(tiếp theo)
ĐỐI THOẠI ĐỂ HỢP NHẤT
Như
đã nói ở trên, không phải là tất cả, nhưng thông thường, trong đối thoại đã
hàm chứa sự đối nghịch. Nhưng mục đích cao đẹp nhất của đối thoại lại không
phải để mở rộng hoặc kéo dài sự đối nghịch, mà chính là để hóa giải những đối nghịch
và tiến tới hợp nhất. Dĩ nhiên, đó không phải là những cuộc đối thoại được chủ ý
xử dụng như một phương tiện tuyên truyền xuyên tạc, công kích đối phương như
Cộng sản đã từng làm trước đây trong những "cuộc hòa đàm". Đó cũng
không phải là những cuộc đối thoại giữa "những người điếc" được hiểu
là mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy nghe.
Cuộc
đối thoại hiện nay phát xuất từ những nhận thức được thể hiện qua những tác
phẩm và những phát biểu của Nhật Tiến về vấn đề giải phóng đất nước và dân tộc
thoát khỏi chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản. Cuộc đối thoại, do đó, sẽ xoay quanh những
điểm căn bản của những nhận thức đó. Vấn đê được đặt ra : Những điểm căn bản đó
là gì? Những điểm căn bản đó thực sự đối nghịch với mơ ước của dân tộc, với nhu
cầu giải phóng nước hay chỉ đối nghịch với thành kiến và thói quen, với tự ái
và thù hận? Đó cũng chính là những đối nghịch của cuộc đối thoại cần phải được
hóa giải.
Theo
tôi nghĩ, then chốt nhất trong những nhận thức của Nhật Tiến là ý thức chống Cộng
được đặt trên căn bản dân tộc chống ngoại xâm. Đây là một nhận thức bao gồm ý
thức dân tộc và quan niệm về Cộng sản đã chi phối toàn bộ những phát biểu và
sáng tác sau này của Nhật Tiến.
1. Ý Thức Dân Tộc: Về địa dư, Việt Nam
luôn luôn bao gồm cả hai miền Nam Bắc dù có những lúc, từng phần hoặc toàn
phần, bị tạm chiếm và thống trị bởi những thế lực ngoại lai, phi dân tộc. Những
thế lực này được hiểu là những chủ nghĩa, những chế độ, những chính quyền phục
vụ cho quyền lợi tinh thần cũng như vật chất của ngoại bang và đi ngược lại
truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội của Việt Nam. Về con người, dân tộc Việt
Nam bao gồm tất cả mọi người dân ở hai miền Nam Bắc, vượt lên trên thành kiến
và quá khứ chính trị, có chung một lý tưởng giải phóng tổ quốc ra khỏi chế độ
Cộng sản tàn bạo, phi nhân để xây dựng một Việt Nam độc lập, tự do, thanh bình,
thịnh vượng và nhân bản. Về thời gian, công cuộc giải phóng đất nước được nhìn
và được đặt trong giòng sinh mệnh và giòng lịch sử bất khuất chống ngoại xâm
của dân tộc mà không bị giới hạn bởi những mốc thời gian như 75, 54, 45 ...
mà từ đó, con người dễ bị đồng hóa với bên này hoặc bên kia mà quên đi
những đổ vỡ, đau thương, tang tóc chung của dân tộc ở cả hai miền Nam Bắc.
Trong
bài nói chuyện tại Vietnamese Center , Wichita
ngày 20-7-1986
với nội dung là: Một vài nhận thức về
những vấn đề của quê hương Nhật Tiến đã nói:
"Lịch
sứ đã đưa dân tộc sang qua một trang mới, ở đó bao gồm đủ mọi loại thành phần,
dù bên này hay bên kia, đã từng chiến đấu dưới màu cờ này hay màu
cờ khác nhưng trong thực tế đã
có ít nhất là một điểm đồng
dạng. Đó là sự hiểu biết sâu xa về bản chất phi nhân của chế độ Cộng sản, đó là sự nhận định về khẩu hiệu yêu
nước là yêu chủ nghĩa xã hội chỉ là
một sự áp đặt tư tưởng con người, cưỡng ép con người từ bỏ bản chất dân tộc để đi vào con đường ngoại lai, vong
bản. Trên cơ sở của những nhận thức căn bản đó, mọi người Việt Nam đều khao khát một ước vọng chung đó là xóa bỏ chế độ
Cộng sản để xây dựng một quê hương mới. Trong cuộc hành trình tiến về tương lai, nếu đã gọi là cùng chung một lý tưởng mới,
thì không ai có thể độc quyền, độc
tôn, độc diễn. Hãy mở rộng
tấm lòng với trái tim biết cảm thông
biết thổn thức, biết thương
yêu, biết xót xa trên những đổ vỡ đau thương của dân tộc, bởi chỉ có như thế,
ta mới có thể tạo điều kiện cho một sự kết hợp rộng lớn của toàn thể dân tộc,
một điều kiện tất yếu để chiến thắng chủ nghĩa Cộng sản... "
(Chấn Hưng, số 8, tháng 12, 1986).
