Trang

▼

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

PHẠM THẮNG VŨ : Con sóng dữ - KỲ 17



                               
   (tiếp theo)

Đám Khmer võ trang 7 người ngồi xuống gần bên tôi và quay qua, xì xồ nói chuyện với nhau. Họ lấy thuốc lá điếu ra hút và mời nhưng tôi lắc đầu từ chối. Ngồi cho đến khi hút tàn điếu thuốc thì cả bọn gọi nhau đứng lên và rảo bước quay về hướng cũ. Tôi được lệnh đi theo. Lầm lũi giữa đám Khmer, tôi đi nhưng không biết cái gì sẽ xẩy ra. Được một quãng đường khá xa, đám Khmer bỏ con đường nhựa và lội thẳng vào hướng rừng bên cạnh. Tôi bắt chuyện với gã lính biết tiếng Việt:

- Mình đi đâu hả anh?

Gã lính chỉ im lặng không trả lời. Khi nghe hỏi lại lần nữa, gã đứng ngay lại nói gằn từng tiếng:

- Bảo anh đi là đi, không được hỏi lôi thôi với tui nghe chưa.

Nhìn mặt gã Khmer thật khó đoán được tâm tính y. Gã tươi cười vui vẻ khi nói chuyện với đồng bọn. Với tôi, gã lại cộc cằn. Nước da gã đen, thân hình dong dỏng cao. Khuôn mặt gầy, tóc gã quăn tít có lọn lòa xòa trước trán. Nhìn mặt, tôi đoán gã khoảng 25, 26 tuổi và có vẻ chỉ huy bọn lính. Gã biết tiếng Việt, chắc cùng một dạng như Sok Sammath? Nghĩ vậy, tôi nhìn lại hoàn cảnh mình mà lo trong bụng. Bọn này dẫn mình vào rừng để làm gì? Chân bước đều theo bọn người Khmer nhưng trong tôi đang run lập cập.

Tôi cùng đám lính lặng lẽ đi trên lối mòn trong một cánh rừng thưa được hơn 100 m đường thì đến chỗ nước ngập, cả đám phải lội bì bõm trong nước. Có lúc nước cao tới đầu gối rồi qua khỏi chỗ ngập thì con đường dốc lên dần và cây cối cũng thưa thớt hơn. Đi len qua vài mỏm đá quanh co, gã lính biết tiếng Việt dẫn tôi tách riêng đi hướng khác rồi dừng bước trước một căn hầm lớn nằm dưới các tàng cây cao to. Nhìn căn hầm trông giống kiểu hầm chữ A trong mật khu bên quê nhà. Ai đã từng bị chính quyền Cộng Sản bắt đi vùng kinh tế mới trên các vùng rừng miền Đông Nam Bộ sau ngày 30-4-1975 chắc có dịp trông thấy căn hầm chữ A do Việt Cộng đào trú ẩn giữa rừng trong thời còn chiến tranh. Gọi hầm chữ A vì hình dáng của nó. Vách hầm là hai hàng cây lớn dựng xiên vào nhau, đất được đổ kín, lèn chặt chung quanh và chỉ chừa một lối ra vào duy nhất. Hầm làm kiểu này sức chịu đựng với bom đạn khá chắc. Tôi theo gã lính bước vào, căn hầm có các ô trống trên vách lấy ánh sáng bên ngoài vào trong. Một cái bàn gỗ lớn đóng dính liền với ghế nằm chình ình ở giữa sàn hầm. Một cái đèn dầu to tướng cùng vài quyển sổ, bút bi... bỏ nằm trên mặt bàn. Phía góc hầm khuất sau cái bàn, một gã to béo đeo kiếng mát, mặc áo thun quần short đang đung đưa mình trong cái võng mắt lưới. Sợi dây da nâu vắt qua vai gã với bao da súng ngắn nằm gọn ngay dưới nách. Khẩu súng trong bao da chắc phải rất nhỏ. Nhận ra có người lạ, gã bỏ kiếng nhìn tôi trong chốc lát cùng lúc tay lính nói vài tiếng Khmer. Tôi đứng yên nhìn căn hầm, nhiều khẩu súng trường được dựng đứng dựa vào vách ở một góc. Gã to béo khoảng 40 tuổi, tôi đoán chỉ huy cả bọn lính và quả đúng như vậy. Gã lính quay qua với tôi:

- Ông lớn chỉ huy đó, anh nói chuyện với ông ấy đi.

Chưa kịp biết nói gì, người được gã lính gọi bằng ông lớn buột miệng hỏi tôi:

- Anh bạn ăn uống gì chưa? Có hút thuốc không?

Tôi lắc đầu, ông lớn nói vọng ra bên ngoài vài câu Khmer. Một gã lính trẻ bước vào hầm, tay bưng cái nồi và lon đồ hộp. Đặt các thứ trên mặt bàn trước mặt tôi, gã mỉm cười rồi đưa cho tôi muỗng chén xong loay hoay mở lon đồ hộp. Ông lớn vẫn nằm trên võng nói:

- Anh tự nhiên ăn cơm đi. Ăn hết luôn nghe... Chiều mấy lính sẽ nấu nồi khác.

Tôi ngồi lại bàn, nhìn vào nồi cơm còn khá nhiều và món đồ hộp là thịt kho mặn. Từ sáng tới giờ trong bụng nào có hột gì đâu, họ cho tôi ăn như vầy quá sức ngon. Chưa biết kết cuộc rồi sẽ ra sao nhưng trước mắt phải no bụng đã. Nghĩ vậy, tôi múc cơm ăn liền. Gã lính đi cùng đến ngồi đối diện tôi rồi móc thuốc lá điếu ra hút và cùng ông lớn trò chuyện bằng tiếng Khmer. Thỉnh thoảng đầu họ gật gù với nhau khi cả hai đưa mắt nhìn về tôi. Hai người Khmer này đang bàn chuyện gì đó về mình? Bữa ăn chấm dứt mau chóng, gã lính trẻ quay vào dọn sạch nồi, lon không rồi đưa cho tôi lon nước cam. Bây giờ, ông lớn quay sang tôi:

- Sarek nói tui biết câu chuyện của anh bạn rồi. Anh đừng về Việt Nam nữa. Ở lại đây với chúng tui cho vui. Vài tháng hay cùng lắm vài năm thì anh cũng y chang tụi tui hà. Đừng có về Việt Nam nha anh bạn Duôn.

Trời ơi! Thì ra họ muốn mình làm lính. Gã đi cùng, bây giờ tôi biết tên là Sarek mỉm cười phụ hoạ với ông lớn:

- Anh thích xài súng nào thì lựa cho mình một cây. Miệng nói, tay y chỉ về phía góc căn hầm nơi có đống súng AK 47, CKC, M 16, B 41... dựng sát cạnh bên nhau. Thấy tôi yên lặng, gã tiếp: " Anh biết không! Người Duôn trong quân đội Khmer đông lắm. Ở luôn đây nha anh. Không về Việt Nam nữa nghe ". Y mỉm cười, giọng khẩn khoản.

Ngồi yên trên ghế, tôi ngẫm nghĩ lời hai người Khmer vừa nói. Họ người Việt Nam nay đã thành dân Khmer? Nhưng khuôn mặt cùng vóc dáng họ không có vẻ gì người Việt Nam cả. Tóc xoăn, da đen, tướng tá của họ rõ khác biệt với tôi. Không lẽ họ là người Việt gốc Khmer như sắc dân Khmer Krom sống ở các làng quê miền Nam Việt Nam lâu năm rồi hoàn cảnh đưa đẩy họ đến đây và thành người lính. Nếu đúng vậy, hai người họ ở đây được vì dầu sao cũng là bản quán thật. Còn tôi, người Việt Nam, quê hương và thân thuộc không ở đây. Phải từ chối. Nghĩ vậy tôi trả lời liền:

- Tôi thích đi lính lắm, nhìn các khẩu súng này tôi cũng muốn chọn một cây nhưng không thể được.

- Sao lại không được? Tại sao? Ông lớn hất cằm hỏi dồn.

- Vợ tôi đau nặng mà chưa biết sống chết ra sao bên quê nhà. Tôi phải về ngay. Nếu còn độc thân thì dễ tính quá nhưng không được, tôi phải về gặp mặt vợ tôi. Các anh thông cảm, đừng bắt tôi ở lại đây. Tội nghiệp.

- Anh không được ra khỏi đây. Đã đến thì ở lại với chúng tui luôn. Ông lớn quyết định như vậy. Đây là mệnh lệnh nghe chưa, không được cãi. Bây giờ không nói nữa, nằm nghỉ trưa đi. Sarek nhìn tôi, khoa tay dứt khoát.

Xong, y nằm lăn ra trên băng ghế dài. Tưởng y làm một giấc ngủ trưa nhưng không, Sarek nằm đó trò chuyện với tôi. Tôi cũng nằm dài trên băng ghế, trong lòng lo lắng xen lẫn buồn bã. Sarek cho biết đơn vị y có cấp số tới hơn một đại đội và phân tán thành từng nút chận trải dài trên trục lộ giao thông suốt từ Kompong Som cho tới gần phi trường Pochentong, cửa ngõ dẫn vào thành phố Nông Pênh ở hướng Nam-Bắc.

- Anh đi xe chắc có gặp các chốt chận dọc đường chứ? Sarek hỏi nhưng trả lời luôn: " Các chốt đó là lính của đơn vị tui ".

Im lặng trong chốc lát, Sarek tiếp: " Thực ra không phải tất cả các chốt chận đều thuộc lính ở đây. Bộ đội địa phương trong vùng cũng lập chốt và đôi khi cũng có cả tàn quân PolPot nữa ".

- Tàn quân PolPot. Tôi ngạc nhiên, hỏi lại Sarek: " Vẫn còn tàn quân PolPot sao! Họ có đông không, hoạt động gì dọc theo đường? ".

- Ít thôi, chủ yếu lén lút mò ra quấy phá cầu đường. Đó tại sao cây cầu nào cũng có lính đóng chốt.

- Họ võ trang, quân phục ra sao hả anh?

- Trước kia tụi nó mặc đồ đen, bây giờ tạp nham cũng như tụi tui. Võ trang chỉ AK 47, B 41 thôi... Yếu lắm, không có súng cộng đồng.

- Sao anh biết họ là tàn quân PolPot?

- Biết chứ! Lính chúng tui biết mặt nhau hết. Với lại, bọn nó chạy vào rừng ngay khi thấy tụi tui.

- Gặp vậy các anh có truy nã họ không?

- Trước kia có đấy nhưng giờ đám tui chán cảnh đánh nhau lắm anh. Bọn nó cũng vậy, thấy bên tui là tránh liền.

Sarek kể lúc nhỏ y sống nguyên thời ấu thơ bên Việt Nam rồi theo cha mẹ về lại Khmer cho đến khi PolPot lên nắm quyền. Trên đường tản cư về miền quê theo lệnh của chính quyền mới, Sarek đã lạc gia đình. Về một vùng quê lạ, gã bị cán bộ Khmer Đỏ tập họp lại với các trẻ em khác sống chung trong khu tập trung có tên Phum Cùm Hu. Sarek phải dấu việc đã từng sống bên Việt Nam kể cả chuyện y biết tiếng Việt khá sõi. Sarek thuật lại các vụ Khmer Đỏ hành quyết ghê rợn những người đã dính líu đến Việt Nam trong thời gian đó. Sống tập trung trong phum cho đến khi gặp bộ đội Việt Cộng. Biết tiếng Việt, Sarek được Việt Cộng chọn huấn luyện riêng nhưng sau đó gã đã trốn trại huấn luyện để đi tìm lại cha mẹ. Gã đi kiếm nhiều nơi nhưng hoài công. Khi về Nông Pênh để kiếm việc làm, tình cờ Sarek gặp lại bạn cũ và người đó dẫn y đến nhập lính ở đây.

- Cha mẹ tui không còn sống đâu anh. Ang Ka dạy tụi tui phải biết căm thù người Duôn căm thù luôn cả những người Khmer có liên hệ với dân Việt Nam. Ang Ka giết người nhiều quá nên chắc ông bả chết cả rồi. Khmer bây giờ lớp người trẻ như tui mồ côi cha mẹ nhiều lắm, lớn lên mà không thân nhân cũng không biết gốc gác gia đình ở đâu ra. Sarek buồn bã kể chuyện sống trong phum thời PolPot nhưng khi nói về Việt Nam, giọng y vui vẻ hẳn: " Gặp được anh tui rất mừng. Tui vẫn nhớ những bạn người Duôn thuở xưa khi sống bên Việt Nam ". Sarek kể lại thời niên thiếu sống trong làng ở miền Nam nước Việt, về các kỷ niệm với bạn bè chung lớp tiểu học. Mỗi lần phấn khích trong câu chuyện, y lập lại: " Anh ở đây chung với tụi tui nha. Chỉ có tui với ông lớn biết tiếng Việt giờ thêm anh nữa càng vui ". Nhớ lại Sarek khô khan, lạnh lùng trong lần đầu mới gặp tôi thật khác hẳn với thái độ y bây giờ. Định mệnh cay nghiệt đã đổ xuống gia đình và bản thân y nên biến Sarek có lúc thành con người cộc cằn, thô lỗ nhưng tận cùng, tôi nghĩ Sarek là người tốt.

Ông lớn nằm yên không góp chuyện. Nghĩ ông đã ngủ say nhưng chợt tai tôi nghe một tiếng thở dài đánh sượt. Ai thở vậy? Tôi nhổm đầu dậy nhìn chung quanh. Ông lớn nằm yên trên võng, hai mắt thao láo nhìn lên trần hầm. Vẻ mặt ông trông thật hiền. Chuyện Sarek kể chắc tương tự chuyện riêng đời ông, đã dắt ông về các hoài niệm cũ làm ông nhớ đến các thân nhân và ông đã buồn. Chắc vậy! Không biết thời PolPot cai trị, hoàn cảnh riêng của ông ra sao? Câu chuyện quay về tôi khi Sarek một mực bảo phải ở lại và không về Việt Nam nữa.

- Chúng ta bạn của nhau từ bây giờ. Anh xuống xe đò ngay chỗ tui đóng quân, có nghĩa số phận chúng ta gặp nhau và sẽ gắn liền sống chết bên nhau. Phải không? Sarek ngồi dậy, mỉm cười nhìn tôi và ông lớn sau câu nói.

Ở lại đây và sống chết bên nhau với họ. Nếu hai người Khmer nầy muốn vậy thì làm sao mình về tới Việt Nam được đây. Biết cớ sự như vầy thà tôi nghe lời Hường-Liên ở nán lại Kompong Som còn hơn cố về nhà để mắc kẹt... Nhưng làm sao mà biết trước được để tránh. Tôi phân vân, rối trí quá. Mới vài tiếng đồng hồ trước còn ngồi trên xe hàng mà giờ phải bó tay trong căn hầm xa lạ này. Biết làm gì đây? Tôi thật sự tuyệt vọng và buồn cho hoàn cảnh mình. Tại không có đủ tiền xe mà ra... Tiếng Sarek cắt đứt mối suy tư của tôi.

- Sao! Ở lại đây ha anh bạn? Im lặng là đồng ý mà... Ha ha...

Tôi ngồi dậy nhìn hai người Khmer rồi khăng khăng nói phải về Việt Nam với lý do vợ bệnh nặng đang nằm chờ ở nhà thương. Khi bịa ra chuyện có vợ bệnh, trí óc tôi nghĩ đến Ánh Phương tự dưng làm tôi chảy nước mắt. Tiềm thức về số phận Ánh Phương khiến tôi khóc dễ dàng.

- Thôi đừng khóc nữa... Đừng khóc nữa. Đủ rồi! Em thương con vợ bên quê nhà dữ ghê ha! Anh hiểu em rồi, em trai ơi! Ha ha... Ông lớn đột ngột thay đổi cách xưng hô. Ông cười to tiếng, bước rời khỏi chiếc võng và đến bên vỗ vào hai vai tôi. Sarek cũng im lặng nhìn tôi mà không nói một lời.


                                    (còn  tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét