(tiếp theo)
***
Sau 30-4-1975,
tôi không có cơ hội đi thoát và đã ở lại Việt Nam.
Trong hơn 4 năm trời ròng rã, tôi đã chứng kiến hay đã trải
qua khá đầy đủ những hệ lụy của một con người sống trong cái mô hình xã hội do
những người Cộng Sản tạo dựng nên. Ðấy là một xã hội hoàn toàn mất tự do, đầy dẫy
những bất công phi lý và toàn bộ guồng máy điều hành đất nước đã được đặt trong
tay những con người ngu muội, thiển cận, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và sẵn sàng
áp đặt mọi thứ luật lệ bất công lên đầu các tầng lớp quần chúng để dễ dàng trấn
áp.
Cho nên cùng với hàng triệu con người VN khác, tôi đã xuống
thuyền đi tìm Tự do !
Nhà văn Phan Lạc Tiếp, vốn là một sĩ quan Hải Quân, đã từng
ra khơi ở Thái Bình Dương, khi nhắc đến biển, ông không khỏi đưa ra những hình ảnh
hãi hùng:
“Có những đêm trời biển đen đặc liền nhau như một miếng thạch,
sóng gió ầm ầm, con tàu dài trên trăm thước, có thể chở cả trăm chiếc xe GMC,
khi tàu cỡi trên ngọn sóng, rồi bất thình lình rơi thõm xuống trũng sóng, hẫng
đi, toàn thân tàu rùng rùng chuyển mình như có thể gãy ra làm đôi. Khi mũi tàu
chúi xuống, lái tàu bị hổng trên không, con tàu chơi vơi, bánh lái nhẹ tênh,
mũi tàu chao đi, mất hướng trong mấy phút. Những phút như thế, dù đã dự trù, chằng
buộc, vẫn không thiếu những đồ vật rơi đổ. Ðôi khi dầu lộn nước, máy tắt, đèn tắt.
Cả tàu tối om trong năm bảy phút. Dù biết mọi sự sẽ được sửa chữa, bình thường,
nhưng không phải những người trên tàu không lo sợ. Vì thế tôi nghĩ rằng chỉ những
người không hiểu gì về biển mới dám liều đi như thế. “
Thế mà chúng tôi đã ra đi, không phải bằng con tầu dài trên
trăm thước chứa nổi cả hàng trăm xe vận tải, mà trên những con thuyền mỏng manh
dài không quá hai chục thước, chật ních người, chỉ ngồi bó gối cũng đã hết chỗ.
Và cũng đã có nhiều người ra đi trong tình trạng như thế,
không chỉ một lần mà ba, bốn lần, thậm chí cả trên chục lần. Không phải là họ
không biết những hiểm nguy đang chờ đón họ ở ngoài khơi mù mịt. Nhưng họ chỉ có
một tâm niệm duy nhất là trốn chạy khỏi cái xứ sở, cái quê hương của chính họ vốn
đang nằm trong vòng kiềm toả của chế độ CS.
Thế mới biết, khi đem lên bàn cân, chế độ toàn trị của Cộng
sản còn khủng khiếp hơn nhiều. Bởi vì đi ra biển, người ta có thể chết trong
khoảnh khắc, nhưng ở lại đất nước trong thời điểm đó, con người chỉ thấy cái
tương lai sống lầm than và cái chết mòn mỏi kéo dài suốt cả một đời người.
Và đúng như đã có thể dự đoán trước, đoàn người chúng tôi ra
đi vào ngày 19 tháng 10 năm 1979 đã gặp và chịu đựng rất nhiều thảm hoạ. Bốn lần
bị cướp biển lục soát lấy hết mọi vật dụng quý giá, 21 ngày mòn mỏi bị lôi kéo
vào đảo Kra trong Vịnh Thái Lan sống đầy đoạ trong đói khát, tủi nhục, thường
xuyên bị hành hạ cho đến khi được Cao Ủy Ty Nạn Liên Hiệp Quốc cứu ra.
Tôi không bao giờ quên cái buổi tối hôm 18-11-1979, ngày đầu
tiên sau khi chúng tôi được đưa trở lại đất liền bằng con tầu do ông Theodore
Schweitzer, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tại Thái Lan thuê ra đón chúng tôi từ đảo Kra về
tỉnh Songkhla, miền Nam Thái Lan.
Tôi đã ngồi bó gối dưới ánh sáng của ngọn đèn néon mờ mờ toả
xuống hàng hiên phía sau trạm cảnh sát Quận Pakpanang, lòng ngổn ngang trăm mối
vì không biết rồi đây tương lai mình sẽ đi về đâu. Dù cơ thể đã suy yếu sau nhiều
ngày gian khổ nhưng đầu óc tôi vẫn còn khá tỉnh táo để có thể nhớ lại những gì
đã xẩy ra sau 10 ngày lênh đênh trên biển và trong 21 ngày sống trong vòng kiềm
toả của đám hải tặc lui tới trên đảo Kra. Biết bao nhiêu nỗi niềm cảm xúc đã
trào dâng trong lòng, nhưng trên tất cả hầu như vẫn là một sự hối thúc mạnh mẽ,
thúc đẩy tôi phải tìm mọi cách thông báo chuyến đi hãi hùng của mình cho thân
nhân, cho bạn bè và đồng bào trong nước được hay, vì vào thời điểm đó đang còn
rất nhiều người chuẩn bị ra đi. Ðồng thời tôi cũng muốn đánh động lương tâm thế
giới để những thảm kịch cướp bóc, hãm hiếp trên biển cả phải chấm dứt hay ít ra
cũng có cơ may giảm thiểu.
Dưới ánh sáng chập chờn và trong cái mái hiên lộng gió ấy,
tôi đã viết bài tường thuật: “ Hành Trình Ði Tìm Tự Do Qua Ngả Thái Lan” mà sau
này nó đã được công bố rộng rãi trên nhiều cơ sở báo chí, truyền thông và cũng
đã được Uỷ ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển cho in trong cuốn Hải Tặc Trong Vịnh
Thái Lan ấn hành năm 1981.
Ảnh : Nhà văn Nhật Tiến đặt chân lên đảo Kra
Ảnh : Nhà văn Nhật Tiến đặt chân lên đảo Kra
Bài viết đã có trong tay, nhưng phổ biến nó thì phải kể tới
sự hỗ trợ đầu tiên của những người bạn mà tôi rất thân quý: Nhà văn Lê Tất Ðiều
và nhà văn Phan Lạc Tiếp. Họ chính là cái phao đầu tiên mà tôi bám víu để thực
hiện được điều mình muốn làm, bởi nếu không có sự tiếp tay tận tình của họ, tôi
chẳng thể một mình cáng đáng vì sau vài ngày tạm trú ở trạm cảnh sát, chúng tôi
đã được đưa vào nhập trại tỵ nạn SongKhla, tài sản của tôi khi đó chỉ có một
chiếc quần đùi đã rách mướp, một cái áo nỉ cộc tay và một đôi dép cao su một
bên nhựa mầu xanh, một bên nhựa mầu đỏ, cả hai bên đều đã đổi mầu bạc phếch do
tôi đã lượm được đâu đó ở ven rừng quanh đảo Kra. Như vậy thì làm sao tôi có
phương tiện để giao dịch với thế giới bên ngoài. Cái áo nỉ cộc tay cũng là thứ
tôi lượm được trên đảo mà nhân đây tôi xin phép được viết thêm đôi dòng để làm
sáng lại một thứ tình cảm tốt đẹp mà tôi gọi là tình người.
Hồi mới bị kéo vào đảo Kra, tôi còn mặc một cái áo len rất dầy,
rất ấm, và nhờ nó, tôi đã trải qua được những đêm ngủ gần bãi biển, chẳng có
mái che trên đầu, mỗi đêm trời mưa hai ba trận, phải chạy vào gốc cây rừng ẩn
trú trong khi gió lộng thổi rào rào quất vào mặt những hạt mưa lạnh buốt. Thế rồi
có một hôm tôi bị một thằng hải tặc nhìn thấy cái áo len còn tươm tất, nó liền
bắt tôi lột ra để cho nó lấy mang đi. Những ngày sau đó, tôi lạnh run những lúc
đêm về, nhưng may mắn sao, vào một lần đi quanh đảo, tôi bắt gặp cái áo nỉ cộc
tay của ai đó vứt ngay trên bờ cỏ. Tôi đã lượm lên và mặc nó suốt những ngày
còn lại trên đảo và cả hàng tháng trời sau khi nhập trại Songkhla, cho mãi tới
lúc có tiền của thân nhân tiếp tế, tôi mới mua được cái áo ấm khác thay thế. Và
cho tới khi đó, một vị phụ nữ đi cùng ghe đã tới gặp tôi. Bà cho biết cái áo nỉ
ấy là của bà, bị hải tặc lấy đi, nhưng sau chắc mặc không vừa nó vứt đi và vì
thế tôi lượm được, nhưng không rõ là áo của ai. Những ngày sống trên đảo, vị chủ
nhân của cái áo ấy đã nhìn thấy tôi mặc, nhưng thấy tôi ốm yếu, trời lại lạnh,
nên bà lẳng lặng nhường cho tôi mặc. Nay mọi sự đã ổn định, bà xin lại chiếc áo
để giữ làm kỷ niệm. Tôi đã ứa nước mắt trả lại cho bà, và những ngày sau, tôi vẫn
còn khóc được mỗi khi nghĩ đến tấm lòng nhường nhịn chia sẻ của bà, đã dành cho
tôi ở trong cái hoàn cảnh mà ai nấy đều đói, lạnh và yếu đau hết.
Tình người quả là thứ quý giá biết bao và không một thứ vật
chất nào có thể so sánh được. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hoạn nạn, nó lại là một
thứ hiếm hoi, cái không hiếm hoi dễ gặp thì lại là sự dửng dưng, tàn nhẫn như
thái độ của toán lính hải quân Thái Lan đối với chúng tôi, chỉ một ngày sau khi
chúng tôi bị kéo vào đảo Kra.
Ðấy là toán tuần tiễu của hải quân Thái đi trên chiếc tiểu
đĩnh mang số hiệu 15, xuất hiện ở ngay ngoài khơi đảo Kra vào đúng một ngày sau
khi chúng tôi đặt chân lên đảo. Họ đã dùng xuồng cập đảo để gặp chúng tôi, hỏi
han ghi chép đủ điều và sau cùng hứa hẹn sẽ quay trở lại trước khi bỏ đi.
Nhưng họ không bao giờ trở lại hết. Họ cũng chẳng màng đến
việc thông báo cho Cao Uỷ Tỵ Nạn ở Thái biết có sự hiện diện của 81 thuyền nhân
trên đảo Kra. Một sự tàn nhẫn và lạnh lùng đến độ khó hiểu !
Trong đoàn người đi cùng thuyền với tôi còn có cặp vợ chồng
ký giả Dương Phục và Vũ Thanh Thủy. Phục làm phóng viên của đài Phát Thanh Quân
Ðội. Thuỷ làm ở đài Tiếng Nói Tự Do. Họ có nhiều đầu mối giao tiếp với các ký
giả ngoại quốc, đặc biệt là ở Pháp. Vì thế, sau khi toán hải quân Thái Lan đã
nuốt lời hứa, chúng tôi đành phải tìm một phương cách khác. Một lá thư ký tên
chung Vũ Thanh Thuỷ và Nhật Tiến viết cho ông Felix Bolo, Chánh văn phòng đại
diện Pháp Tấn Xã ở Bangkok đã được gửi tay mang đi, qua một ngư phủ có mặt trên
một trong khoảng trên 50 con tầu hải tặc bu quanh đảo. Nội dung lá thư ấy viết
bằng tiếng Pháp, tạm dịch như sau:
Kính gửi :
Ông Felix Bolo, Chánh văn phòng
Pháp Tấn Xã (AFP)
Bangkok - Thái
Lan
Chúng tôi ký tên dưới đây là VŨ THANH THỦY phóng viên Ðài Tiếng
Nói Tự Do (VOF) Việt Nam, và NHẬT TIẾN, nhà văn miền Nam Việt Nam, Phó chủ tịch
Trung Tâm Văn Bút VN, Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế (P.E.N Club International),
thuộc nhóm 81 người tỵ nạn (có 20 trẻ em và 25 phụ nữ) rời VN đi tìm tự do,
trôi giạt trên biển 10 ngày và tới đảo Kra trong vịnh Thái Lan (cách quận
Pakpanang khoảng 6 giờ tầu chạy) từ hôm 29 tháng 10 năm 1979.
Hôm nay, ngày 13 tháng 11, tức đã là ngày thứ 15 chúng tôi sống
trên đảo này trong điều kiện khủng khiếp, khốn cùng: không thực phẩm, không thuốc
men, tất cả những phụ nữ đều phải trốn tránh ở trên núi hay trong rừng vì sợ
hãi bọn hải tặc Thái Lan. Cái chết vì sự đói khát, lạnh lẽo và sự bạo hành đã
đe dọa chúng tôi từng ngày (đứa con gái của Vũ Thanh Thủy mới sinh được có 4
tháng).
Xin hãy giúp chúng tôi.
Xin hãy thông báo càng sớm càng tốt tin tức của chúng tôi tới
tất cả các hãng thông tấn, tới Trung Tâm Văn Bút Thái Lan, luôn cả Hội Hồng Thập
Tự Quốc tế.
Xin đừng để chúng tôi chết trên đảo này trong sự bị bỏ rơi
và khốn cùng.
Xin thành thật cám ơn ông.
Xin gửi lời chào thân hữu của chúng tôi tới ông JEAN CLAUDE
POMONI (báo Le Monde) và tới cô MARIE JOANIDIS.
Viết
tại đảo Kra ngày 13 tháng 11 năm 1979
VŨ
THANH THỦY - NHẬT TIẾN
(còn tiếp)


Văn của bác Nhật Tiến đọc thích thật. Cả nhà cháu 8 anh chị em ai cũng mê sách của bác. Mẹ cháu 90 tuổi nhưng vẫn muốn nghe đọc quyển "Chim hót trong lòng" hàng ngày
Trả lờiXóa