Từ ý
thức dân tộc, trong những truyện ngắn và truyện dài của Nhật Tiến, những nhân
vật của ông được tạo dựng không phải để mang những nhãn hiệu của bên này hoặc
bên kia, để đại diện cho phía miền Nam hoặc phía miền Bắc, lại càng không phải
để làm công tác tuyên truyền của những chế độ cũ tại miền Nam, mà nói cho cùng,
đó là những chế độ đắc tội với lịch sử của dân tộc, đã tiếp tay cho Cộng sản
chiếm nốt nửa phần cuối cùng của tổ quốc thân yêu. Do đó, có thể nói, Nhật Tiến
chỉ nhằm tạo dựng hai nhân vật điển hình. Một nhân vật bất kể xuất xứ từ đâu,
quá khứ như thế nào, mang nhãn hiệu gì nhưng hiện đang thể hiện hoài bão và
lý tưởng giải phóng đất nước và dân tộc ra khỏi vòng thống trị của cộng sản để
xây dựng một Việt Nam độc lập, tự do, thanh bình, thịnh trị và nhân bản. Nhân
vật thứ hai nhằm tiêu biểu cho chủ nghĩa cộng sản tàn bạo, lỗi thời, phi dân
tộc và những kẻ tiếp tay cho chúng. Hai nhân vật điển hình này không nhất thiết
phải là hai nhân vật biệt lập mà có thể được tạo dựng bởi nhiều nhân vật.
Hiểu
như thế, người đọc sẽ thấy trong tác phẩm Mồ Hôi Của Đá một truyện dài
mới xuất bản của Nhật Tiến, những nhân vật như Nguyệt, một nữ sinh viên Văn
khoa Sài gòn, đã mang lý tưởng và nhiệt huyết của nàng để mong phục vụ đất nước
sau ngày "giải phóng", nhưng cuối cùng vỡ mộng khi đụng với những
thực tế phũ phàng, bỉ ổi; như Năm Toả, một người vốn đứng trong hàng ngũ Mặt
Trận Giải Phóng, nhưng cuối cùng phải thốt lên tôi đi làm cách mạng, hy
sinh cả một đời, đâu có phải để thực hiện một xã hội như thế này !; như một người đàn ông trung niên,
đại úy trong Quân đội Việt Nam Cộng Hòa vốn đã đi trình diện cải tạo như những
sĩ quan khác, nhưng sau đó trốn trại và có mặt trong hàng ngũ những người muốn
xây dựng lại quê hương, thực hiện những ước mơ mà cả hai phía đều không thực
hiện được; cả ba nhân vật đó đã phối hợp để tạo dựng nên nhân vật điển hình thể hiện
lập trường và mơ ước chân chính của dân
tộc. Ngược lại, những nhân vật như Sáu Thu, một đảng viên cao cấp cộng sản
độc ác, dâm ô; như Vũ, một sinh viên Y khoa Sài Gòn, trốn ra bưng mang theo
nhiều nhiệt huyết và hoài bão nhưng rồi
một mặt sợ hãi, một mặt tự đồng hóa mình với chế độ mới, nên trở thành một loại
tay sai của Cộng sản; như Hồng Phát, một thương gia giàu có trước đây của Sài
Gòn, vì muốn tiếp tục quyền lợi và địa vị cũ nên đã cam tâm trở thành một thứ
ma cô cho Sáu Thu và những tên đảng viên Cộng sản cao cấp khác; cả ba cũng đã phối hợp để tạo nên hình ảnh
của một nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa cộng sản tàn bạo, lỗi thời, phi dân
tộc và những kẻ tiếp tay cho chúng.
Hiểu
như thế, người đọc sẽ thấy trong truyện ngắn Gặp gỡ ngày cuối năm , người
anh mang quân hàm Đại tá trong bộ đội Cộng sản Bắc Việt khi đến thăm người em
nguyên là sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa hiện đang bị "học tập
cải tạo", dù hình thức là Đại tá Cộng sản, nhưng tinh thần ông là tinh thần
của một người dân tộc, nói cách khác, một người đã phản tỉnh, đã quyết định dứt
khoát từ bỏ con đường bạo lực, căm hờn, sắt máu, phản dân tộc mà ông đã trót
đi suốt 30 năm qua và giờ đây ông đang "toan tính một cái gì mới
mẻ cho quê hương". Ông đã
nói với người em:
"Hai
chữ cộng sản hình như là một vấn đề ám ảnh
đối với nhiều người, trong số đó có
chú. Trong khi đó, thật ra đối với thế giới, nó đã trở thành lỗi thời. Nó lại
càng trở nên lỗi thời đối với những người đã tích cực tham dự vào cái guồng máy
ấy như tôi chẳng hạn. Nói khác đi, chỉ những thằng ngu thì cho tới bấy giờ
mới vẫn còn tin tưởng rằng chủ nghĩa
cộng sản sẽ đem lại ấm no và hạnh phúc cho nhân loại... Tôi cho rằng, gặp nhau
để rồi vẫn thù hận về nhau thì sự gặp gỡ chẳng mang lại ý nghĩa gì. Mà tại sao ta phải làm như thế trong khi mọi
sự đều đã đổi thay? Chú có một mơ ước về đời sống ấm no, hạnh phúc thì tôi
cũng vậy. Và tôi tin rằng nhiều người trên giải đất này cũng đều như vậy. Tại
sao không thể nhìn nhận nhau để toan tính một cái gì mới mẻ
cho quê hương? "
2) Quan niệm về Cộng sản:
Cũng
như tất cả những người chống Cộng khác, Nhật Tiến quan niệm Cộng sản là một
chủ thuyết ngoại lai, phi nhân và mâu thuẫn triệt để với mọi giá trị truyền
thống của dân tộc. Nhưng điều mà Nhật Tiến muốn nhấn mạnh và đặc biệt điều này
muốn hướng về những người ở trong hàng ngũ Cộng sản và "Mặt trận Giải
phóng", là phải tách biệt bản chất ngoại lai và xâm lăng của Cộng sản với
những chiêu bài dân tộc và giải phóng mà họ vẫn luôn luôn xử dụng để che đậy.
Thực tế không thể phủ nhận được là chính thực dân Pháp và các chính quyền độc
tài, bất công, tham nhũng, phi dân tộc tại miền Nam trước đây đã giúp phong
trào Cộng sản và công cụ của chúng tại miền Nam là "Mặt trận Giải
phóng" lớn mạnh. Điều này có nghĩa là trong hàng ngũ Cộng sản và "Mặt
trận giải phóng" trước đây đã có không ít những người mà hoài bão tha
thiết đầu tiên của họ không khác gì những hoài bão tha thiết của những thành
phần dân tộc: đánh đuổi thực dân Pháp để giành lại độc lập cho tổ quốc, tranh
đấu chống lại những độc tài, bất công, tham nhũng, thối nát và vọng ngoại để
mang lại tự do, no ấm cho đồng bào.
Từ
sau 1975 đến nay, gần 14 năm trôi qua, với hoàn cảnh đất nước mà Cộng sản vẫn
thường rêu rao: đã sạch bóng quân thù, không còn Pháp, không còn chiến
tranh, không còn "Mỹ Ngụy", một mình một cõi để xây dựng "thiên
đường xã hội chủ nghĩa". Nhưng chính quyền Cộng sản đã xây dựng được gì
? Không kể kinh tế quốc gia hoàn toàn suy sụp, đời sống dân chúng hoàn toàn lầm
than, tương lai mù mịt đen tối, điều mà dân chúng và cán bộ ý thức rõ ràng là
Việt Nam đang bị thống trị bởi một chủ thuyết và một chế độ ngoại lai, vong bản
chà đạp và hủy diệt tất cả mọi giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chính
đó là thực trạng mà những người trước đây từng tha thiết nuôi dưỡng hoài bão
giải phóng tổ quốc, mang lại tự do và no ấm cho đồng bào khi bước chân theo
Cộng sản hay vào "Mặt Trận" tỉnh ngộ. Nhưng tỉnh ngộ để buông xuôi
vì nghĩ rằng quá muộn, tỉnh ngộ để tự sát vì muốn chuộc lỗi xâm, hay tỉnh ngộ
để bước vào con đường dân tộc, cầm súng quay lại chống kẻ thù chung và xây
dựng một Việt Nam Mới độc lập, tự do, thanh bình, thịnh vượng và nhân bản. Con
đường nào đã mở ra cho họ? Hay chỉ có sau lưng là ngõ cụt, trước mắt là hận
thù?
Trong
một bài viết nhận định về khuynh hướng sáng tác mới của Nhật Tiến trước đây,
tôi đã chia xẻ và hoàn toàn tán đồng nội dung dân tộc chống ngoại xâm trong các
sáng tác mới đây của ông. Tôi đã viết:
"Chưa
một lần nào từ những ngày đầu chống Pháp ở thế kỷ trước, lực lượng dân tộc được
vận dụng một cách đầy đủ và được chính danh cũng như được vinh danh một cách
trọn vẹn và xứng đáng.
Sự
hiện diện bạc nhợc, yếu hèn nhưng chính thống và hợp pháp của những vị vua
cuối cìmg triều Nguyễn đã không những chỉ làm bình phong cho sự đô hộ của thực
dân Pháp mà tệ hại hơn, đã một thời làm suy yếu và ngăn cả sự tập hợp và vận
động lực lượng dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống Pháp.
-
Mối quan hệ chặt chẽ của quân chủ phong kiến, thực dân xâm lược và thể chế Quốc
gia, Cộng Hòa sau này tại miền Nam mà Bảo Đại, Ngô Đình Diệm là hai gạch
nối quan trọng đã làm miền Nam mất chính nghĩa và không thể tập hợp rộng lớn được
lực lượng dân tộc trong công cuộc chống Cộng, Sự gian xảo, quỷ quyệt và nham
hiểm của Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng sản
của ông trong sách lược núp sau chiêu bài giải phóng dân tộc khiến cho một
số không nhỏ tiềm lực dân tộc, vì
nhiệt tình yêu nước chống Pháp, đã chiến đấu bên cạnh hoặc bên trong hàng
ngũ Cộng sản để cuối cùng, tự đồng hóa hoặc bị đồng hóa như là những người
Cộng sản.
Nói
chung, với gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và trên 70 năm hiện diện của Đảng
Cộng sdn tại Việt Nam, bên cạnh những đổ vỡ đau thương do hai thế lực đó gây
ra, đã tạo nên một hoàn cảnh ngang trái, nghiệt ngã cho lực lượng dân
tộc mà trong đó không phải ai cũng có thể dễ dàng chọn lựa một con đường đi
thuần túy dân tộc để không ngã về phía này hoặc phía kia mà cả hai phía
đều là những thế lực phi dân tộc... " (Chấn Hưng số 11 & 12,
tháng 7, 1988).
(còn nữa)
Nói chung,nhiều điều xin đồng ý với nhà văn NT.nhưng xem ra ông muốn cân bằng hóa
Trả lờiXóalầm lỗi của lãnh tụ 2 miền cho lý luận có vẻ công bình,do đó đã quy tội không chính xác
về ông Diệm ở chổ ông QUÊN đi nguyên nhân chính là Mỹ,tác nhân quan trọng nhất làm
mất chính nghĩa của miền Nam hay nói rõ là VNCH.,chứ không phải ông Diệm.
Chính Mỹ vì muốn giải quyết chiến tranh VN.mà không thất bại như chiến tranh Triều Tiên,
nên đã nhảy vào trực tiếp chiến đấu với CS.nhưng sau khi phá nát chính nghĩa cùng phép
nước kỷ cương VNCH.thì mới nhận ra sự vô vọng chiến thắng của mình rồi "bỏ của chạy
lấy người" song còn nhẫn tâm bó chân bó tay đồng mình nhược tiểu để mặc cho phe CS.
thôn tính,hầu tiến hành một chiến lược khác ngăn chận CS.
Tôi cũng thấy không có lý do gì để kết tội Bảo Đại làm mất chính nghĩa vì vai trò của vua
này đã hết khi ông Diệm trở thành lãnh tụ miền Nam.Điều này nhà vua cũng chẳng phàn
nàn hay lên án gì ông Diệm vì nhà vua biết người biết ta và biết tình thế phải vậy.
Sau này chính Mac Namara cũng thú nhận là Mỹ sai lầm,kể cả ông đã không hiểu rõ tinh
thần bảo vệ độc lập chống ngoại xâm của người VN.Tôi nghĩ Mc Namara nói sai lầm ngay
chổ này và lúc này,chứ không phải miền Bắc như có người suy diễn,có lẽ họ cho đó là lời
nói thật của ông ta khi gặp tướng Giáp,chứ không phải là lời đãi bôi trong ngoại giao !