(trích hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
“ Tôi
hình dung con cua đang giơ hai càng một cách hiên ngang như muốn thách thức với
cả trời đất. Con ếch tới, vỗ nhẹ vào mai một cái, con cua vội co dúm người lại.
Nguyễn Đình Thi là con cua, Tố Hữu là con ếch...”
Viết
xong Xung kích , rất hồi hộp... Anh
chủ trương trước hết đưa cho những người mà anh gọi là “nhà văn một nửa”. Người đầu tiên là Xuân Thuỷ. Xuân Thuỷ
cho là được, chỉ chê một số chỗ chưa đúng ngôn ngữ quần chúng. Tiếp theo anh
đưa cho cụ Lành. Ông Lành khuyên cho mấy đoạn: đoạn tả hành quân và chi tiết
anh đại đội trưởng ngồi tính giờ, ghi vào nắm tay. Cuối cùng anh đưa cho Trường
Chinh. Trường Chinh khen có tính đảng: tả đúng chiến tranh nhân dân, có sự phối
hợp giữa chi bộ quân đội và cấp uỷ đảng địa phương, như thế là ở đâu cũng
có đảng lãnh đạo. Trường Chinh giục in
luôn để phục vụ kịp thời.
Thành
công này đã làm cho Nguyễn Đình Thi tin tưởng. Anh viết tiếp Vào lửa, Mặt trận trên cao, Vỡ bờ.
Thực
ra tiểu thuyết không phải chỗ mạnh của Nguyễn Đình Thi: Tô Hoài, Nguyễn Khải
trước sau vẫn cho Nguyễn Đình Thi không viết được tiểu thuyết.
Năm
1970 tôi có được nghe Nguyễn Đình Thi nói về tiểu thuyết Vỡ bờ (ở trụ sở báo Văn nghệ). Anh nói Vỡ bờ tập I, anh còn viết dưới cái cánh che chở của
ông Tolstoi già. Tập II đã thoát được cái cánh ấy. Thực ra Vỡ bờ tập II rất dở.
Tập I còn đỡ hơn. Mới biết dù thông minh đến đâu, con người ta cũng khó đánh
giá đúng văn của mình –
“văn mình –
vợ người”
– văn mình bao
giờ chả hay.
Vịt giời và vịt nhà.
Nguyễn
Đình Thi có lần ví mình như con vịt. Bơi được một tí, bay được mấy mét và chạy
lạch bạch dưới đất. Một ví von có ý tự trào về sự nghiệp của mình. Tôi chắc anh
đã suy nghĩ nhiều về sự ví von này. Vì nó rất đúng với thành tựu nghệ thuật của
anh và có hàm ý mỉa mai, cay đắng. Nhưng sự ví von này còn che dấu một ý khác.
Anh nói, không chỉ có nghĩa khiêm tốn đâu, nếu là con vịt giời thì nó bay cao,
bay xa lắm đấy.
Theo
tôi, sự ví von này chứa đựng một mâu thuẫn có thực trong cuộc đời nghệ thuật
của anh.
Một
thanh niên trí thức, tuổi trẻ, tài cao. Mười tám tuổi đã viết sách triết học.
Rồi soạn nhạc, làm thơ. Lại lớn lên đúng vào một thời kì lịch sử đầy bão táp,
chẳng những chứng kiến mà còn đích thân tham gia vào những sự kiện trọng đại có
ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Phong trào Việt Minh, Cách
mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.
Một
con người như thế, gặp thời thế như vậy, tất nhiên có nhiều ước vọng lớn, muốn
bay cao, bay xa, thật cao, thật xa.
Nhưng
tổng kết cuộc đời mình, anh để lại được những gì? Nhạc một ít, thơ một chút,
kịch dăm vở, tiểu thuyết mấy cuốn, lý luận vài tập. Nói đa tài thì đa tài thật.
Nhưng chẳng tài nào được đẩy đến nơi đến chốn, được phát huy đến tột đỉnh. Cho
nên có lần Xuân Diệu nói với tôi: “Không biết
nên gọi Nguyễn Đình Thi là nhà gì nhỉ”.
Vì
sao vậy? Có phải anh không chịu phấn đấu đâu. Trái lại thế. Không phải ngẫu
nhiên mà anh đã tổng kết đời mình bằng câu thơ rất buồn của Bà huyện Thanh
Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”.
...Về
tiểu thuyết thì cuốn Xung kích coi như trót lọt. Nhưng đến Vỡ bờ thì sinh chuyện. Anh ném ra cô Phượng, một nhân vật tư sản
khá phức tạp nhưng có cảm tình với cách mạng. Anh muốn nói cách mạng tháng Tám
là cuộc cách mạng của toàn dân tộc, trong đó có giai cấp tư sản. Anh rất tâm
đắc với nhân vật này, một nhân vật được sống thật là mình. Nhưng người ta cho
anh đi theo dòng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Cô Phượng là nhân vật Tự lực văn
đoàn.
Lôi
thôi trầy trật nhất là kịch. Hầu như vở nào cũng bị phê phán. Tôi đã được nghe
anh than phiền về chuyện này ở Đà Nẵng (31.7.2000).
Anh
nói kịch của anh kết cấu theo diễn biến tình cảm hơn là theo xung đột kịch.
Đúng là kịch của anh, do đó, giầu chất thơ. Tôi cho rằng kịch của Nguyễn Đình
Thi là kịch tư tưởng, có thiên hướng về chủ nghĩa nhân văn. Một lối kịch tượng
trưng thường dùng biểu tượng tượng trưng để ném ra tư tưởng này khác.
Kịch
như thế là trái hẳn với đường lối văn nghệ của Trường Chinh: văn nghệ phải phục
vụ chính trị (hồi ấy chủ nghĩa nhân văn cũng bị phê phán vì cho là thuộc phạm
trù ý thức hệ tư sản), chủ đề phải rõ ràng, không được dùng biểu tượng hai mặt.
Cho
nên Con nai đen bị cấm diễn. Hoàng Văn Hoan chê chủ đề không rõ. Ông ta nói, ta
đang đói. “Dân
đói thì như nồi nước sôi. Phải thận
trọng!”
Nguyễn Trãi ở Đông quan thì
cho là ám chỉ Trung ương họp. Người
ta còn đặt vấn đề: Sao không viết Nguyễn Trãi ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi anh hùng,
Nguyễn Trãi chiến thắng, mà lại viết Nguyễn Trãi bị cầm tù. Còn nhân vật cô Câm
thì muốn nói gì? ức mà không nói được? Thâm lắm đấy! Tác phẩm này cũng bị cấm.
Thực ra lúc bấy giờ anh muốn nêu vấn đề trí thức. “Thời ấy nổi lên mấy vở kịch về trí thức:
Kịch Khuất Nguyên là trí thức và vấn đề trong đục; Kịch Galilée là trí thức và vấn đề
chân lý; Nguyễn Trãi ở Đông quan là
trí thức và vấn đề dân tộc”.
Đến
Giấc mơ anh muốn đưa ra một vở kịch
thật hiện đại: một anh thương binh ngất đi, mơ thấy nhiều cái chết: cái chết
của Tần Thuỷ Hoàng, cái chết của Cléopâtre, cái chết của Chử Đồng tử, cái chết
của anh thương binh. Vở kịch có một cuộc đối thoại với một gã lái buôn. Nó đi
đâu cũng đem theo cái bàn tính và tay nải tiền. Cái gì nó cũng mua được hết,
nhưng cuối cùng không mua được khóm tre của anh thương binh. Kịch rắc rối, lại
pha huyền thoại như thế tất nhiên cũng không được chấp nhận.
Rừng trúc
thì viết theo lối cổ điển thôi, nhưng có gài một chủ đề có ý nghĩa nhân văn
(bên cạnh chủ đề đoàn kết đánh giặc) đặt vào lời Chiêu Thánh: “Việc
nước là quan trọng, nhưng việc của con người cũng không là nhỏ”.
Còn
Hoa và Ngần thì đề cập đến chuyện một cô gái, chồng đi chiến trường đã báo tử.
Nhưng khi cô yêu người khác thì chồng lại trở về. Trong chiến tranh, nội dung
kịch như thế tất nhiên cũng không được diễn.
Thật
ra nếu những tác phẩm trên của Nguyễn Đình Thi đạt tới phẩm chất nghệ thuật
cao, là những kiệt tác, thì không ai có thể phủ nhận được, không gì giết chết
được. Có chôn xuống đất đen thì nó cũng sẽ đội đất chui lên. Như Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, như Vang bóng một
thời của Nguyễn Tuân...
Nhưng
tất cả chỉ mới là những thử nghiệm. Nếu anh cứ tiếp tục thử nghiệm thì rồi có
thể có lúc sẽ đạt tới độ chín, và biết đâu đấy, có thể tạo được những tác phẩm
chẳng những có giá trị lâu dài mà còn mở ra được mội thời đại mới cho nền văn
nghệ Việt Nam hiện đại.
Ấy
là nói giả thiết thế thôi. Sự thật thì Nguyễn Đình Thi đã chùn bước. Anh sợ – Dương Thu Hương thì nói thẳng:” Nguyễn Đình Thi là thằng hèn, một trí thức
hèn, từng ví mình như hạt bụi (chị nói trong cuộc gặp mặt của Nguyễn Văn Linh
với văn nghệ sĩ –
10.1987).”
Không
rõ bản thân Nguyễn Đình Thi có thấy mình là hèn hay không, chỉ biết có lần ,
trong một buổi nói chuyện ở Đại học Sư phạm Hà Nội, anh tự cho là người luôn
luôn bị lỡ tàu.
Chuyện
con cua và con ếch.
Năm
1983, Hà Xuân Trường thay Trần Độ làm trưởng ban văn hoá văn nghệ Trung ương.
Nguyễn Văn Hạnh tiếp tục ở lại một thời gian làm phó cho Hà Xuân Trường. Các vị
tổ chức một cuộc hội thảo trong ba ngày về văn học nghệ thuật. Cuộc hội thảo
tập hợp rất đông văn nghệ sĩ thuộc các ngành nghệ thuật khác nhau. Nguyễn Đình
Thi có đến dự. Hôm ấy tôi được chứng kiến Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu như thế
nào. Ba ngày liền các đại biểu tự do đăng kí phát biểu. Hôm đầu, tôi hỏi Nguyễn
Đình Thi có phát biểu không. Anh nói không. Nhưng đến buổi cuối cùng, anh lại
nói.
Anh bước lên, đứng trước cái bàn có phủ khăn.
Đứng im, không nói gì. Mọi người im phăng phắc chờ đợi. Tưởng như con muỗi vo
ve cũng nghe thấy. Bỗng anh bước ra khỏi cái bàn, vung tay hỏi hội nghị: “Chúng
ta đang làm cái gì thế này?” Mọi người ngơ ngác tự hỏi: họp ba ngày, không
biết mình làm cái gì nhỉ? Càng cảm phục và chờ đợi. Thi vung tay nói lớn: “Chúng
ta đang làm một nền văn nghệ lớn. Và chúng ta cũng lớn!”
Đúng
lúc ấy Tố Hữu đi vào. Hà Xuân Trường theo sau. Tố Hữu ăn mặc xuềnh xoàng, áo sơ
mi bỏ ra ngoài quần. Người nhỏ bé.
Nguyễn
Đình Thi đang hùng hồn bỗng cụt hứng, xỉu hẳn lại, không nói được nữa.
Tố
Hữu ngồi ngay ghế đầu, vẫy tay nói với Thi: “Anh cứ nói tiếp
đi!”.
Nhưng Thi chỉ nói lý nhí mấy câu gì
đó không nghe rõ, rồi bỏ đi xuống.
Tôi
hình dung con cua đang giơ hai càng một cách hiên ngang như muốn thách thức với
cả trời đất. Con ếch tới, vỗ nhẹ vào mai một cái, con cua vội co dúm người lại.
Nguyễn Đình Thi là con cua, Tố Hữu là con ếch.
Thảm
hơn nữa là sau đó, khi Tố Hữu phát biểu, Thi thỉnh thoảng lại đế vào một câu để
tỏ ra rất tán thưởng ý kiến của Tố Hữu. Một thái độ nịnh hót rất lộ liễu. Lưu
Trọng Lư cũng thế. Rất tội!
...Thành ra Tố Hữu rất ghét Thi. Vì Tố Hữu là tay
thông minh, thừa biết Thi thực bụng nghĩ gì. Vả lại những ý kiến của Thi, thế
nào chẳng có thằng tâu với Tố Hữu. Ghét nhưng vẫn dùng. Vì Thi biết sợ. Lãnh
đạo ngại nhất là thằng không biết sợ. Sai không sao, ngại nhất là thằng bướng.
Thằng bướng thì phải diệt ngay (như Nguyên Ngọc chẳng hạn)
Nguyễn Đình Thi sợ Tố Hữu có lẽ còn do nguyên nhân
khác: Từ rất trẻ anh đã được ngồi ghế cao: Lãnh đạo văn hoá cứu quốc, Tổng thư
kí hội nhà văn, Hội văn nghệ, Đại biểu quốc hội khi mới ngoài 20 tuổi. Thi
không quen ngồi dưới đất. Một tính cách dở dang: vừa muốn làm nghệ sĩ, vừa muốn
làm quan. Đã muốn làm quan, đã muốn có ghế và giữ ghế thì tất phải sợ cấp trên – cấp trên trực tiếp là Tố Hữu.
Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng, Nguyễn Đình Thi chắc có
một cái vết gì đấy trong lý lịch nên sợ. Những tay nịnh hót đảng, lên gân lên
cốt về chính trị, nói chung là đều có vết gì đó trong lý lịch như Hoàng Xuân
Nhị, Lê Văn Thiêm, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Nam Mộc, Phan Ngọc...
* *
Khi anh ốm nặng (2004) tôi có đến thăm. Hôm ấy anh vừa
được uống cổ linh chi, một thứ thuốc quý hiếm, được coi là thần dược. Người
khoẻ lại hẳn. Chân tay co duỗi thoải mái. Anh thử biểu diễn cho tôi xem, có vẻ
vui và tin tưởng lắm. Chị Tuệ Minh chăm sóc anh. Anh nói nhỏ với tôi: “Anh đến thăm
tôi thế này là quý hoá lắm!”
Rồi anh giới thiệu tôi với chị Tuệ
Minh.
Vậy mà chỉ mấy ngày sau, anh qua đời.
Láng
Hạ, ngày 1.1.2008
N.D.M.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét