Một bài thơ
hay. Mang âm hưởng Đỗ Phủ nhưng lại lãng tử, ngang tàng khí phách và chua chát
đời lính, xuất bản ở Sài Gòn khoảng 1970, trên tuần báo Khởi Hành gây xôn xao dư luận . Độc giả , nhất là thanh niên vô
cùng thích thú những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất
cần đời. Có thể nói Nguyễn Bắc Sơn làm thơ về chiến tranh gây ân tượng dữ
dội bậc nhất. Các “thi sĩ chinh chiến “ bên phía cách mạng,
chưa thấy ai làm được bài nào ngang tàng, hào sảng như bài này :
Mật khu Lê Hồng Phong
tướng giỏi cầm quân trăm
trận thắng
còn ngại hành quân động Thái An
cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
mùa khô thiếu nước lính hoang mang
đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
nghe súng rừng xa nổ cắc cù
chợt thấy trong lòng mình bát ngát
nỗi buồn sương khói của mùa thu
mai ta đụng trận, may còn sống
về ghé Sông Mao phá phách chơi
chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
đốt tiền mua vội một ngày vui
ngày vui đời lính vô cùng ngắn
mặt trời thoắt đã ở phương tây
nếu ta lỡ chết vì say rượu
linh hồn ta chắc thành mây bay
linh hồn ta sẽ thành đom đóm
vơ vẩn trong rừng động Thái An
miền bắc sương mù giăng bốn quận
che mưa dùm những nắm xương tàn
cát lún bãi mìn rừng lưới nhện
mùa khô thiếu nước lính hoang mang
đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
nghe súng rừng xa nổ cắc cù
chợt thấy trong lòng mình bát ngát
nỗi buồn sương khói của mùa thu
mai ta đụng trận, may còn sống
về ghé Sông Mao phá phách chơi
chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
đốt tiền mua vội một ngày vui
ngày vui đời lính vô cùng ngắn
mặt trời thoắt đã ở phương tây
nếu ta lỡ chết vì say rượu
linh hồn ta chắc thành mây bay
linh hồn ta sẽ thành đom đóm
vơ vẩn trong rừng động Thái An
miền bắc sương mù giăng bốn quận
che mưa dùm những nắm xương tàn
VÀI NHẬN XÉT
(trích)
…Bên kia là: “những đứa điên say”; bên này là “ta” coi đánh
giặc như trò chơi. Hoàn cảnh phải chăng đã xui có cái bất cần này để quân bình
lại cái quá đáng kia. Oc hài hước bên này để hiểu chính óc mộng tưởng bên kia?]
… Thái độ một quân nhân thời chiến như ông, nó khác thường không những vào thời
điểm cuối 60 đầu 70, mà vào bất cứ thời nào. Có thể bảo chiến tranh là cái cũ
rích, đã có tự ngàn xưa; chán ghét chiến tranh là thái độ cũng cũ cũng xưa
không kém. Ở Nguyễn Bắc Sơn chỉ có cái ngông nghênh ngang tàng là mới. – Một
chút ngang tàng thôi cũng có sức thu hút người đời dữ vậy sao? Nhưng… Không
phải chỉ ngông nga ngông nghênh chật đường mà đủ làm thiên hạ mê say. Trong cái
nghênh ngang phải có gì đẹp đẽ, sau vẻ nghênh ngang phải thấp thoáng một tâm
hồn phong phú, những xúc cảm tinh tế, chân thành, những lời lẽ đầy duyên dáng
v.v. Có thế may ra mới…
ĐẶNG TIẾN :
… Nhiều người nhớ đoạn thơ nói trên vì tâm tư một thời đại,
nhưng nó tồn tại lâu dài trong tâm thức người đọc là nhờ giá trị nghệ thuật —
bên cạnh giá trị lịch sử mà không ai chối cãi. Điển hình cho thi pháp Nguyễn
Bắc Sơn là từ vựng: câu đầu trên 7 chữ, đã có 5 từ diễn tả niềm hoang mang
trước cuộc sống mỏng manh, bao quanh một chủ từ «ta» phù du hiu hắt ; «mai» là
cuộc sống đếm từng ngày ; động từ «đụng» vừa chủ động: có đi mới đụng, vừa thụ
động vì có tính cách tình cờ, tai hại ngoài ý muốn: «anh đi nhè nhẹ, đụng
giường má hay». Người lính đụng trận như người thường đụng xe, đụng mưa; bình
thường, chính xác hơn, người khác sẽ nói: đụng giặc, đụng địch. Nhưng trong thơ
Nguyễn Bắc Sơn không thấy có đối phương. Trong câu sau Sông Mao là một thị trấn
nổi danh vì chiến tranh: từ 1955 Sư Đoàn 5, người Nùng đóng ở đó, với khu gia
binh di cư vào, và đời sống mang sắc thái riêng, về sau là các căn cứ quân sự
Hoa Kỳ. Do đó địa danh Sông Mao, tự nó đã có âm hưởng chiến tranh, và quả thật
nơi đấy «có nhiều nhà điếm và nhiều trại lính» (tr. 11) như lời thơ Nguyễn Bắc
Sơn.
…Thơ chinh chiến của cổ nhân là thơ quan quyền; ra quân phải có
nhạc tỳ bà trên lưng ngựa; rượu thì phải Bồ Đào. Thơ Nguyễn Bắc Sơn là thơ
lính, ra quân không đua đòi Mỹ Tửu nhưng phải có “đế Nùng” đặc sản do người
Nùng địa phương Sông Mao sản xuất từ các trại gia binh.
…Trong trường phái khí phách giang hồ này Thâm Tâm có bài Tống
Biệt Hành nhiều người biết, ông còn những bài Tráng Ca, Vọng Nhân Hành, và nhất
là Can Trường Hành, báo hiệu Nguyễn Bắc Sơn
….Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc
nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến
tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn
và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với
các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét
khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là
thơ để đời ; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”,
Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán sá. Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã
tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như
thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập
trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống,
Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoanh nghênh.
ĐỖ QUANG VINH :
…Nguyễn Bắc Sơn là con người đa tài: rất giỏi tiếng Anh, nghiên
cứu sâu triết học Đông – Tây, đặc biệt là Kinh dịch và triết học Phật giáo; lại
có bàn tay châm cứu tuyệt vời cộng với tấm lòng nhân ái của một lương y thực
thụ. Đó là thời điểm cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi
đất nước còn bộn bề khó khăn, thiếu thốn – anh đã từng tham gia chẩn trị và
hướng dẫn châm cứu cho lớp đàn em ở các cơ sở Đông y Phan Thiết và Hàm Thuận
Bắc … Nhưng Nguyễn Bắc Sơn sau trước vẫn là thi nhân – một thi nhân luôn lãng
đãng, phiêu bồng trong cõi nhân sinh bởi vì anh đã ký thác đời mình từ “sinh
cung của bà mẹ mênh mông”. Thơ anh mang khẩu khí tài hoa, phóng túng; phảng
phất một chút hơi hướng của phong trào “thơ mới”, “thơ tiền chiến” và xa hơn là
phong vị hàm súc của Đường thi – đó là cảm nhận chung của đồng nghiệp và đông
đảo độc giả trước đây.
(Nguyễn Bắc Sơn còn nhiều bài hay. Hy vọng sẽ có dịp trở lại…)

Bác Nhật Tuấn đã trích lại chính xác câu thơ sau,hơn nhiều người khác :
Trả lờiXóaMai ta đụng trận may còn sống
chứ không phải là :
Mai ta đụng trận,ta còn sống (lặp lại chữ ta).
Nếu bác cho đăng bài "Chiến tranh Việt Nam"
thì còn hay và thẳng thừng hơn nữa.
Bài thơ này kể cũng hay, nhưng thi tứ, vần điệu, ngôn ngữ trong bài này sao giống y chang thơ Tô thùy Yên vậy ? Hãy đọc mấy bài thơ Trường Sa hành, Anh hùng tận của Tô thùy Yên, Trên bên bắc khuya nghe một ông lão đàn hát, ....những bài đi vào lòng bạn đọc yêu thơ mấy chục năm qua không quên được:
Trả lờiXóaTrường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.
Mùa đông bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ..... ( trích Trường Sa hành)
Dựng súng truờng, cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, ruợu rất nhiều.....
Ta gạn dăm ba lời tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chuơng
Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên...
Tới đây toàn những tay hào sĩ
Sống chết không làm thắt ruột gan...... (trích Anh hùng tận)
"Ngày kia trở lại Ngôi Nhà Lớn,
Lòng những bằng lòng một kiếp chơi." (Đãng tử)
Sau này, qua Mỹ sống, sau thời gian bị đi cải tạo trong tù hơn 10 năm, Tô thùy Yên sáng tác nhiều bài thơ dài về cuộc đời, số phận con người, vẫn hay nhưng ngậm ngùi và bi thương như bài thơ Ta Về, Tàu Đi.... Thơ của Tô thùy Yên, phóng khoáng, bi hùng.
Khánh Minh