(tiếp theo)
Vừa lúc, một gã lính chạy vào hầm nói một tràng tiếng Khmer xong y quay chạy trở ra ngay. Ông lớn xốc dây súng trên người cho gọn gàng rồi với tay lấy cái ống nhòm treo trên vách và đội mũ vải hoa dù lên đầu. Sarek cầm khẩu AK 47, miệng y hối tôi đi theo ngay. Ba chúng tôi bước nhanh ra khỏi căn hầm chữ A đi đến một cái hầm khác nhỏ hơn có một gã lính ngồi cạnh cái bàn gỗ. Tay gã lính cầm ống nghe truyền tin áp sát vào tai bên phải. Gã đưa cái ống nghe cho ông lớn rồi cầm vào cái cần bên cạnh một hộp máy và quay liền vài vòng. Loại máy truyền tin dùng dynamo quay tay cổ lỗ trong quân đội của khối Cộng Sản. Ít phút sau, tôi theo chân ông lớn và Sarek băng qua các vạt cây rừng cùng các tảng đá để đi lên một bờ dốc cao. Đứng trên bờ dốc, ông lớn và Sarek dừng lại chuyền tay nhau cái ống nhòm nhìn ra một hướng thấp thoáng vài chiếc xe đậu xa xa. Tôi quay nhìn khu vực chung quanh, các hầm trú ẩn, bờ đá lô cốt phòng thủ cùng các lỗ châu mai còn sót lại của một căn cứ hay trại lính cũ.
Theo con đường khác với lối cũ buổi trưa, tôi đi cùng ông lớn và Sarek ra trở lại mặt đường lộ. Một dãy xe vận tải lớn hiệu Hino-Isuzu của Nhật đang nổ máy, đậu dọc sát lề đường trước mặt tôi. Từng thùng mì gói, thuốc lá thơm Ăng-Lê ba số 555, bia lon, kẹo bánh cùng đồ hộp... được lính Khmer chuyển tiếp từ trên các xe tải này xuống bỏ nằm lăn lóc dưới đất. Nhìn đoàn xe vận tải, chiếc nào cũng ken các cọc cây khá cao để chở thêm hàng hóa. Hàng trên thùng xe hầu hết là mô tô Honda hư cũ, loại xe người trong nước gọi chung cái tên là cúp cánh én hai bánh nghĩa địa. Chúng được nhập cảng vào nước Khmer từ các bãi phế thải ở Nhật Bản, Đài Loan hoặc Hàn Quốc sau khi chạy được quãng đường 5000 km. Đoàn xe vận tải vừa từ cảng Kompong Som về.
Một gã Khmer to lớn mặc áo thun mỡ gà đến nhìn tôi xong khoát tay ra dấu theo y đi lại chiếc xe ở đầu đoàn. Loại xe ca bin đôi, gã Khmer mở cửa cho tôi trèo lên ngồi vào băng ghế rồi y bỏ đi. Thêm hai người Khmer trèo vào trong ca bin xe ngồi chung băng ghế với tôi. Nhìn bên ngoài, tôi chợt lo khi thấy Sarek và ông lớn cùng gã Khmer áo thun mỡ gà đến cạnh xe nhưng họ không lộ ra thái độ gì. Ông lớn, Sarek và gã Khmer đứng đó trò chuyện với nhau. Chốc lát sau gã Khmer leo lên xe, tôi nhìn ông lớn và Sarek, cả hai mỉm cười rồi vẫy tay từ biệt tôi.
Đoàn xe từ từ lăn bánh tiếp tục chạy về hướng Nông Pênh.
Xe chạy khá xa tôi mới thật yên tâm. Ông lớn đã đổi ý vào phút cuối và còn giúp tôi có phương tiện để về Nông Pênh. Tạ ơn Thượng Đế. Chuyện đời Sarek kể thêm các giọt nước mắt của tôi đã đánh động lòng ông. Cuộc đời ông chắc từng biệt ly với người thân nên ông đã đồng cảm với hoàn cảnh tôi? Họ tuy dân Khmer nhưng nói tiếng Việt rất rành rọt. Khi gặp tôi, đã vui như gặp được đồng hương nơi xứ lạ nên muốn tôi ở lại với họ lâu dài. Tôi nghĩ họ từng có bạn người Việt và tình bạn giữa họ cùng những người Việt đó phải rất tốt nên họ mới có mối hảo cảm với cá nhân tôi. Nếu sống bình yên êm ả trong một thôn xóm, gặp người như họ để tôi làm bạn thiết cũng điều rất nên.
Ca bin xe tổng cộng năm người, tài xế và gã Khmer áo thun mỡ gà ngồi ở băng ghế trước. Băng sau, tôi và một đôi nam nữ khác ngồi chung. Đôi nam nữ nhắm mắt như ngủ vì mệt hoặc đang nghĩ về sự việc vừa xẩy ra cho cả đoàn xe? Băng trước, tài xế và gã Khmer áo thun mỡ gà cũng im lặng. Có lẽ họ biết tôi không nói được tiếng Khmer còn họ cũng không biết tiếng Việt. Ông lớn gửi gấm tôi cho họ sao đây? Muốn bắt chuyện để biết sự vụ nhưng tôi chịu, đành dõi mắt ra ngoài nhìn cảnh vật hai bên đường. Nước Khmer sau khi Việt Cộng rút về chỉ trong một thời gian ngắn, đời sống người dân khấm khá thấy rõ. Khi còn bên quê nhà, người dân Việt chạy xe Honda nghĩa địa nhập cảng từ ngoại quốc về. Có gặp đoàn xe vận tải, tôi mới biết chúng từ các lái buôn Khmer tập trung và chuyển về tiêu thụ bên Việt Nam. Tất cả xe Honda nghĩa địa ở Việt Nam đều một loại tay lái cánh én 50 phân khối cylinder. Ở Kompong Som, dân Khmer không thèm dùng loại xe cúp cánh én. Đa số họ chạy xe Honda Dream hay tệ hơn thì cũng xe Suzuki 100 phân khối. Có lẽ họ chê Honda cánh én vì xe nhỏ, yếu và trông không đẹp mắt.
Càng về gần Nông Pênh đường lộ càng ít hư hỏng và nhờ vậy tốc độ của đoàn xe chạy nhanh hơn. Xe vận tải Hino-Isuzu rất tốt, bỏ xa loại xe Kamaz của khối Đông Âu Cộng Sản. Sau chốt kiểm soát đó, đoàn xe không gặp thêm các chốt chận khác của lính Khmer hoặc phe Polpot nữa. Hai bên đường thấy nhiều khu nhà dân hơn trước rồi đoàn xe đi vào một trạm kiểm soát của công an-quan thuế Khmer. Những chiếc xe đò, xe chở hàng Kamaz mà tôi và Hường gặp hồi sáng sớm ở bến xe Kompong Som đang đậu dọc bên lề đường để chờ nhân viên đến xem xét. Khá đông người Khmer bán hàng rong vây chung quanh xe y như ở các trạm kiểm soát bên Việt Nam. Thấy đoàn xe Hino-Isuzu, vài người bán hàng chạy vội đến ngay. Tiếng họ rao vang vang chung quanh xe nhưng một nhân viên trong bộ đồng phục đã hướng dẫn đoàn xe chạy vào lối riêng khác. Người bán hàng rong không được phép đi theo vào với đoàn xe. Chạy từ từ dọc theo lối đi đến một dãi nhà dài và hẹp nằm cạnh một hàng cây rậm rạp, đoàn xe ngừng lại. Gã Khmer áo thun mỡ gà cùng vài người ở các xe khác xuống xe, đi vào trong gian nhà trình giấy. Chốc lát, cả bọn quay ra, trở về xe và tiếp tục chuyến đi.
Ngang qua phi trường Pochentong, vài máy bay sơn trắng dân sự cánh quạt đậu yên trên phi đạo gần hàng rào kẽm gai sát vệ đường. Cảnh trông không khác ở phi trường Tân Sơn Nhứt ngay khu vực Bà Quẹo thuộc quận Tân Bình-Sài Gòn. Gặp phi trường Pochentong có nghĩa Nông Pênh cũng chẳng còn bao xa. Nông Pênh chính là Nam Vang trong tiếng Việt. Hồi còn ấu thơ bên quê nhà, nghe cha tôi kể thời tổng thống Ngô Đình Diệm, dân Việt chạy xe mô tô bình bịch từ Sài Gòn sang Nam Vang mua sắm hàng hóa, ăn hủ tiếu, du ngoạn... Đi và về chỉ nội nhật trong ngày nhưng khi đó đang trong các giai đoạn thanh bình của miền Nam VNCH.
Đến Nông Pênh lúc 3:45 phút chiều, đoàn xe chạy vòng vèo trong các con phố, những con đường với vỉa hè không khác ở Sài Gòn. Người người bước dạo trên vỉa hè dưới các tàng cây trồng trước cửa tiệm. Xe cộ đó đây chạy ngược xuôi hú còi inh ỏi. Một rạp chiếu bóng trông bề ngoài giống hệt rạp Casino gần chợ Bến Thành cùng những tấm pano quảng cáo phim trước cửa. Sau rốt, đoàn xe chạy vào một sân bê tông rộng với bờ tường vây chung quanh và tắt máy ngừng hẳn. Gã Khmer áo mỡ gà ra dấu tôi rời khỏi ca bin. Nhiều xe vận tải khác đậu xa xa trong sân. Gã Khmer dẫn tôi đến một xe tải khác trong đoàn. Gã chuyện trò với ba người ở xe đó rồi một người trẻ trong số họ tách ra ngoắc tôi theo y ra tuốt bên ngoài cổng. Ra ngoài cổng, gã Khmer trẻ yên lặng nhìn xuôi ngược dòng xe hai bánh đang chạy trên đường như mong chờ ai đó. Chợt gã ngoắc tay, một xe Honda ôm quay đầu ngừng lại bên cạnh. Gã Khmer trẻ hất đầu ngầm bảo tôi trèo lên yên xe. Xe chở ba người chạy lòng vòng trong thành phố rồi ngừng lại cạnh một toà nhà khá lớn. Xuống xe, gã Khmer trẻ lấy tiền trả cho tài xế và ra dấu tôi đứng chờ phía trước của tòa nhà rồi y đi thẳng vào bên trong. Hơn 5 phút rồi 10 phút tôi chờ, vẫn chưa thấy gã Khmer trẻ quay ra. Tài xế xe Honda ôm sốt ruột hỏi vài câu Khmer nhưng tôi lắc đầu, khua tay tỏ ý không hiểu lời y. Rảo vài bước chân, tôi nhìn vào trong tòa nhà. Qua ô cửa kiếng rộng, hàng chữ Hotel de Bayon gắn nổi trên tường dưới ánh sáng đèn chiếu. Gã Khmer trẻ vào khách sạn này làm gì? Các mặt tường khách sạn ốp đá cẩm thạch mầu xanh lá cây cùng cửa kiếng mầu phớt tím bóng lộn trong suốt. Các nhân viên tiếp tân trong đồng phục xanh cúc mạ vàng đang đứng tại quầy trò chuyện với nhau. Chùm đèn trắng lớn buông thỏng từ trần nhà rọi sáng các bụi kiểng trang trí cùng vài bức tranh thật đẹp treo trên tường. Hai khách trọ từ phía trong đi ra nhưng không phải gã Khmer trẻ tôi đang chờ. Quay ra bên ngoài, tôi nhìn sang bên kia đường đối diện với khách sạn. Một công viên nhỏ với các hàng cây, bụi hoa được cắt tỉa thật đều, gọn đẹp. Vài khách du đang chậm rãi tản bộ trên các con đường nhỏ trong công viên và một người già ngồi xem báo ở băng ghế đá. Tôi đế ý đến khối kiến trúc khá lớn hình tròn sơn mầu vàng nằm phía cuối con đường cắt ngang một giao lộ. Không biết nó là chợ hay một trụ sở hành chánh của chính quyền nhưng kiến trúc đó trông khá lạ mắt.
Vừa quay nhìn lại bên trong khách sạn, tôi thấy gã Khmer trẻ đi ra cùng với một người đàn ông khác. Trò chuyện với nhau xong, gã Khmer trẻ giơ tay ra dấu từ biệt người đàn ông rồi y leo lên xe Honda ôm vẫn chờ tại chỗ. Xe nổ máy chạy liền ngay, người đàn ông còn lại đến bên tôi, nói:
- Chào anh. Anh khỏe không? Mình đi xuống bến Tắc Ca Mau ngay bây giờ nghe.
Tôi gật đầu, mỉm cười với ông ta. Nhìn vào đồng hồ đeo tay, người đàn ông như chợt nhớ điều gì nói thêm: " Ồ! Bây giờ còn sớm lắm... Hay chúng ta đi ăn uống cái gì đã rồi tính sau nghe... Với lại, tui với anh cũng chưa biết gì về nhau mà. Phải không? Tui là Danh Ngạnh còn anh tên gì vậy? ".
Tôi nói tên và nhìn vào khuôn mặt ông. Danh Ngạnh chắc đã trên 40 tuổi, có vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt khắc khổ đen sạm nhưng cười rất tươi với hàm răng trắng đều đặn. Vừa lúc, một xe Honda ôm bỏ khách xuống ngay gần bên đường, ông vội ngoắc chiếc xe lại rồi mặc cả. Tài xế chở chúng tôi đến một khu vực bán hàng ăn uống khá rộng nằm không xa khách sạn Hotel de Bayon. Trời bây giờ chiều hẳn, đèn điện trong các cửa hàng trên đường và trong khu bán hàng đã cháy sáng. Khá đông thực khách đang ăn bữa chiều hay lai rai ba sợi y chang các điểm ăn nhậu bên Việt Nam. Hễ nước càng nghèo thì càng nhiều hàng quán bán đồ ăn uống, một người nào đó đã nói với tôi. Ngẫm nghĩ thật đúng. Mở hàng bán thức ăn, bữa nào rủi vắng khách thì gia đình chủ quán dùng ngay các món bán ế thay cho bữa cơm trong ngày. Danh Ngạnh đưa tôi lên tầng hai một cửa hàng và chọn chiếc bàn ẩn khuất sau bụi dừa kiểng. Ngồi đó, tôi thấy lại xa xa khối nhà lớn mầu vàng hình tròn lúc đứng chờ ở khách sạn. Hỏi, Danh Ngạnh cho biết đó là chợ Ô Sây, một chợ lớn nhất nhì ở Nông Pênh tương tự như chợ Bình Tây trong vùng Chợ Lớn-Sài Gòn. Một người hầu gái trong quán tiến đến chào, đặt tờ thực đơn trên bàn. Danh Ngạnh nhìn tờ thực đơn nói tôi tùy ý chọn món. Ngỏ ý muốn ăn hủ tiếu Nam Vang để xem coi tại nơi gốc món này có hương vị ra sao nhưng vừa nghe tôi nói, Danh Ngạnh xua tay liền:
- Chọn món khác đi anh bạn. Hủ tiếu Nam Vang thường lắm, có gì lạ đâu mà ăn.
Đành để Danh Ngạnh chọn món ăn. Y gọi các món lươn, ốc... và cả bia nữa nhưng tôi nói không uống được bia xin cho thứ khác. Nghe vậy Danh Ngạnh mỉm cười, lắc đầu chê tôi đàn ông mà yếu quá vậy. Vừa ăn vừa nói chuyện, Danh Ngạnh hỏi về sự việc của tôi. Vắn tắt tôi thuật lại câu chuyện cho Danh Ngạnh nghe, từ lúc xuống cá lớn ở Vàm Rầy-Hà Tiên cho đến khi bị sa vào tay hải tặc Thái Lan. Những ngày ở đảo hoang cùng đảo Cô Tan rồi phải lang thang trên đường vì không đủ tiền vé trong chuyến xe Kamaz. Gặp toán lính Sarek cùng với ông lớn rồi được họ giúp cho quá giang đoàn xe Hino-Isuzu về Nông Pênh và sau cùng gặp được y. Nghe xong chuyện tôi kể, Danh Ngạnh ngồi yên trong chốc lát rồi nói:
- Tui nghĩ anh quá sức hên là hên khi gặp Sarek. Nói thật, lúc lang thang trên đường nếu gặp bọn PolPot thì chưa biết mạng anh sẽ ra sao? Cầm chắc chúng sẽ kéo anh vào rừng rồi giết anh ngay. Giết chết tươi đó nghe.
- Ghê vậy. Mình có làm gì họ đâu anh? Tôi hoảng hồn.
- Vậy! Chúng muốn giết thì giết, muốn tha thì tha. Chả biết đâu mà lường trước được. Tụi lính Polpot, nhiều thằng rất thù ghét người Việt nhưng có đứa lại không. Ai xui xẻo mới gặp mấy thằng hung thần đó... Ngay cả người Khmer tụi tui, bọn nó cũng không tha. Mà nghĩ cho cùng cũng do số phần cả thôi anh.
(còn nữa)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét