấn ạ. Đành phải chờ khi nào Quốc hội vãn việc đã,
mới có thì giờ soạn luật. Lúc ấy, dân ta sẽ biểu tình đúng luật như dân Thái Lan.
Dân Thái biểu tình tới gần năm trời, chính phủ vẫn cứ phải tôn trọng, cho đến
khi cả nội các đổ kềnh.
Nhà văn
Nhật Tuấn : Vừa rồi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời
Thông tấn xã , có nói : “ Tôi xin nhắc lại lời của vua Lê Thánh Tông từng nói
với triều thần đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Một thước núi,
một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện,
chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình
bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám
đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru
di!”. Vậy thì để mất Hoàng Sa, Gạc Ma, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, mấy trăm
kilômét biên giới phía Bắc…những ai sẽ
phải tru di đây ?”
Nhà văn Hoàng Quốc Hải
: Trong tình hình an ninh đất nước đang bị đe
dọa, biển đảo đang đứng trước nguy cơ bị lấn cướp, Chủ tịch nước Trương Tấn
Sang mượn lời nhà vua Lê Thánh Tông nói với toàn dân , như thế là thượng sách,
vì nó rất hợp với lòng dân.
Anh
lại hỏi việc để mất Hoàng Sa năm 1974, mất một số đảo thuộc Trường Sa năm 1988,
đều do giặc Trung Hoa dùng lực lượng áp đảo cưỡng chiếm. Đó là hành vi xâm
lược. Đất đai đi ăn cướp không thể tuyên bố chủ quyền. Không có luật pháp nào
thừa nhận nó.
Còn
như thác “Bản Giốc”, ải “Pha Lũy” hoặc “Ải Bắc” mà bên kia gọi là “Mục Nam
Quan” anh bảo mất về tay Trung Quốc.
Phần
biên giới đất liền, đã có lần tôi xem ông Trưởng ban biên giới nói trên Đài
truyền hình Trung ương rằng: “Không có chuyện mất đất về tay Trung Quốc. Chỉ có
sự hai bên điều chỉnh. Chỗ thì Trung quốc lấn sang ta, chỗ thì ta lấn sang
Trung Quốc sau điều chỉnh”.
Thưa
anh Nhật Tuấn, tôi là người viết tiểu thuyết lịch sử, nên rất kỹ tính trong xử
lý tư liệu, cho nên tôi phải đi điền dã đối chiếu thực địa so với tư liệu. Vùng
biên giới Quảng Ninh thì tôi làm báo ở đó tới 5 năm, nên tôi biết khá rõ. Còn
như biên giới ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang thì các năm 1977, 1978 tôi
theo xe Văn hóa của Nhà văn hóa Trung ương đi tuyên truyền trở đi trở lại nhiều
lần. Trước chiến tranh biên giới (tháng 2/1979), tôi viết khá nhiều phóng sự về
biên ải, nên cũng am hiểu về biên thùy phía Bắc.
Sau
khi Hiệp định biên giới được ký giữa hai nước, tôi lại đi điền dã một lần nữa,
thật ra là nhiều lần Nhật Tuấn ạ, để xem cái phần hai bên điều chỉnh ta được
thêm ra ở chỗ nào và hụt đi ở chỗ nào.
Tới
đồn biên phòng nào tôi cũng hỏi cái phần dôi ra hoặc phần mất đi. Ví dụ đến đồn
A, tôi bảo biên giới trước kia ở đoạn mãi tít kia cơ mà. Anh em bảo mới đến
không biết mới cũ thế nào, chỉ biết cái hiện tại. Lúc vắng người lại nói thật,
đúng là ở chỗ như bác nói đấy. Nhưng ở đây ta thiệt một chút thì đồn B bên tỉnh
kia ta lại lợi một ít.
Theo
tôi, đó là phần anh em biên phòng được phổ biến, chứ chỗ tôi quan sát thì không
hẳn vậy. Ví như bãi Tục Lãm, nơi cửa sông Bắc Luân, trước chiến tranh hoàn toàn
thuộc về ta. Nay thì họ chiếm mất một phần. Tôi có bản đồ so sánh. Cái phần ấy
tự thân nó vô nghĩa. Nhưng nó liên quan đến việc phân chia vịnh Bắc Bộ. Chuyện
này dài lắm. Đại loại là vậy. Tôi chắc sau này Quốc hội sẽ phải công khai chỗ
bây giờ đang khó nói với quốc dân đồng bào,bằng một loại bản đồ so sánh .
Anh
hỏi cái phần đất đai Trung Quốc cưỡng chiếm và cả lấn chiếm ấy, ai chịu trách
nhiệm?
Bản
chất chế độ ta là làm chủ tập thể. Quyền làm chủ ấy thuộc về tập thể, tức là
thuộc về toàn dân. Cho nên, từ việc lớn đến việc nhỏ đều do tập thể quyết. Về
phương diện cá nhân không ai phải chịu trách nhiệm cả. Ngay như việc Vinashin
để thất thoát tới 84 ngàn tỷ đồng, các đại biểu Quốc hội thắc mắc về xử lý kỷ
luật thế nào. Ngài Chủ tịch Quốc hội nói một cách nhẹ tênh: “Bộ Chính trị xem
xét rồi, không kỷ luật ai cả”.
Thế
thì cái việc quy trách nhiệm cho ai, ai phải chịu trách nhiệm như nhà văn Nhật
Tuấn hỏi. Theo tôi từ cơ chế làm chủ tập thể mà suy, chắc là Nhân dân phải chịu
trách nhiệm trước lịch sử thôi chứ còn phải bàn cãi gì nữa.
Nhà văn Nhật Tuấn : Anh cho tôi hỏi thêm một câu hỏi phụ để kết
thúc buổi trò chuyện giữa chúng ta cho nó có hậu. Như ông Chủ tịch Quốc hội
nói: “Tình hình an ninh đất nước đang bị
đe dọa”. Theo anh, trong tình thế này chúng ta nên làm gì? Tôi biết anh rất
ngại nói, vì mọi người đều biết rằng, nói cũng chẳng có ai nghe. Nhưng chẳng
nhẽ chúng ta lại tự khóa miệng mình sao?
Nhà văn Hoàng Quốc Hải : Anh như người làm xiếc vậy, vừa tung
vừa hứng. Về cái việc nói và nghe, tôi nhớ vào năm 1995 hoặc 1996 gì đó, lãnh đạo Thành phố Hà Nội có mời
trong diện hẹp, gọi là một số văn nghệ sĩ và nhà khoa học tiêu biểu. Vì trong
giấy mời có đề nghị viết tham luận hoặc chuẩn bị phát biểu ý kiến về vấn đề xây
dựng và phát triển đất nước. Tôi có viết một tham luận ngắn khoảng non ngàn
chữ, trong đó tôi đề cập mấy vấn đề.
- Một là nhà nước nên chú trọng đầu tư vào ngành đóng tầu biển.
- Hai là lập một rồi phát triển ra thành nhiều đoàn tầu vận tải
biển. Việc chuyên chở hàng hóa Bắc - Nam
hoặc Nam
- Bắc chủ yếu bằng đường biển để hỗ trợ cho ngành đường sắt ọp ẹp và quốc lộ 1A
vừa hẹp vừa bị ách tắc trong mùa mưa bão. Hơn nữa, giá thành vận tải biển rẻ
hơn đường bộ và đường sắt rất nhiều.
- Ba là hỗ trợ ngư dân và đào tạo ngư phủ, để lập những đoàn
tầu cá trọng tải lớn, công suất cao để đánh bắt xa bờ, tiến tới mỗi tỉnh có một
đoàn tàu cá mạnh như một hạm đội nhỏ.
Việc đó có lợi, vừa thu hải sản, vừa lúc nào tầu thuyền ta cũng
có mặt để canh giữ mặt biển. Và nó hỗ trợ khá nhiều cho lực lượng hải quân và
cảnh sát biển. Khi có chiến tranh, những đội tầu vận tải đó, và cả tầu cá có
thể cải tạo thành tầu chiến.
Tôi trình bầy tham luận xong, thấy Ban tổ chức có vẻ lạnh nhạt,
duy có nhóm tác giả biên soạn “Từ điển bách khoa” thì bắt tay chia sẻ.
Thật tình những cuộc họp hành như thế, người ta tổ chức cho nó
có đầu việc và để tiêu tiền, chứ không cần ai hiến kế.
Hiện nay về phía Nhà nước, tôi chắc những người có trách nhiệm
với vận mệnh quốc gia đã có đối sách và cũng chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.
Chẳng nhẽ chỉ có vài lời khẳng định chủ quyền mà giữ được toàn vẹn lãnh thổ
sao.
Nước mình có thói quen cứ cháy nhà mới bắt đầu sắm phương tiện
chữa cháy.
Theo tôi, có mấy việc nên làm khẩn cấp.
1 - Cổ vũ lòng yêu nước chân chính tiềm ẩn trong trong mỗi công
dân. Tuyệt đối không khuấy động tinh thần dân tộc chủ nghĩa, không khích động
hận thù dân tộc, nhưng phải coi trọng các giá trị truyền thống.
2 - Huy động trí lực, tài lực, vật lực trong nhân dân. Chúng ta
không thiếu nhân tài, không thiếu của cải.
Nếu dân đủ tin, thì việc
huy động tiền bạc để trang bị khí tài phòng thủ như máy bay, tên lửa, tàu ngầm,
tầu khu trục đủ sức bảo vệ 3200 km bờ biển và trên một triệu km2 mặt biển, mà
ta có quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế là việc
trong tầm tay.
Gần đây ông Phạm Ngọc Lân, chủ của Tập đoàn Đức Khải, quyết tâm
đầu tư một số tiền lớn để mua 100 tầu đánh cá loại công suất lớn, và hai máy
bay trực thăng với một khát vọng là góp phần nhỏ bé giúp ngư dân ra xa bám
biển, giữ chủ quyền.
Tôi nghĩ những người giầu, có lòng ái quốc như ông Lân không
thiếu. Họ chỉ băn khoăn tiền ấy có được tiêu vào việc giữ gìn quốc sỉ và bảo vệ
quốc gia hay không.
3 - Phải kết bạn đồng minh.
Như hiện nay, ta mới chỉ có người quen, tựa như một thứ bạn gặp
nhau trong ngày hội, gặp nhau ngoài phố, ngoài chợ. Sau đó có thể nhớ cũng có
thể quên mặt ngay. Bạn như thế sao có thể vì nhau, có thể giúp nhau khi hoạn
nạn.
Muốn làm bạn thật sự, phải có liên kết đồng minh, phải có cùng
chí hướng, cùng lợi ích. Như thế mới vì nhau mà chia ngọt, sẻ bùi, gắn kết với
nhau khi nguy nan.
Hiện nay, ta chỉ có một người “bạn”, người hàng xóm, giả vờ kết
thân với ta, có vẻ như tâm đồng ý hợp. Nào là:
Sơn thủy tương thông
Tư tưởng tương đồng
Vận mệnh tương liên
Lại còn đúc kết tình thân ấy thành 16 chữ, kêu nó là 16 chữ
vàng để làm tiêu chí cho ta phấn đấu:
Láng giềng hữu nghị
Hợp tác toàn diện
Ổn định lâu dài
Hướng tới tương lai
Quan sát những gì xảy ra từ mấy chục năm nay về cách hành xử
của “bạn”, dân gian cũng có 16 chữ họa lại:
Láng giềng hiểm độc
Cướp đất toàn diện
Lấn biển lâu dài
Thôn tính tương lai
Thế mới biết, dân ta sáng suốt và luôn tỉnh táo, cảnh giác.
Muốn vận nước thoát khỏi bước nguy nan, ta phải nhanh chóng
đoạn tuyệt với loại bạn phản phúc, nhưng chớ biến nó thành thù. Và cũng phải
khẩn trương tìm lấy đồng minh mà kết thân, phải tựa vào nhau mới bảo vệ được
mình.
Trên thế giới hiện nay, khách quan hình thành nhiều đồng minh
chống Trung Quốc. Tức là chống sự hung hăng gây hấn của họ nhằm lăm le ngôi bá.
Tuy vậy, mỗi liên minh đều có tiêu chí của nó. Không đủ tiêu chí người ta không
cho nhập hội.
4 - Muốn làm được các việc trên phải có cải cách sâu rộng về
nền dân chủ. Phải thiết lập một xã hội công dân, trong đó các quyền cơ bản của
con người trong thế giới văn minh ngày nay phải được tôn trọng. Hơn nữa, các
thế hệ công dân Việt Nam từ 1945 tới nay (chưa nói tới cả ngàn năm trước) hy
sinh xương máu là để giành lấy cái quyền cơ bản đó, ấy là ĐỘC LẬP - TỰ DO -
HẠNH PHÚC.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, độc lập mà không có tự do (tức
quyền sống của con người) thà không có độc lập còn hơn.
5 - Phải nhanh chóng hoàn thiện được hồ sơ kiện Trung Quốc về
cơ sở pháp lý của đường lưỡi bò (từ 11 đoạn trở về 9 đoạn, nay là 10 đoạn) theo
Luật biển quốc tế UNCLOS 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên kí kết.
Các học giả thế giới đều đồng tình với ta, vì cả thế giới không
chỉ thấy tính phi lý của đường lưỡi bò, mà còn thấy cả mưu đồ bá quyền độc
chiếm Biển Đông. Không ai xui dại ta cả, ngoài Trung Quốc vừa đe dọa vừa khuyên
ta không nên kiện cáo. Ta phải đứng thẳng lưng và nói lớn, ta là một quốc gia
có chủ quyền. Tại sao Trung Quốc cứ khăng khăng đòi ta đàm phán song phương và
không nên quốc tế hóa. Song phương thì họ bảo “Hoàng Sa” không có gì để bàn. Họ
sợ quốc tế hóa vì quá khứ họ không có bằng chứng lịch sử, mà hiện tại thì họ
phạm luật.
Hãy nghe ông Daniel Schaeffer, thiếu tướng quân đội nước Cộng hoà Pháp trả
lời báo Dân Trí ngày 20.6.2014: “Tôi đã
từng nói với đồng nghiệp của bạn ở Paris rằng:
“Việt Nam
là đất nước Trống đồng” nên tôi nghĩ các bạn hãy “gõ trống” để cả thế giới thấy
được vấn đề. Asean cũng cần phải đoàn kết hơn để dẫn đầu cuộc vận động khắp thế
giới chống lại Trung Quốc”.
Dư luận thế giới ủng hộ ta, công lý thuộc về ta, cả dân tộc
đồng lòng đứng sau Nhà nước. Vậy nhà nước còn do dự gì nữa. Nếu lãnh đạo Nhà
nước còn phân vân nên làm một cuộc thăm dò bằng hình thức cho toàn dân bỏ
phiếu. Nhiều báo mạng đã thăm dò bạn đọc, tại sao không công bố?
Do dự để mất thời cơ làm thiệt hại đến đất đai, sông biển, sẽ
phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử, như lời Lê Thánh Tông mà
Chủ tịch Trương Tấn Sang đã trích dẫn. Xin đưa lại ý đó của Chủ tịch: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào
lại vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không
nghe, còn có thể sai sứ sang phương
Bắc trình bầy rõ điều ngay lẽ gian. Nếu
ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi
cho giặc, thì tội phải tru di”.
6 - Tình thế cấp bách, lúc này Nhà nước phải đặt lòng tin vào
dân. Nhưng phải bộc lộ được những phẩm chất cần thiết để dân tin.
Nếu Nhà nước và toàn thể dân tộc (kể cả ở trong và ngoài nước)
đoàn kết thành một khối, tự thân nó sẽ là sức mạnh siêu thần nhập hóa để giữ
nước khiến kẻ thù phải nản chí. Nếu làm ngược lại, sẽ là
thảm họa khôn lường, nó đồng nghĩa với việc tự mình dâng nước cho giặc.
Hà Nội, 5.7.2014.

Anh Hoàng Quốc Hải chuyên viết về lịch sử không có nghĩa là luôn viết đúng về lịch sử. Thất bại và kết quả bi thảm của Nhà Hồ đã được lịch sử đánh giá cụ thể rõ ràng. Nhưng Nhà Hồ không nghĩ, không lo cho dân là ý kiến chủ quan. Kênh thủy lợi đầu tiên của nước Việt do Nhà Hồ tổ chức. Súng thần công đầu tiên cũng do Nhà Hồ chế tạo. Thành Nhà Hồ cũng là chiến lũy bảo vệ chủ quyền. Chưa có sử sách nào viết Nhà Hồ hay " Thủ tướng " Nguyễn Phí Khanh tham nhũng. Cũng chưa ai viết Nhà Hồ chà đạp lên nhân dân, bắt bờ tù đầy những người chống quân Minh. Thất bại là mẹ thành công. Bi kịch của Nhà Hồ, nhà Phi Khanh là tiền đề cho thắng lợi của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Có một thực tế chỉ những người " thích đùa " mới nói : Lịch sử nước Việt chưa có triều đại nào chống giặc ngoại xâm Tàu Khựa sáng tạo như đảng CSVN. Cũng chưa có triều đại phong kiến, thuộc địa nào ở Việt Nam lại thật thà, mở lòng với nhân dân VN trong và ngoài nước như Đảng Ta. Một " con chim biết chọn hạt " sẽ ngậm mỏ còn hơn cố nuốt cái hạt lép. Nhưng con chim " khôn lỏi " thì nuốt đại ít ra cũng kiếm chác được một vài hạt mẩy
Trả lờiXóaDANG CONG SAN VIET NAM KHONG XUNG DANG DAI DIEN CHO DAN TOC VIET NAM VI SU HU BAI VA THOI NAT.
Trả lờiXóaCảm ơn hai nhà văn đã bóc trần/mẽ cái bản chất của quan hệ Việt - Trung.
Trả lờiXóaSao thân phận người việt mình nó lại buồn làm vậy.
Anh Nhật Tuấn ơi. Tôi muốn đọc cuốn Đi về nơi hoang dã mà không kiếm được ở đâu. Anh giúp tôi với.
Anh cho tôi địa chỉ email , tôi sẽ gửi ngay bản word...
XóaBác Nhật Tuấn ơi, Bác có số của Bác Hoàng Quốc Hải ko ạ, Bác cho con với.
XóaBác Nhật Tuấn ơi, Bác có số của Bác Hoàng Quốc Hải ko ạ, cháu muốn liên hệ với Bác ấy mà ko hỏi được ai. Nếu có Bác cho cháu xin với ạ. Cháu cám ơn
Trả lờiXóa