Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, ngày 31 tháng 5 năm 2012

VỀ MỘT THỜI HÀNỘI (KỲ 42)


    

               
                                    (tiếp theo)

 - Em nhận điện anh hôm nào?
  Tôi lắc đầu, làm sao nhớ được, ngay cả ai đưa bức điện, tôi cũng không nhớ, chỉ biết chắc tôi đã nhận, nếu không, tôi  không có mặt ở đây. Tôi nhận ra mình dài dòng quá. Sau phút im bặt, tôi rụt rè hỏi anh:
 - Em nói thế đúng không?
  Điền lại nhìn vào mặt tôi, gật đầu , đúng, em nói đúng lắm, bây giờ anh đưa em đi ăn, 3 giờ chiều mới có xe xuống dưới đó. Tôi ngoan ngoãn leo lên sau xe máy, lơ đãng nhìn con đường dẫn vào thành phố. Vẫn dòng người và xe hối hả, mỗi người như đuổi theo mục tiêu riêng và chỉ chung nhau tín hiệu đèn xanh đỏ ở mỗi ngã tư. Điều đó làm tôi dễ chịu, tạm quên cảnh ngộ đang  gánh chịu, hy vọng nhìn thấy Biên Cương trên đường phố. Không biết anh nghĩ sao khi biết tai họa của tôi, chắc cũng giống Điền vậy thôi.
Điền chọn quán ăn vắng vẻ, tuy nhiên vẫn bị quấy rầy bởi chú bé bán báo, người đàn bà bán vé số và cụ già hành khất. Tôi ngoan ngoãn vâng theo yêu cầu của tất cả, khiến Điền sốt ruột đuổi họ đi. Bây giờ, trong lúc chờ ăn, chỉ còn lại tôi và Điền trong quán vắng. Anh lại nhìn tôi thương hại. Anh nhẹ nhàng an ủi, khuyên răn và trong lúc anh nói tôi cứ nhìn con ruồi căng bụng đậu trên bàn. Tưởng tượng ra những nơi nó bay tới, tôi rùng mình , và khi nó cất cánh bay vút lên, tôi nhắm nghiền cả mắt lại.
 - Thôi, em đừng buồn nhiều, người ta có số cả đấy.
 Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:
- Có thực Bình rơi xuống sông không ?
- Em còn chưa tin chuyện đó ? Anh ấy rơi trong lúc kiểm tra  thanh dầm cầu.
 Tôi trừng mắt :
  - Tại sao không phải là anh mà lại là anh Bình ?
 - Em hỏi gì kỳ cục thế?
 - Em xin lỗi, em xin lỗi, em hoang mang quá. Tai họa rơi xuống đầu em đột ngột. Em còn nhớ anh đặt câu hỏi: “ Bạn sẽ làm gì khi xảy ra cơn hồng thủy đó?” Em biết làm gì bây giờ?
Mỉa mai thay, đúng lúc đó, người ta bưng tới các món ăn, và Điền dục tôi y hệt như câu trả lời “vét hết tiền đi ăn đặc sản “ của chồng tôi hai năm trước đây.
 - Trước hết em phải ăn lấy sức đã, anh gọi toàn đặc sản cả đấy.
Anh ép tôi ăn những món ngon nhất, lên giọng an ủi:
 - Ai rồi cũng có một “cơn hồng thủy”, ngay cả đến người già, cái chết vốn còn là một tai ương. Cơn hồng thủy của em tới đột ngột vậy có khi lại dễ chịu hơn báo trước.
 Tôi cười héo hắt, không phải vì lời an ủi ngớ ngẩn của Điền mà tôi vẫn còn le lói hy vọng Bình được cứu sống. Cho tới lúc này tôi vẫn chưa quen cảnh ngộ mặc dù lúc nào nó cũng như cái kim xoáy vào đầu tôi đau buốt. Tôi chưa chịu tin rằng mọi chuyện đang diễn ra là có thực, “Bình ngã xuống sông”, sao vô lý thế, xưa nay anh rất cẩn thận, hay chắc một người nào đó trùng tên.
 Tôi cố nhai vài miếng lấy sức, quả thực suốt mấy hôm nay, kể từ khi tai họa giáng xuống đầu, mẹ ép lắm, tôi cũng chỉ ăn qua quýt bát cháo hoặc quả chuối, vị giác dường như tê liệt, nhai gì cũng đắng ngắt. Điền đã cạn hai chai bia. Hình như thấy tôi không sốt ruột nên anh cũng chẳng vội gì. Anh kể công việc của Bình trong này, nhiều từ kỹ thuật lạ tai tôi không hiểu, chỉ biết vào đây anh như cá gặp nước, làm việc như  cái máy mở hết công suất.
- Anh có thấy anh Bình nhận được thư em không?
 - Không, anh không thấy.
 Trong lá thư dày ấy, tôi báo tin mong ước muôn thuở của Bình đã  toại nguyện, anh sẽ được làm cha. Tội nghiệp, rất có thể chẳng bao giờ tin mừng đó tới được anh. Bỏ qua chuyện lá thư, Điền vẫn nói về công việc của Bình.
- Lẽ ra Bình không cần phải leo trèo thế, việc đó đã có cán bộ đo đạc khảo sát, không hiểu sao anh tích cực thế?
- Tại anh ấy không còn phải thiết kế những chiếc cầu giấy .
Điền trợn mắt:
- Những chiếc cầu giấy nào?
 Tôi lặng thinh, chuyện đó của riêng tôi và Bình. Tôi lơ đãng nhìn cái đầu gà nằm nghiêng trên đĩa thịt rán, mỏ vẫn ngậm một nhánh hành xanh. Lát nữa, xong câu chuyện về Bình, hẳn Điền sẽ gắp tới nó.
 - Anh không hiểu sao Bình vào đây? có ai bắt đâu? Và cũng có bổng lộc gì đáng bỏ công ra thế ĐÂU?
- Có rất nhiều người bỏ cả cuộc đời mà chẳng nhằm tới bổng lộc gì.
Điền nhếch mép cười nhạt, chắc anh tưởng tôi nói tới những anh hùng cách mạng, sự thực, tôi nghĩ tới Hồng Loan và Hoàng Minh, họ cũng bỏ ra rất nhiều công sức để vẽ và làm thơ nhưng có nhằm danh lợi gì đâu.
Điền đã gắp tới cái đầu gà, anh thở dài :
 - Không may, khi rơi Bình va phải những thanh sắt...
Tôi cau mặt, bực tức. Sao lắm cái không may cùng tới với Bình thế? Bất giác tôi nhớ tới gương mặt anh sau kính ô tô, bàn tay giơ lên chào lúc xe chạy đi. Trời ơi, nếu tôi không nói “bon voyage...bon voyage...” liệu anh có tránh được rủi ro ấy không? Hay cái số anh thế và định mệnh đã báo trước qua câu nói gở miệng của tôi? Không thể biết được, không một nhà bác học nào, không một cái máy tính điện tử tối tân nào trả lời  được. Câu hỏi sẽ còn ám ảnh tôi  tới khi chết, chắc thế...
- Liệu anh Bình có qua được không anh?
 Sau cùng, tôi đã buột miệng hỏi cái điều tôi chỉ muốn biết khi gặp Bình. Điền uống nốt cốc bia, gật gù:
 - Anh cho rằng... còn rất nhiều hy vọng...
Tôi không muốn quấy rầy anh, vài giờ nữa thôi, tôi sẽ biết rõ còn hy vọng hay đã tuyệt vọng. Lúc này, tôi chỉ muốn quên đi nỗi lo thường trực, lúc nào cũng bấu vào đầu đau buốt. Tôi cố nghĩ sang chuyện khác, chẳng hạn con ruồi lúc nãy bây giờ đã bay tới đâu, cuốn sách trong tay cô bán hàng đang cắm cúi đọc kia là sách gì, tuy nhiên, cái cách này cũng chẳng làm tôi lãng quên tai họa mấy tý, nó vẫn ở trong đầu và luôn chứng tỏ sự có mặt của nó bằng hình ảnh của Bình nằm trên giường cấp cứu, toàn thân cuốn đầy băng .
Điền trả tiền xong kéo tôi ra khỏi quán. Chiếc xe máy chạy qua  quảng trường, ở đó, tôi nhìn thấy pho tượng đồng giơ mấy ngón tay như ra hiệu nhưng tôi chịu không thể đoán được vậy là may hay rủi? Chiếc xe vẫn chạy rất nhanh, vòng vèo những đường lượn gấp qua phố đông. Chắc do hai chai bia chứ không phải vì công việc  Điền mới chạy xe điên khùng thế. Thôi kệ, giờ có chết dưới gầm ô tô, với tôi chẳng có gì quan trọng.
Điền chạy xe vào giữa sân cơ quan Bình làm việc. Tôi chóng cả mặt khi mọi người trong nhà chạy ra tíu tít chào hỏi và nhìn tôi ái ngại. Điền giới thiệu tôi với ông Phân viện trưởng, ông Trưởng phòng tổ chức, ông Trưởng phòng thiết kế... tôi hoa cả mắt chẳng phân biệt được ai với ai, chỉ thấy họ có vẻ gì đó giông giống mấy ông thủ trưởng Nhà xuất bản của tôi.
 -  Mời cô dùng tạm ly nước ngọt, chút xíu nữa xe tới, ta đi liền...
Một bà được giới thiệu là cán bộ hành chính đưa tôi và Điền vào một căn buồng sang trọng. Vật đập vào mắt trước tiên là bức tranh màu lòe loẹt treo trên tường cũng cũng vẽ một cô gái bế con mèo giống bức tranh cổ cụ Ngh.vẽ, truyền lại từ đời ông tôi. Bức tranh làm tôi thoáng nhớ tới căn phòng ngoài Hà Nội, xa xôi quá rồi, tôi đã cách nó ngàn trùng cây số. Tôi chăm chú nhìn bức tranh và chợt khó chịu, nó chẳng gây cho tôi chút bồi hồi, êm ả nào như bức tranh của cụ Ngh., ngoài sự khoe khoang một cách lộ liễu các màu sắc.
 Bà cán bộ hành chính hỏi han chuyến bay buổi sáng, kể về thiện cảm của mọi người với Bình, an ủi tôi cố gắng chịu đựng, mọi chuyện rồi sẽ qua đi cả. Tôi ngoan ngoãn lắng nghe và chỉ trả lời bằng những câu thật ngắn. Tôi chỉ mong xe tới ngay để được ngủ gật dọc đường, thoát câu chuyện ngày càng say sưa của bà.
- Cô vào đây từ năm 54, ấy thế mà từ ngày giải phóng vẫn chưa có dịp ra thăm Hà Nội.
- Cô nên đi một chuyến.
- Nhất định thế rồi. Ngày xưa cô ở phố Hàng Bông lờ đấy, đi một quãng là tới chợ hàng Da...
Vào lúc khác, nỗi nhớ Hà Nội của bà rất có thể làm tôi cảm động và sẵn sàng trả lời bà trường nữ học Sainte Marie hiện còn không, bánh cuốn Thanh Trì chấm nước mắm cà cuống ăn với giò lụa, chả quế vẫn được các bà bán rong đội trên đầu đi khắp phố phường Hà Nội ... Nhưng lúc này, tôi chỉ còn đủ sức chống lên đôi mi khỏi ngủ gật. May thay tiếng còi xe hơi đã cứu tôi, bà cán bộ hành chính bỏ ra ngoài và khi tôi chưa kịp hết mừng, bà đã quay vào báo tin có xe và bà sẽ tháp tùng tôi trong chuyến đi này. Thôi kệ, tôi nép vào ghế sau, kệ Điền ngồi trước gà gật trong hơi rượu, kệ bà hành chính loay hoay bên tôi, sắp xếp các gói bọc, kệ anh lái xe đang nhìn tôi qua kính hậu, chân vẫn đạp ga cho xe chạy nhanh, suốt con đường thiên lý. Tôi cố nhắm mắt ngủ, chẳng phải vì cần lấy sức sau chuyến bay mệt nhọc, tôi cần ngủ để quên mọi sự, khỏi tham gia vào nỗi chờ đợi khắc khoải của tôi và mọi người mà chiếc xe con đang cố rút ngắn lại.
  Anh lái bất chợt ngoái xuống:
  - Tại sao không đưa ông ấy về Sài Gòn?
  - Về sao được - tiếng bà hành chính, phải cấp cứu tại chỗ rồi đưa tới bệnh viện gần nhất.
  - Bây giờ có loại xe vừa chạy vừa tiếp máu, tiếp oxy cho bệnh nhân được đấy.

                                    (còn tiếp)

Thứ Tư, ngày 30 tháng 5 năm 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 42)


                                (tiếp theo)



Không biết nghĩ tới thời cả dân tộc phải gọi một “ông trẻ” mới ngoài 50 bằng “bác” xưng cháu, Nguyễn Khải có thấy “nực cười” như vậy chăng ?
Trong đám  rước đón cha, có ông trùm họ An Cựu, “đội khăn xếp, áo thâm dài, đi giày mũi nhọn, lại cắp cả ô nữa mà trời vẫn nắng ráo”  liền bị chê cười “Ông trưởng khu lên hầu cụ lớn  đấy à ?”. Để biến việc đón rước cha thành một vở hí kịch, ông nhà văn cho ông trùm An Cựu đi tới trước mặt cha “ quỳ hẳn gối vái một vái , ông hổn hển đứng dậy vái thêm một vái nữa và cứ bước giật lùi” , chẳng ngờ “ gót giày lại dẫm ngay vào bàn chân bà trưởng hộị khấnkhiến bà đang véo von chúc thày cả liền kêu thét như bị ai cấu, dùng cả hai tay ấn mạnh ông trùm ra một bên, miệng nói the thé : Mắt mù hay sao mà giẫm nát cả chân tôi”
Bôi bác kiểu “hề chèo“ vậy thật thô thiển và tiểu nhân . Chưa hết, khi con chiên còn đang xúm xít đón cha Thư thì “ một tiếng gọi hết sức bất ngờ , hết sức rành rẽ :” Anh Thư”. Cả mọi người chết lặng vì tiếng gọi quá sức láo xược của một đứa nữ nào đó…”. Gọi tên cúng cơm của cha bằng “anh” ngay giữa lễ đón tiếp, lại do giọng nữ rất âu yếm thì quả bằng trát bùn vào mặt cha giữa lúc linh thiêng, long trọng nhất. Thế là cả đám rước biến thành một đám trò . “Trong nháy mắt , những tiếng cười bị dồn nén luồn lỏi khắp các nhóm người , đến nỗi các chức dịch hàng xứ đứng hầu cha cũng không dám ngước nhìn vị chủ chăn, e rằng chính mình cũng khó giữ được sự kính cẩn cần phải có. …”
Dùng chuyện “trai gái’ bôi bác linh mục là một trong những “sở trường” của Nguyễn Khải. Khi có tiếng người nữ gọi tên cha âu yếm như vậy, lập tức ông trùm An Cựu “làm ra vẻ bầy tôi sốt sắng “ hò hét :
Các người bị ma ám quỷ xui cả sao dám hỗn láo thế ? Đứa nào gọi tên cha trước ? Đứa nào ? Là con cái nhà ai để tôi thưa với cha phạt nó. Nó là đứa nào ?”
Thật chẳng ngờ đứa con gái đó lại là thị Thảo, con gái của chính ông làm “đám đông cười vỡ ra. Họ không dám cười linh mục mà chỉ cười cha con ông trùm An Cựu nên có thể cười thật thoả thuê” làm ông trùm trợn mắt :
“Chúng bay đừng có bỏ vạ cáo gian mà sa xuống hoả ngục đời đời. Nhà tao mấy đời thờ phượng Chúa…”
Lại cười , cười như thể đang xem vở tuồng, vở chèo gặp một vai đắc ý. Rồi họ nói chen vào như nói đế :
“ Đời ông chỉ biết thờ Chúa, chứ con gái ông chỉ biết thờ các cha thôi…”
Đám đông vỗ tay tán thưởng màn kịch cương, lời lẽ đã hay mà vai diễn cũng hay…”
Than ôi, ở một xứ công giáo toàn tòng như Bùi Chu, Phát Diệm liệu có cái cảnh con chiên đón tiếp đức cha linh hồn về xứ mình hỗn xược như vậy chăng ? Ông nhà  văn Nguyễn Khải quả đã khéo xuyên tạc, biến lễ nghi trang trọng của người ta thành trò hề rẻ tiền
Cô Thảo, con gái ông trùm  An Cựu đã cả gan gọi tên cúng cơm của cha giữa đám đón rước, về nhà  còn chớt nhả với bố :
“Ông cụ mới tới nom trẻ đẹp quá, bố ạ…chúng con chỉ thích xem người chứ không xem lễ…”
Ong bố chửi :
“ Con nhà  vô phúc, rồi mày kéo cả bố mẹ xuống hoả ngục với mày thôi…”
Nó toét miệng cười :
“Xin mời các cụ lên thiên đàng hầu Chúa, còn con xin đi theo cha xuống hoả ngục?”
Bịa ra con gái một ông trùm đạo cả gan mang đấng chăn chiên ra bỡn cợt ngay cả với bố mình , quả thật ông nhà văn đã tìm ra một hình ảnh quá sinh động diễn tả sự suy đồi của đạo Thiên Chúa tại một xứ toàn tòng. 
Công việc đầu tiên của cha mới là xem xét “bình Mình Thánh, chén đĩa, chân đèn, ảnh tượng, khăn bàn, khăn thánh…”. Buồn cho cha, chẳng có vật gì ưng ý, “tất cả đều cũ kỹ, sứt vỡ, hôi mốc, khập khiễng như nhà vắng chủ đã lâu ngày…”. tâm sự cha trẻ lúc này thật ngao ngán “một ông linh mục quá già, một đàn chiên quá đông, thế tất việc chăm sóc phải biếng, sự giảng dậy phải nhác…Công lao vun trồng vườn nho của Chúa suốt mấy chục năm của các đấng bậc  đi trước , rút lại tay không ?”.
Ôi chết chết, cứ như diễn tả của ông nhà văn thì quả Thiên Chúa giáo đã đến thời mạt đạo. Gia sản “cha già “ để lại cho “cha trẻ” quá èo uột”, cái trách nhiệm gây dựng lại việc đạo cha trẻ phải gánh vác quá nặng nề. “Gai góc lại mọc đầy như thủa ban đầu và dây leo đã sắp bịt kín cả ảnh tượng. Người kế nghiệp trẻ tuổi sẽ bắt đầu công việc khai phá từ đâu ?”
Nếu thực sự công giáo trở lại thời vua Tự Đức vậy thì không thấy ông nhà văn chỉ ra ai đã gây nên tình trạng hoang tàn vậy mà chỉ thấy ông cảnh báo linh mục :
Nhân nhượng với đời hay hay đối mặt với đời ? Hoặc giả có việc phải đối mặt và cũng có việc phải nhân nhượng ? Là người anh em tốt mà vẫn là người chăn dắt tốt. Cười vui với tất cả mà vẫn chỉ huy được tất cả. Đã có giáo sĩ nào trong địa phận biết dung hoà lề luật của nhà Chúa với lề luật của thế tục chưa ? Chưa một ai thì phải. Người được toà giám mục hài lòng thì chính quyền căm ghét. Người được chính quyền chiều chuộng thì Tòa  giám mục phải đề phòng. Hoặc là đầu này hoặc là đầu nọ, tìm được một chỗ đứng vững chắc ở quãng giữa thật khó lắm thay…”
Nguyễn Khải coi mối quan tâm lớn nhất của linh mục là làm sao dung hòa Tòa thánh và Nhà nước để giữ vững cái ghế linh mục chứ chẳng  phải chăm lo phần hồn cho con chiên. Vậy khác nào “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử “, lấy Chủ tịch huyện mô tả cha xứ ?
Nhận định về mẹo xử sự giữa cha cố và chính quyền này đã được nhà phê bình quốc doanh Vương Trí Nhàn nâng lên thành “triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội “? Phình bụng quá cỡ vậy không khéo vỡ bụng ếch mất thôi .
Ngày làm việc đầu tiên, cha Thư như bị dội thùng nước lạnh khi gặp người giúp việc thân cận nhất của mình : ông chánh trương xứ vì “ông ta già quá , ốm yếu quá , kèm nhèm và ngu tối thế nào ?”. Và lạ chưa, câu chuyện đầu tiên giữa hai người lại là …tranh luận về cải cách ruộng đất xoay quanh chuyện cụ Thượng trong làng, bỏ tiền xây cất mấy cái nhà thờ sau bị cách mạng xử lý. Ong linh mục nói :
“Địa phận ta còn mắc nợ với Ngài nhiều lắm…”
Ong chánh trương cãi :
“ Thưa cha ông ấy còn mắc nợ chúng con rất nhiều…”
Ong cha trẻ gườm gườm nhìn người giúp việc :
“ Ruộng đất của người ta, cơ nghiệp một đời của người ta một sớm một chiều mất sạch . Thế còn chưa đủ khổ sở ư ?”
Ông chánh trương nói nhỏ nhưng bướng bỉnh :
“ Cái khổ cả trăm gia đình chẳng ai biết đấy là đâu. Cái khổ của một nhà lại như chiều ai oán. Cũng là tôi tớ của Chúa mà…”
Người đọc không khỏi buồn cười cái nhân vật “chánh trương” này nói năng chẳng khác gì Bí thư xã. Vậy chắc ông là “chánh trương quốc doanh”  Nhà nước cài vào Nhà thờ ?
Mang tiếng là “cánh tay phải”, là người giúp việc thân cận cho cha, không hiểu sao vừa mới gặp, ông chánh trương đã giở giọng khủng bố tinh thần :
Thưa cha , năm nay con đã bảy chục tuổi, đã hầu hạ cha già trọn bốn mươi năm…Mắt con đã nhìn nhiều sự đổi thay, người ta hợp nhau rồi người  ta lại chia nhau ra . Hôm qua là cha là con , hôm sau có tao không mày . Hôm qua chén chú chén anh, hôm sau nhét rọ buông sông. Đời người biến ảo khôn lường, một sớm một chiều chưa thể biết được…”
Mới chân ướt chân ráo về giáo phận cha trẻ đã bị cha già răn đe muốn điên đầu, nay lại gặp ông chánh trương buông giọng bí hiểm, doạ nạt về cái sự khó ở đời . Những tưởng ra trường sẽ cùng người nhà Chúa xắn tay áo làm việc đạo , ai ngờ như lạc vào trận đồ bát quái, xung quanh là cả một rừng  gươm giáo.
“ Cha trẻ đưa tay lên che mặt, đầu óc quay cuồng , ông rên rỉ :
“ Khó  hiểu quá ! Các ông nói gì với tôi mà khó hiểu vậy ? Tôi chỉ xin các ông một điều : nếu xứ này còn cần linh mục thì tôi ở lại, dẫu khổ hạnh thế nào tôi vẫn cứ ở. Bằng không thì trả tôi về tòa Giám, đừng dùng mưu mẹo làm nhục tôi , bức hại tôi…”.
Ôi chao, đấng chăn chiên, đức cha tinh thần của cả chục ngàn giáo dân  lại đau buồn, bế tắc “ mùi mẫn”  như chàng trai si tình bị người yêu ruồng rẫy :
Và, lạy Chúa, con chỉ ước nguyện sẽ được nằm ở cái giường đơn sơ kia mà trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay âu yếm của Chúa”…Cha xứ đã cởi áo, buông màn và nằm xuống, hai tay chắp ngang bụng, thổn thức vì những ý nghĩ thương cảm xa xôi, miệng khẽ gọi những tên cực thánh : Giêsu – Maria – Giuse…”
Liệu một đấng chăn dắt linh hồn của cả một giáo phận có dễ “tủi phận mình”, thổn thức  như một anh đồng cô ẽo uột vậy chăng ?
Xây dựng nhân vật cha Thư  ngây ngô, ngớ ngẩn như vậy trách gì các “sự  khó” cứ ùn ùn kéo tới. Sau khi cả gan gọi tên cúng  cơm cha trong buổi tiếp rước, con gái chánh trương lại xin gặp riêng cha với tư cách trưởng hội hát.. Ông cha trẻ chưa trải đời chấp thuận để cô cùng hội hát quyên góp  may áo lễ mới cho cha . Mặc dầu các cô đã  dặn nhau  “ Không được nói lại với ai đấy nhá ! Cấm đấy nhá…” nhưng chỉ thời gian sau cả xã đã biết chuyện, gây ra bao tai tiếng làm  ông Chủ tịch mặt trận xã phải tìm tới ông chánh trương phàn nàn :
Tôi nghe con mẹ Tộ vừa la vừa khóc : vậy là mày giết tao. Đứa nào xui mày ? Thằng nào con nào xui mày để tao băm vằm nó ra ?...Chúng nó chim chuột dăng dện nhau thì mặc mẹ nó chứ , hà cớ gì lại khéo dỗ mày. Mày ăn cơm hay ăn cứt mà dại dột thế ?”
Hoá ra con gái bà Tộ lấy bông tai quyên góp may áo mới cho cha làm bà ta chửi toáng :” Đã có ông linh mục nào đến xứ này mà chê tiền không ? Mà chê gái không ? Tôi cũng là người có đạo tôi không nói vu cho ai bao giờ…” Cha quản hạt thì sao ? “ – Rụng hết răng thì còn ăn gì được  , giả thử còn đủ cả hai hàm chắc cũng chẳng  từ…”.
Ở giữa một xứ đạo toàn tòng, liệu có một mụ đàn bà oang oang chửi cả cha trẻ lẫn cha già như mất gà mà kẻ cắp lại chính là… các cha không ? Hay nhà văn mượn mồm đàn bà bôi xấu linh mục ?

                   (còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 29 tháng 5 năm 2012

THỜI BÚT MỚI : "ĐẢO CỦA DÂN NGỤ CƯ"


   Xuất bản lần đầu năm 1992 trên “Văn học & dư luận”, mục Bút Mới
                                      Truyện ngắn ĐỖ PHƯỚC TIẾN



Sau một thời gian dài lang thang khắp miền duyên hải, cái đầu nhọn của tôi dài thượt ra, sạm đi, quắt queo như một trái đậu bắp khô. Cùng một gã Triều Châu mắt lác, tôi săn lùng những cái đồng hồ cổ lỗ sĩ, gọng kính cũ, vỏ đài bán dẫn, bình xăng máy đuôi tôm, bảng đèn hiệu của xác trực thăng. Tóm lại, tôi kiếm sống bằng cách tìm mua những phế phẩm đã thổ tả đến lục phủ ngũ tạng. Những chiếc móc sắt kềnh càng trong kho trạm khai thác nông sản chẳng hạn, dây xích lòng thòng có thể gông trọn một chiếc máy cày. Doanh nghiệp giang hồ gần năm năm không lúc nào trôi chảy một phần cũng tại cái xứ sở nhiệt đới đỏng đảnh này, hết mưa rồi nắng. Khi đã mòn nhẵn tất cả các túi, chúng tôi mới sáng mắt trước một trục trặc khó mà bù đắp nổi: cả hai đứa đều chậm chạp và kiết xác. Rồi vận hội nữa, nếu ai đó tin rằng đi buôn lạc xoong cũng cần có vận hội.
Gã Triều Châu mảnh dẻ như một cọng rơm, tính khí thất thường và keo cú khủng khiếp. Bùa hộ mạng của gã là một cái chuông lắc to đùng như cái loa phóng thanh. Những vố thua đau đớn khiến hai đứa thường xuyên cay cú, hục hặc và hắc ám như những lão phù thuỷ. Bạn đồng hành của tôi cứ cười sằng sặc suốt ngày. Cái chuông dị hợm của gã rung thảm thiết khắp nơi, dội lên những thôn xóm quạnh hiu trong gió chướng âm thanh sùng sục của đói khát. Khi gia sản đã tiêu tán hoàn toàn, chúng tôi nằm liệt hai ngày cạnh một hầm cá tra, thở đến tọp người đi và mơ màng một nồi canh chua với rất nhiều trái giác, một nồi canh khổng lồ. Bụng hai đứa sôi lên vì mặc cảm bất tài, vì ân hận và vì những ám ảnh bất trắc. Khi bình minh êm ái lướt qua những đọt rau đắng non, rau đồng tiền và rau kinh giới, gã Triều Châu gượng dậy trước tiên. Cố vận dụng sức tàn, gã trình bày với tôi về một lối thoát cho cả hai. Gã giảng giải rằng dù có ra sao, tôi với gã vẫn cứ là những trang nam tử. Một nồi canh mơ mộng làm sao đủ nuôi được chí lớn? Rằng cơn ác mộng tha hương này phải kết thúc thôi, ngay tại đây, cạnh cái hầm cá tra này. Rằng vận hội của hai đứa sẽ không như những cơn mưa nhiệt đới, trời già chẳng tuôn xuống bao giờ. Cần phải đi mà tìm, như đàn bà vậy, chộp lấy và nuốt chửng, dù có ở trong túi người khác cũng mặc. Và còn một trăm cái rằng khác nữa, đặc sệt mùi cá kèo khô với bánh dừa không nhân. Tôi nghe gã, mệt mỏi rã rời, và nhụt chí nữa.
Rồi có một ngày xuân rất xanh, hai đứa chúng tôi chia tay nhau giữa cơn cùng quẫn. Tôi đi lên phía Bắc, cố bứt thật xa những cánh đồng nước mặn với hoàng hôn tím ngắt trong giấc mơ tha hương. Gã Triều Châu trở lại miền cực Nam, lo phần hậu sự. Kế hoạch của chúng tôi mở đầu như vậy.
Nhà chệt Liếm rất dễ tìm bởi cổng gỗ sơn đỏ chói, hàng rào cây mắm có dây nhãn lồng và những chùm trái giác tròn trĩnh cuốn quanh. Lúc tôi đến, quán ăn đã cũ kỹ lắm rồi, tường vôi có mái lợp ngói âm dương đã hở móng. Khu nhà phía sau như cái bẫy chuột, gác gỗ xấu xí, ống thông khói như cái bàn chải răng dựng đứng. Toàn bộ cấu trúc u ám, mờ nhạt và rối rắm. Thị xã lúc nào cũng mịt mù bụi. Trên những con phố chật chội, những quần thể kiến thiết đơn điệu như vậy còn lại rất nhiều, âm thầm bạc thếch dưới nắng xuân.
Theo kế hoạch, tôi sẽ ở phụ việc trong nhà chệt Liếm khoảng hai năm, vừa đủ để tỉnh hồn. Trong thời gian này tôi sẽ tập làm đủ thứ: nếm rượu, cuốn chả hấp lạp xưởng, ướp kim tiền kê và muối những quả trứng bắc thảo. Có thời cơ sẽ nghiền ngẫm món xào chua thập cẩm hay lẩu cá chẽm. Sành sỏi được món hầm nhừ sa tế thì coi như bá chủ căn bếp. Xin nhớ cho: căn bếp của một thương nhân gốc Hạ Môn. Đó chính là lối thoát mà tôi và gã Triều Châu đã thoả thuận.
Tôi là đứa tồi tàn, đúng vậy. Mấy mùa qua tôi đã vận động nhiều hơn một con bò và dư sức hiểu rằng cần phải vận động nhiều hơn nữa nếu không muốn bẹp gí như một con gián trong khi chen lấn với cuộc đời. Tôi cũng có quyền được ăn no ngủ yên như người khác. Hơn nữa, tôi chẳng thích sống một mình chút nào.
Ngoài gia đình chệt Liếm, trong quán còn có một người khách Gia thanh lịch khắc khổ, một người Ấn lai Việt đứng bếp và một người Khmer xuất phát từ miền châu thổ sông Hậu. Tất cả đều lầm lì, rình rập lẫn nhau và bao giờ cũng chu tất phần việc của mình.
Tôi rất thích ông Khmer, một người trầm lặng và hào hiệp, to xám như một con chuột đồng. Tình bằng hữu của chúng tôi bắt đầu bằng cái bật lửa có nắp mở kêu tanh tách của tôi, di vật cuối cùng của một thời lang thang. Ông Miên rất vừa lòng mặc dù bọc cao su đựng thuốc gò của ông xếp cạnh cái bật lửa rất chướng mắt. Trong lúc tôi chui vào một hốc tối, lặng lẽ ngốn những miếng sườn còn lại từ hôm qua thì ông Miên, khăn rằn quấn quanh bụng, điềm nhiên quấn thuốc cạnh tấm thép chắn lò. Ông phục vụ chệt Liếm đã lâu, có lẽ còn trước khi cái sinh mạng hèn mọn của tôi xuất hiện dưới gầm trời này. Cách mổ bụng của ông hoàn toàn theo kiểu cổ: từ dưới lên, hơi chếch qua trái một chút. Người Khmer không có thói quen thay đổi chỗ ở cũng như phương thức kiếm sống, và đó cũng là đặc tính chung của cây cỏ nhiệt đới.
Nhiệm vụ của ông Miên trong quán thật nặng nề. Mỗi tuần ngoài phần việc cố định, ông còn phải hạ thịt từ hai đến ba con dê, có thể là bốn nếu vào những dịp vui vẻ. Những con dê mới đến còn rất tơ, được vỗ béo kỹ càng, lông óng mướt như vừa mới chui ra từ những nụ so đũa cuối đông. Chúng được phục đến say khướt bằng một thứ rượu mía nồng nặc, bị đuổi chạy khắp thị xã với cái lon rỗng cột sau đuôi cho đến mệt lử. Những con dê đó chết rất nhanh trước mũi dao thiện nghệ của ông Miên, mình mẩy đẫm mồ hôi và đáy mắt mở to còn tràn ứ khoái cảm.
Quán mở cửa suốt ngày, nhưng chỉ khởi sắc muộn màng khi chiều xuống, lúc những cơn lốc bụi đã dịu đi.
Người khách Gia cột ngang bụng một tấm vải hoa sặc sỡ. Ông phun nước lên sân gạch, xếp thêm bàn ghế với phong thái đạo mạo cố hữu. Ông người Ấn nặng nề xoay trở quanh những tấm thớt, tráng cái chảo hai quai trên bếp bằng động tác hờ hững khinh bỉ. Ông Miên muối những tảng thịt dê còn bốc khói, còn tôi thì đánh vật với cái máy xay gia vị cứ lồng lên sòng sọc. Khi đèn măng-xông được thắp lên, chệt Liếm vui vẻ xuất hiện. Ông cười hào sảng giữa những thực khách, ly rượu pha sôđa lấm tấm hơi nước trong tay. Ông quan sát từng dĩa thức ăn dồn dập mang ra với đôi mắt tỉnh táo cân nhắc. Chệt Liếm cũng có phần việc riêng và ông không bao giờ cho phép bất cứ ai trong chúng tôi làm thay. Treo những chiếc đèn lồng trước cổng, rót rượu cho thần tài, thanh toán tiền với khách, đó là phần việc của ông.
Hoàn tất phần việc của mình sớm nhất là ông người Ấn. Trong lúc chúng tôi cọ rửa, thu dọn thì ông ta lui vào một góc riêng, lầm rầm những bài kinh dài lê thê trước dĩa đèn dầu. Cái xác phàm chảy xệ của ông rũ xuống trong lúc trò chuyện cùng đấng tiên tri.
Đắp xong một chục lò mạt cưa, tôi tìm cách trèo lên gác với chị Chu. Ở trên đó, chị Chu luôn phải ngồi một mình và chờ đợi từ ngày này qua ngày khác với những con gà nhựa có thể gáy được mỗi khi lên dây cót. Chệt Liếm cấm tất cả mọi người lên gác, trừ xiếm Hoa. Tôi ra vào bằng mái thông gió và bồn chồn căng thẳng mỗi khi ở gần chị. Tôi biết, không phải một mình tôi đến với chị. Có một buổi sáng chệt Liếm từ trên gác bước xuống. Ông đi thẳng một mạch ra sàn nước, nơi ông Khmer đang cặm cụi rửa những bình đất đựng rượu huyết dê. Chệt Liếm đến gần, mắt dán chặt vào gáy ông Miên. Hai người gằm gằm nhìn nhau. Sau đó chệt Liếm rút trong túi ra cái bật lửa có nắp mở kêu tanh tách, ngắm nghía nó một lát rồi đặt trên nắp lu nước, sát người ông Miên. Rồi ông lẳng lặng bỏ đi.
Chị Chu kể với tôi rằng, chị đã ngồi trong cái hộp gỗ của mình từ lâu lắm rồi, từ khi biết ngồi, và sẽ còn phải ngồi cho tới bao giờ cả căn gác tan đi, tan vào thinh không theo khói mạt cưa hàng ngày dưới quán xông lên. Tôi không tin. Tôi ăn những mẩu bánh nướng chị để dành từ bữa trưa cho chị yên lòng rằng tôi là một đứa con nít, chẳng làm hại được ai. Tôi nắn bóp những bắp thịt mỏi nhừ của chị vì ngồi lâu, nghe chị kể lại những đêm rằm vàng ngập ánh trăng, chị ngồi chờ áng mây vẩy cá phiêu bồng qua hiên gác. Chị bảo tôi ngồi im, lắng nghe tiếng thời gian gõ lốc cốc trên những mái ngói âm dương, len lỏi qua những hẻm phố tối tăm lồi lõm. Cái thế giới bạo động liên tục phía dưới, và chệt Liếm nữa, hoàn toàn không dính dáng gì đến chị. Một tay và một chân chị chỉ còn da với xương do chứng liệt cơ bẩm sinh.
Chệt Liếm đối xử với chúng tôi rất tốt và chưa bao giờ tôi nghi ngờ lòng nhân hậu của ông chủ. Ông xứng đáng là một người đàn ông Trung Hoa, nỗi ô nhục do chị Chu gây ra ông đã biết từ lâu mà vẫn âm thầm chịu đựng với một nghị lực phi thường. Ông điều khiển cơ đồ của mình chính xác đến từng cái nút chai. Những miếng sườn tôi ăn trộm thật ra đã thiu rồi, cho nên đối với chệt Liếm chúng không còn mang ý nghĩa vật chất nữa. Ông sẵn sàng khen ngợi không tiếc lời một bó rau cần vàng úa hay giỏ nấm mèo nhăn nhúm thảm hại chỉ vì chủ của chúng đã mang đến cho ông từ những thôn ấp khô cằn xa xôi. Tóm lại, chệt Liếm có đầy đủ phẩm chất của một thương gia trung bình, và chỉ có vậy thôi. Thời trai trẻ ông đã không biết tìm, bằng mưu lược của mình, một điểm tựa có sức đàn hồi để vọt đi xa hơn. Còn tôi, tôi đang tìm cách bổ sung thiếu sót của ông: chị Chu là một trong những mục tiêu của tôi, với gã Triều Châu nữa, tất nhiên.
Tôi dành ngày càng nhiều thời gian cho chị Chu, và tâm lực nữa. Những lúc chị tuyệt vọng nhất chính là lúc tôi cảm thấy tự tin nhất. Tôi rất ghét nước mắt, nước mắt và sự im lặng. Những giọt nước mắt của chị Chu lăn suốt đêm chưa tới cằm. Nó khiến tôi nhớ đến cái thân phận khốn nạn của mình. Tôi ôm chị Chu vào lòng và bắt chước gã Triều Châu, tôi giảng giải cho chị nghe rằng mây vẩy cá chỉ là một đám hơi nước lẩn thẩn và ngu ngốc. Thời gian và gió tha hồ rỉa rói tấm thân mỏng mảnh bạc nhược của nó. Mà thời gian là gì, tiếng lốc cốc là do chiếc trống dây tự va đập vào nó trong lúc cùng người nhuộm đồ rong lang thang tìm kiếm một miếng ăn vô định. Thời gian là sự vận động hết sức nhảm nhí của cảm giác, rất bấp bênh bởi vì nó không hề có định mức. Chẳng phải chị hay tôi, hay bất cứ một người nào khác, chúng mình như những chiếc máy cày chỉ làm mỗi một việc là lê lết mỏi mòn qua cánh đồng thời gian, và khát vọng hiện hữu có hơn gì một cái móc sắt han rỉ? Ngồi một chỗ như chị hay suốt đời di động như tôi thì có gì khác nhau. Bao giờ còn chưa quên vị trí xuất phát của mình, thì tôi với chị vẫn chưa bước nổi một bước, dù chỉ một bước, trong cuộc đời.
Tấn tuồng của tôi với chị Chu kéo dài hơn nửa năm. Sau đó tôi không thể tiếp tục vì không còn đủ sức. Trong lúc soạn thảo kế hoạch với gã Triều Châu, tôi đã không lường trước tình huống này. Trong lúc ôm ấp thân thể trần trụi của chị Chu, tự đáy lòng tôi đã thành khẩn tin rằng mình đang làm một điều thiện, hết sức chân thiện. Giống như những thứ thổ tả tôi săn lùng ngày trước, dù đã tồi tàn, đôi khi chúng vẫn mang giá trị vật chất vượt ra ngoài những ước lệ của quy chế trao đổi. Chị Chu cũng vậy, lúc vùi đầu vào bộ ngực mềm ấm của chị, tôi cay đắng nhận ra rằng vang sâu trong cái sinh vật dị dạng đang rệu rã kia là những cơn bùng nổ liên tục của khát vọng làm người, của những đam mê hết sức chân thành, trong trắng. Linh hồn của mỗi người, nếu quả có nó, thật ra không ăn nhập gì với các xác phàm mà nó ẩn náu cả. Cho nên tự do tâm linh dễ dàng trở thành một thứ nhu cầu đồi truỵ bởi thói tắc trách vô liêm sỉ của nó. Tôi cố gắng lèo lái những cuộc ái ân với chị Chu mềm mại hơn so với trí tưởng tượng thô thiển của mình. Tôi luôn bị ám ảnh bởi nỗi hờn ghen trẻ con rằng trên cái giường của chị Chu, trước tôi đã có những trận luyến ái bão táp kinh hồn. Và tôi chỉ là một thứ hình nộm để lấp đầy khoảng trống giữa hai cơn bão. Với những cơ bắp rắn chắc và lì lợm, ông Miên dồn ép quần quật chị Chu bằng những động tác quyết liệt và chi li, giống như đang đối xử với những con dê tử tội vậy. Biết làm sao được, có thể đó cũng là một dạng phân tâm bệnh lý. Trong tay tôi, chị Chu cũng ngất đi rất nhanh, mình đẫm mồ hôi và lớp lông tơ trên ngực chị đỏ rực khoái cảm.
Dù rất yêu chị Chu và luôn luôn tâm niệm với mưu đồ dựng nghiệp, tôi vẫn không sao quen được với lối sống đơn điệu và tệ hại của mình trong nhà chệt Liếm. Thời gian qua, cùng chui rúc trong cái hộp gỗ lưu cữu mùi củ cải muối với chị Chu, tôi đã hiểu ra được nhiều điều. Nhiều khi bắt chước chệt Liếm, tôi cố đánh tan những dự cảm đen tối bằng cách nốc thật nhiều rượu vào. Những ly rượu cay xé lưỡi dĩ nhiên cũng là của ăn trộm. Và càng uống nhiều, tôi càng tin tưởng rằng mình đã khôn ra thật. Mặc cảm về sự hèn mọn của mình là động lực thúc đẩy con người vượt lên trên, nhưng đồng thời cũng vì nó mà con người đã tự vùi dập không thương tiếc chính cuộc đời mình.
Rồi một ngày, một ngày mà xuân cũng rất xanh, tôi từ bến đò trở về, ì ạch kéo theo một xe đầy mạt cưa. Cơn lốc tháng ba lồng lộn qua những hẻm phố, nhét đầy miệng tôi những hạt cát vừa khô vừa mặn. Cổng gỗ trước quán mở toang, sân gạch vắng ngắt. Dưới hiên, ông già người Ấn ngồi thờ thẫn ngắm những con ruồi đang phơi nắng, dĩa đèn đặt bên cạnh. Phía sau, lơ lửng trên cái bẫy chuột có tiếng đàn bà khóc rấm rứt. Tôi đi vào, ê ẩm choáng váng vì những dự cảm chẳng lành, vì mệt và nắng. Nhà sau cũng vắng vẻ. Tiếng khóc nỉ non trên gác. Lạy trời, lẽ nào những dự cảm đen tối của tôi đã thành sự thật? Tôi không tin. Nhưng rõ ràng đêm qua tôi đã chứng kiến cuộc đụng độ giữa chệt Liếm với ông Miên ngay dưới chân thang gác. Chệt Liếm là một người đàn ông phi thường, tôi tin chắc như vậy.
Thấy có bóng người nhốn nháo trên gác, tôi phóng lên.
Trên cái giường mà tôi với chị Chu vẫn lét lút với nhau hằng đêm, giờ cũng có hai người. Chỗ của tôi, cũng là chỗ của ông Miên, được thay bằng xiếm Hoa. Chị Chu nằm ngửa, cằm trễ xuống, mắt trợn trừng trông thật kinh khủng. Xiếm Hoa cong người như một con tép sắt, nức nở trên người chị. Trên cái bàn thấp kê sát đầu giường, bữa ăn đang dở dang, cơm văng tung toé, một chiếc đũa gãy cắm trên chiếu. Tiếng khóc không thoát ra từ đôi vai rung rẩy của xiếm Hoa mà dội trừ trên mái ngói đầy bồ hóng xuống.
Người khách Gia đứng dưới mái thông gió, cần cổ duỗi ra chống đỡ cái đầu đang gục xuống vì xúc cảm. Ông Miên tựa vào tường cạnh cái bàn thấp, bộ mặt lầm lì của ông phồng lên, đỏ lửng. Chệt Liếm ngồi cứng đơ trong chiếc ghế duy nhất có trên gác, mặt nhợt nhạt, những con gà nhựa lăn lóc dưới chân ông. Không có khói mạt cưa, nhưng căn gác như sắp tan ra thật, tan ra vì những ánh mắt thù địch, vì hơi thở căm giận ngấm ngầm của những đàn ông, dồn dập và sôi sục.
Tôi ngồi bệt xuống dưới sàn gác. Tiếng trống dây của người nhuộm đồ rong lảng vảng đâu đây, rồi bất ngờ nổi lên ầm ầm như tiếng trống trận trong đầu tôi. Rất mơ hồ, tôi thấy ông Miên nâng tô canh trong mâm cơm lên, múc ít nước canh đổ vào lòng bàn tay, chà xát rồi ngửi. Điệu bộ của ông lúc đó rất giống dáng dấp băn khoăn của con chuột đồng trước miếng mồi đã bị đánh bã. Ông đăm đăm nhìn ra hiên gác, nơi những thanh gỗ mỏng lắp chéo nhau tạo nên một góc trang trí mờ tối. Có lẽ đó là nơi hẹn hò của chị Chu với đám mây vẩy cá hoang tưởng. Rất lâu, tôi cảm nhận sự vận động chậm rãi ấy bởi hàng trăm tiếng lốc cốc đều đặn xuyên qua đầu mình, tôi thấy ông Miên bưng tô canh đến gần cái ghế duy nhất trên gác. Rất bình tĩnh, ông chụp tô canh lên đầu chệt Liếm, nhẹ nhàng và từ tốn. Lá cải trôi từ đầu chệt Liếm xuống chân mày, xuống gò má, xuống cằm rồi rơi nhanh xuống đùi. Chệt Liếm vẫn ngồi cứng đờ, hai tay bóp chặt thành ghế. Sắc vàng đùng đục của nước canh loang chầm chậm trên mặt ông. Phủi tay với vẻ hả hê, ông Miên chệnh choạng đi xuống. Rồi ông đi mãi không bao giờ trở lại nữa.
Vài ngày sau đám tang chị Chu, đến lượt ông người Ấn ra đi. Ngày xuân chưa kịp tàn, những con ruồi trơ tráo sau khi tắm nắng thoả thuê đã nhảy vào dĩa đèn của ông, vùng vẫy rồi chết luôn trong đó. Ông người Ấn rũ người đi khi chứng kiến đức tin tận tuỵ của mình đã bị đấng tiên tri phỉ báng. Ông bỏ đi không nói với ai một lời, chẳng buồn thanh toán số tiền dầu lâu nay chệt Liếm vẫn cung cấp cho ông.
Ông khách Gia rồi cũng ra đi, chệt Liếm không thể giữ ông ở lại. Ông đã già yếu đến mức không còn giữ được phong thái đạo mạo cố hữu nữa. Liên minh của chệt Liếm đã tan rã. Trong liên minh hỗn hợp của ông, những phần hồn tha hồ lang thang trong khi mỗi phần xác chỉ biết chu tất phần việc của riêng mình. Nhưng sai lầm vẫn có thể cứu vãn nếu chệt Liếm không để cho khái niệm cân bằng tồn tại trong căn quán của ông. Vậy mà ông vẫn để, và hành động vũ lực chỉ khiến mọi thứ nhanh chóng sụp đổ. Bởi vì cái sườn gia phong của ông có khác nào bức tường đã hở móng.
Cuối cùng người ta cũng tống cổ tôi ra khỏi cánh cổng gỗ sơn đỏ sau khi đã giải quyết xong những mẩu xương dê còn lại. Nằm bên vệ đường, trong lúc chờ đợi một thời kỳ cùng quẫn nữa lại đến, tôi nghiền ngẫm đủ điều. Tôi không tiếc những tháng năm đã mất trong cái bẫy chuột của chệt Liếm. Làm sao tôi có thể san sẻ với họ, những người tồn tại phía sau hàng rào dây nhãn lồng kia, một cuộc sống lâu bền được. Tôi nghĩ đến gã Triều Châu. Trong cuộc chia tay ngày ấy, giữa tôi với gã nào biết ai đã may mắn hơn ai. Là người Trung Hoa nên gã hiểu người Trung Hoa hơn tôi. Gã hiểu chệt Liếm nên thay vì dấn thân vào, gã đẩy tôi phiêu lưu trong cái bẫy chuột của ông. Cứ để gã ôm ấp căn quán tương lai trong giấc mơ êm đềm ở miền cực Nam, tôi sẽ tìm cho mình một con đường khác. Tôi không phải là đứa phụ bạc, với cặp mắt lác gã có thể cùng lúc nhìn thấy hai phía của cuộc đời. Còn tôi, sẽ không bao giờ, suốt cuộc đời còn lại, không bao giờ tôi còn có được hạnh phúc nữa, không bao giờ.

Tháng 2-1992
      ĐPT

NHÀ VĂN NHẬT TIẾN :

          Thông điệp bên ngoài thảm kịch .

Họ là một liên minh. Một người lai ấn Độ, một người ở Cao Mên, hai người ở Trung Quốc. Trong hai người Trung Quốc thì chệt Liếm còn có một gia đình : chi Chu và Xiếm Hoa. Tất cả quây quần quanh một quán ăn cũ kỹ, tường vôi , mái lở, sống đời tha hương. Họ tồn tại như những hạt giống được vung vãi xuống , gặp đất ở đâu thì mọc ở đó. Cũng là lẽ sinh tồn nhưng với khả năng bền bỉ , nhẫn nại, ý chí phục hưng giống nòi cuả những con người vốn sinh ra ở những vùng đất nghèo khó phương đông. Nhân vật xưng tôi  và gã Triều Châu, tuy chia xẻ với nhau một âm mưu nhưng thực ra chỉ là những nhân chứng trong một thảm kich. Một kẻ đứng ngoài nhìn vào bằng đôi mắt  lác (có thể cùng một lúc nhìn thấy hai phía của cuộc đời ) và một kẻ dấn thân vào âm mưu, bỗng nhiên trở thành kẻ vừa  chứng kiến, vừa tham dự.
Tấn thảm kịch bắt nguồn từ chị Chu, gười vợ tàn tật suốt ngày nằm trên căn gác xép của quán ăn cũ kỹ, chờ đêm trăng ngồi đếm  đám mây vẩy cá phiêu bồng trên nền trời hoặc nghe tiếng thời gian gõ nhịp trên mái ngói.
Con người càng tê liệt thể xác càng sôi động những khát khao. Chị đã chia xẻ những khát khao này không chỉ với chệt Liếm mà còn với kẻ khác, những kẻ mà chệt Liếm coi là "ngoại tộc". Ngòi nổ được khơi dậy từ chiếc bật lửa lúc mở nắp kêu tanh táeh mà lão Cao Mên bỏ quên tại chỗ nằm của chị , cháy lan qua một cuộc đụng độ giữa hai người đàn ông tại chân cầu thang gác và nổ bùng trong một cuộc xô xát ở nơi chị Chu vẫn nằm. Chị đã ehết trong cuộc xô xát đó. Chệt Liếm đã giải tỏa được mối thù hận bị bại  hoại gia phong, nhưng lão đã mát mát một ý đồ : liên minh tan vỡ vốn được  tạo dựng để sống còn và gây dựng một thế hệ kế tiếp.
Câu chuyện đầy kịch tính được tác giả kể lại bằng giọng văn trầm tĩnh , rất văn chương, chuyên chở nhiều ý tưởng chua cay và nhiều cách nhìn rất sâu sắc, đem lại cho người đọc cái không khí của thảm kịch  như Lôi Vũ, như Đỉnh gió hú. . .
Nhưng thật ra câu chuyện còn có một mảng khác đứng ngoài thảm kich. Cái mảng ấy là của riêng nhân vật xưng tôi, một kẻ tha phương, chuyên mua đi bán lại những đồ lạc xoong , các vật liệu phế thải. Vì thua lỗ, gã đã bỏ những loại phế thải này để  ôm vào lòng một thứ phế thải khác : con người tật nguyền của chị  Chu. Gã đã tìm được gì ở cái sinh vật phế thải đó  ? Một cái gì rất nhân bản , rất con người . Dù cho là một tấm thân tàn phế, dị dạng nhưng bên trong là những cơn bùng nổ của khát vọng làm người , của những đam mê hết súc chân thành, trong trắng và sôi dộng. Có lẽ theo tôi , chính  phát giác này mới là một thông điệp mà tác giả Đỗ Phước Tiến muốn gửi gấm tới người đọc.
N.T.

NHÀ VĂN DƯƠNG THU HƯƠNG :

Những chi tiết thực tế chạm vào da thịt

Đảo của dân ngụ cư là truyện tôi thích nhất trong số bản thảo được  đọc của Đỗ Phước Tiến. Văn phong bình dị mà mặn mòi. Một không khí huyền ảo đan xen rất tự nhiên với hiện thực phàm trần. Người  đọc bi huyến dụ bởi đám nhân vật câm nín và âm u như những hồn ma, bởi "một chiều xuân rất xanh" bởi một "bình minh êm ái lướt qua những đọt rau đắng non, rau đồng tiền, và rau kinh giới" - Súc huyễn dụ ấy chỉ có được khi nó song hành với những chi tiết thực đến chạm vào da thịt như vị mặn của mồ hôi thấm vào lưỡi , như ngọn khói bốc lên từ 10 cái lò mùn cưa, như màu đỏ rực đầy khoái cảm trên  lớp lông tơ của người đàn bà dị tật .
Thế nhưng, vẻ đẹp của văn phong hay kỹ thuật viết vẫn chỉ là phẩm ehầt thú hai của văn chương - Theo thiển ý của tôi, sức hấp dẫn đàu tiên của tác phẩm nghệ thuật vẫn là cái nội dung truyền tải , cái nguồn sinh lực hay suy tư mà người viết muốn chuyển tải cho người đọc. Ở đây, trong truyện ngắn này . tôi bị thôi miên bởi 2 nhân vật : chị Chu không chỉ là một người đàn bà bất hạnh, mà là chính nỗi đam mê bất hạnh , là sự khao khát bị tàn tật và thiều hụt. Ở một thành phố khác, một dòng sông khác, một ngọn đồi  khác, một phương trời khác sẽ không thể có nhân vật chị Chu - bi kịch của con người sẽ được đặt vào một hình dạng khác với các tồ chất khác. Nhân vật Tôi  cũng không chi là một nhân vật gọi theo ngôi thứ nhất của  đại từ  nhân xưng. Nó là khả năng lương thiện bi đọa đầy. Là hạt giống của sự trong trắng vĩnh hằng luôn luôn tiềm ấn trong nhân loại. Dù bị hành hạ, bị sỉ nhục, bi vong thân giữa cuộc mưu sinh lỳ lợm nham hiềm nó vẫn cứ trồi lên vào một khoảnh khắc bất chợt mà không ai kiểm soát được .
Và giá như, giá như ...Dẫu biết rằng trên đời không có hai chữ giá như, tôi vẫn cứ muốn viết. Giá như, tác giả bớt được một số câu loại như : "thời gian là sự vận động sinh học hết sức nhảm nhí của cảm giác...". Hay : "Rượu chỉ là thứ thuốc an thân vô hiệu..." thì hay biết bao nhiêu... .
D.T.H.

NHÀ VĂN NGÔ THỊ KIM CÚC :

        Khi số phận không mỉm cười

Điều ngạc nhiên thứ nhất khi tôi được nghe rằng suốt bốn năm qua, Tiến đã trôi dạt vào tận đồng bằng Nam Bộ, xuôi ngược trên các dòng sông với nghề chở lúa mướn, và vào những tháng không còn mùa vụ thì sống bằng nghề  kéo xc. Một anh chàng thành thị rặt ròi bỗng lột xác để làm một người lao động giản đơn miền lục tỉnh kể cũng là điều lạ. Nhưng đáng ngạc nhiên cho tôi hơn khi nhận từ tay Tiến xấp bản thảo năm truyện ngắn cất kỹ trong áo mà Tiến đã viết vào những lúc rảnh rỗi.

        
Tôi đã đọc vừa háo hức. vừa tò mò, vùa thận trọng. Tôi muốn biết “cậu bé”  bốn năm trước đã có những đổi thay gì và sẽ bộc lộ mình ra sao một với một khúc ngoặt trong đời như thế. Tôi đã không phải thầt vọng. Trong những truyện mới của Tiến tràn ngập những sinh hoạt nông thôn dân dã vùng  Nam bộ, với cách hành văn mượt mà, chắt lọc, đầy hình ảnh. Nhân vật của Tiến những con người bình thường với những cuộc đời bình thường , bao giờ cũng vuơng vấn những nỗi buồn, dù lộ liễu hay tiềm ẩn. Tiến thuộc họ vì tâm hồn anh gần gũi đế chan hòa với họ. Truyện của Tiến bao giờ cũng nồng nàn tình thương yêu của một tấrn lòng nhân hậu, nhân hậu không phải vì quá ngây thơ trong trắng mà bởi đã từng trải đủ để hiểu về cuộc  sống và con người . Nếu không biết rõ Tiến , hẳn tôi đã nghĩ tác giả là một người trung niên trầm lặng, với một trái tim bi tổn thương đang tự tìm cách băng bó eho mình. 
Thực ra, Tiến chưa già trong tuổi tác nhưng cũng chẳng còn trẻ như   những đồng niên lứa tuổi hai mươi của anh. Cậu con út của gia đinh si quan cấp cao ấy đã hứng chiu tất cả những thiệt thòi, ngay từ trong gia đinh. Suốt tuổi thơ của mình, Tiến đã bắt đầu tha thủi và không mơ màng tới những sự yêu ehiều , nâng niu của người khác. Mẹ cậu giận dỗi bỏ nhà ra di. Cha cậu mang cậu theo mình đến những sòng bài. Ở đấy, Tiến lang thang một mình dưới chân những người lớn , trong những ngôi nhà  xa lạ có khi được người ta nhớ đến để eho ăn, cũng có khi bi bỏ quên với cơn đói và giấc ngủ chập chờ  vạ vật đâu đấy trong một góc nhà. Nếu cậu bé ấy có trở nên một thiếu niên ngỗ ngược và thiếu niên ngỗ ngược  ấy có thành một thanh niên nổi loạn thì cũng chẳng phải là điều lạ lùng lắm.
Nhưng Tiến  đã không chịu rơi  vào tình cảnh ấy. Năm 1975, Tiến đang là một học sinh tiểu học  thì ông đại tá cha cậu vào trại cải tạo. Tiến đã lớn lên , bên cạnh người mẹ  lúc nào cũng âu sầu với mặc cảm cay đắng và muộn phiền của một người bị  bỏ rơi. Tiến đã nghỉ  học khi chưa xong bậc trung học để ra đời, kiếm sống. Cậu công nhân cơ khí ấy đã cầm bút để viết truyện ngắn đầu tay, gửi cho tạp chí Đất Quảng. Sau đó, cậu biến mấl khỏi Đà Nẵng và giờ đây, cậu  quay lại Đà Nẵng  khi cha cậu từ trại cải tạo trở về đầu năm 190l. Tiến có những bổn phận với người cha đã cao tuổi cua mình.
Quả là một niềm vui thật sự mỗi lần tôi nhận một bản thảo mới của Tiến . Tôi biết rằng Tiến  có rất ít thời giờ trống. Công việc ở một tiệm ăn nhỏ và việc đi bỏ nước đá đã lấy của Tiến từ những  giờ sớm nhất trong ngày cho đến tận đêm khuya. Và Tiến còn phải học nữa. Tiến cần phải lấy bằng trung học dớ eó thể học tiếp lên đại học. Tiến không muốn dừng lại, dù cuộc sống không nuông chìu, cũng chặng hề mỉm cười với Tiến. Giờ  đây, ở cách người bạn ấy  gần ngàn cây số, tôi nhận được  bản thảo mới nhất của Tiến “ Đảo của dân ngụ cư “ cùng với tin tức từ một người bạn  khác cho biết, sức khỏe của 'l'iến đang sa sút trầm trọng . Những công việc quần quật  trong cái thành phố Đà Nẵng đầy khắc khoải ấy đã khiến phổi Tiến bị đe dọa, với những cơn sốt  chiều. Tôi hình dung gương mặt lúc nào cũng tuơi  tỉnh , thanh thản của Tiến, như thể của ột người luôn sống trong niềm vui .Và tôi tin , Tlến đúng là như thế. Tôi sẽ chuyển về cho Tiến lời chúc mừng của  rất nhiều bè bạn ở đây, Thành phố Hồ Chí Minh, cho người  đồng nghiệp mới  của chúng tôi,  một người ở lứa tuồi hai mươi . Tôi muốn Tiến cứ vững tin như từ trước đến giờ, và đi tới.

NTKC

NHÀ NGHIÊN CỨU HOÀNG THIỆU KHANG :

Một không khí rất lạ…một không gian trống


Tôi cảm nhận nơi "Đảo của dân ngụ cư” có một đôi mắt lạ  trong cái nhin cuộc đời, con người . Những nhân vật trong truyện, tuy là người tứ xứ (1 người Âu , 1 người Khmer, 1 vài người Hoa đều lang bang, phiêu bạt trên con đường sinh kế. Họ dừng chân, "ngụ cư” nơi quán của chệt Liếm để  trang trải với cái "tất yếu “ của con người  và tôi hiểu, tại sao mỗi con người  ấy lại đã mang súc sống, một sức sống theo kiểu riêng của mình, dù là họ đều sản ra một sinh lực vừa đủ cho cái sống.
Nhưng, họ - những con người mang sức sống, tuy đã hội ngộ dưới  một mái nhà - quán chệt Liếm, mà vẫn không có quan hệ gì với nhau cả. Mỗi con người cứ đứng riêng ra trên mỗi phần việc của mình và hoàn tất chu đáo  nó. Nơi đây, tuy đã có một tụ hội mà lại không có quan hệ xã hội - một tụ hội không có hình thái xã hội. Do vậy, họ là những cá thể cô độc. Chỉ có một lần lão chệt Liếm thực thi  quan hệ với ông Khmer khi lão bắt được chiếc bật  lửa của ông ta bỏ quên trên giường chị Chu. Nhưng cả lần ấy, chệt  Liếm chỉ tỏ bầy bằng cử chỉ . Họ  không nói với nhau một lời. Nhũng con người trong truyện không nói gì với nhau. Cả tác phẩm không có lấy một lần  đối thoại nào. Như vậy ta  bắt gặp một tụ tập người không ngôn ngữ.
Không quan hệ xã hội, không ngôn ngữ, những con người trong truyện .cứ từng người một , từng người lầm lì đi lại trong cái hư ảo của tác phầm. Họ là những bóng mờ, không có chân dung rõ rệt.
Làm sao mà mỗi con người chúng ta có chân dung được khi không ở trong mối quan hệ xã hội, bởi vì, con người hiện thực là con người kết thành bởi tổng  hòa các mối quan hệ xã hội
Không khí tác phẩm rất lạ …Tác phẩm là một không gian trống...
Tuy vậy, mấy con người không quan hệ xã hội này đã lần lượt cùng đến một điểm chung : chiếc giường chị  Chu - một con người bán thân bất toại. Hiện thực tác phẩm chỉ có duy nhất một quan hệ  - quan hệ giữa những người đàn ông với một người đàn bà tật nguyền . Ẩn đằng sau cái hiện  thực tội nghiệp ấy , có một dòng bản năng hồn nhiên, tinh khôi.. Chiếc giường chị Chu - cái điểm chung này cũng rất đỗi mong manh. Chị Chu bị giết chết  được xem như là số phận tất yếu của nhân vật . Dân ngụ cư,  từng người, từng người ra đi . Tụ tập ngụ cư tan rã . Cái tụ tập những con người dưới quán chệt Liếm – cái tụ tập không quan hệ xã hội, không ngôn ngữ tan rã cũng được xcm như là số phận tất yếu của một hiện thực. Thì ra, điều kiện  tự nhiên người chính là điều kiện xã hội của nó.
“Đảo của dân ngụ cư” đúng như tên gọi của nó. Đó là "đảo" vì nó ở ngoài cõi đất liền, ngoài xã hội. Đó là "dân ngụ cư” chỉ sống tạm bợ, họ không có quan hệ gắn bó đích thực.
Hiện thực tác phẩm, do vậy, là một hiện thực giả định.

HTK


Chủ Nhật, ngày 27 tháng 5 năm 2012

VÊ MỘT THỜI HÀNỘI (KỲ 41)




                                                  
                                                           (tiếp theo)

      Hồng Loan đã quay ra với cô gái tôi đoán là em Hoàng Minh. Gần tới chỗ tôi, cô ta dừng sững, để mặc Hồng Loan đi tới. Nhìn vẻ mặt của nó, tôi cố đoán kết quả.
     - Sao? Hoàng Minh sao rồi?- Tôi hỏi vội vã.
     - Thoát rồi, thoát rồi. Anh chàng đã tỉnh và khăng khăng đòi gặp riêng cậu.
     - Cậu vào đi, Hoàng Minh đang chờ đấy.
     - Chịu thôi, cậu đi với tớ.
      Hồng Loan giao xe cho cô em Hoàng Minh rồi lôi bừa tôi đi. Thôi kệ, muốn ra sao thì ra, tôi chẳng nghĩ nữa, cứ nhắm mắt theo Hồng Loan bước thấp bước cao qua dãy hành lang sâu hút mờ mờ ánh đèn. Tôi co rúm cả người khi bị Hồng Loan đẩy vào căn phòng ở đó có mỗi chiếc giường sắt và bà mẹ Hoàng Minh đang bón sữa cho anh. Tôi đứng ngây giữa phòng như con ngố cho tới lúc Hoàng Minh vẫy tôi lại . Tôi phòng trước cái nhìn giận dữ ném tới từ bà già, nhưng không,  bà chẳng thèm liếc mắt, cũng không nói một lời, cầm chiếc cốc lẳng lặng ra khỏi phòng. Tôi ngồi ghé mép giường trong lúc Hoàng Minh chống tay dậy, dựa lưng vào tường. Anh đã qua được cơn hiểm nghèo và khỏe mạnh hơn tôi tưởng.
     - Một lần nữa tôi thành thực xin lỗi Kiều Vân.
     - Chuyện qua rồi, anh còn nhắc làm gì. Không ngờ anh dại dột thế?
      Hoàng Minh nhếch mép cười, tôi hiểu, biến cố vừa rồi đã làm anh tỉnh ra .
     - Vân nói rất đúng, tôi dại dột quá, nhưng mà là dại dột rất cần thiết. Nó làm tôi nhận ra rất nhiều điều...
     - Anh cần nghỉ ngơi cho khỏe, nghĩ ngợi nhiều không có lợi.
     - Không, Vân cứ để tôi nói hết. Từ cõi chết trở về, điều đầu tiên tôi nhận ra là tôi đã đánh mất sự hồn nhiên, tôi quá nghĩ ngợi, quá cố gắng và không phải bất cứ mục tiêu nào người ta cũng có thể đạt được bằng cố gắng, nhầt trong nghệ thuật và cả trong tình yêu nữa.
      Anh tuyên bố “lấy lại tự do” đấy ; tất cả những điều anh nói, thực ra chỉ rõ một điều  là anh không còn yêu tôi nữa. Lạ thực, lẽ ra tôi phải mừng cho anh chứ, sao lại tức tối thế này. Tôi nói chẳng riêng gì anh đánh mất hồn nhiên và đó là căn bệnh chung của những người như tôi, như anh, như Hồng Loan.
      - Không phải đâu, anh nói, người ta chỉ mất hồn nhiên khi ý thức mục tiêu quá mạnh mẽ. Kiều Vân không như thế đâu...
      Anh nhắm mắt lại vẻ không muốn nói nữa, bà già đã lấp ló ngoài cửa và tôi cũng chẳng muốn nán lại . Tôi chúc anh mau bình phục và rảo bước khỏi căn phòng mà sự có mặt của tôi đã trở nên thừa thãi.
      Hồng Loan vẫn trên xe máy đợi ngoài cổng. Vừa thấy tôi, nó đã vồ vập:
      - Sao? Hoàng Minh thế nào?
      - Hạ màn rồi, thôi thôi, nói chuyện khác.
      Nó nổ máy và vớt vát một câu lửng lờ:
      - Hoàng Minh không chết, nhưng chắc tình yêu với cậu đã chết.
      - Càng tốt, càng đỡ rắc rối.
      Tôi cố cười thật to, nhưng không hiểu sao lòng cứ buồn rũ xuống. Phố đêm im vắng, thoang thoảng mùi hoa sữa, tuy nhiên cả hai đều không còn muốn “lang thang ra ga” như ngày trước, nó phải về ngay với chồng, còn tôi chỉ muốn nằm lăn ra giường ngủ một mạch. Nhưng tôi đã lầm, đêm đó tôi không ngủ được cho dù cố đọc cả mấy cuốn sách rút từ trên giá, cứ mỗi cuốn đọc vài trang lại đổi cuốn khác. Chứng mất ngủ vô duyên cớ này thật lạ khác hẳn với lần trước thường do  buồn phiền hoặc bực dọc gì đấy. Không, đêm nay tôi không buồn, không vui, không nghĩ ngợi, không nhớ nhung, đầu óc trong veo, cố nhắm mắt, chỉ thấy một cái nền tối mờ hệt như trên màn ảnh người ta đang chiếu phim không hình, không cả tiếng.
      Trạng thái đó kéo dài cho tới không chịu nổi, tôi lọ mọ ra bàn rút ngăn kéo lục lọi . Trang bản thảo vỏn vẹn hàng chữ viết dở “Người con gái ra đi vào lúc mờ sáng...”giờ đã dày đặc những chữ ký, những hình vẽ cô gái bằng dăm nét nguệch ngoạc tôi buồn tay ghi lên đó trong biết bao nhiêu giờ phút “cố gắng” suy nghĩ, “cố gắng”  tìm cảm hứng.
      - Không phải bất cứ mục tiêu nào người ta cũng đạt được bằng sự cố gắng, nhất trong nghệ thuật và cả trong tình yêu nữa...
      Hoàng Minh nói đúng, anh đã cố yêu tôi và tôi đã cố viết văn, cả hai đều thất bại, may cho cả hai cùng sớm nhận ra. Từ nay, trong nghệ thuật chắc anh cũng sẽ khác, sẽ không còn “cố gắng” tìm tòi  nữa.
      Tôi lôi tập tranh chân dung Hoàng Minh vẽ tặng, bày liệt trên mặt bàn. Lần đầu tiên tôi phát hiện ra anh đã bỏ qua nốt ruồi trên gò má tôi , mờ nhạt như giọt nước mắt không bao giờ rơi. Tại sao anh không vẽ nó ? Liệu có phải anh không muốn tôi chịu đựng bất hạnh mà cái giọt nước mắt ngập ngừng kia là điềm báo? Quả thực, một thời anh đã yêu tôi tân tụy và say đắm biết bao. Lúc này, những bức tranh anh vẽ dường như đang nhìn tôi không phải bằng cặp mắt của tôi mà của chính anh. Anh không xấu trai như Trương Chi, tôi chẳng sắc nước hương trời như nàng Mỵ Nương, nhưng đêm nay, những giọt nước mắt tôi rơi lã chã trên những bức tranh anh vẽ dường như làm sống lại chút nào đó câu chuyện tình hận cổ xưa. Cơn gió rét bất chợt lùa qua cửa sổ, tôi hoảng hốt cố níu lại cũng không ngăn nổi những bức tranh bay đi và rơi lả tả trên mặt sàn. Không còn đủ sức đứng dậy nhặt lại nữa, tôi đành gục đầu trên mặt bàn trơ trọi. Anh Minh ơi, hãy tha thứ cho em...
   
 SÁU

      “Thử tưởng tượng, bỗng một ngày nào đó, sau những trận mưa lớn kéo dài, tất cả các con sông đều dâng tới mức nước lịch sử, đúng lúc đó, sóng triều tạt vào các  cửa sông đổ ra biển cũng dâng cao nhất.
      Một trăm mét nước sẽ phủ lên làng mạc, ruộng đồng thành phố, sẽ cuốn trôi tất cả nhà cửa, con người, con vật, tiện nghi.”
      Chao ơi, cái cơn hồng thủy bất ngờ đó, cái “cơ hội trùng phục có tính cách lịch sử” đó, cái “sác xuất con khỉ nếu được giao máy chữ cũng có thể đánh ra được Hamlet của Shakespeare” cái một phần ngàn tia khả năng đó... thật không ngờ, nó đột ngột rơi xuống đúng vào tôi, ngớ ngẩn tới mức tôi ngờ vực không biết mình đang tỉnh hay mơ.
      Kể từ lúc đó, không rõ một sức mạnh nào, hẳn từ bên ngoài, đã đun đẩy tôi: từ nhà ra phố, đến cơ quan, tới trạm vé máy bay... Hình như mẹ tôi, Hồng Loan và cả Tú nữa lúc nào cũng kèm sát tôi để thay tôi trả lời, hỏi han của những người xung quanh. Ông Giám đốc, ông Trưởng phòng biên tập, bà Trưởng phòng hành chính, tất cả những người trong cơ quan  bỗng chốc trở nên dễ dãi, dịu dàng. Tôi cứ lặng lẽ di chuyển, chẳng nhìn ai, chẳng nghĩ ngợi gì cho tới lúc cửa máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh đóng lại, xung quanh biến hết những người thân quen, chỉ còn lại tôi chìm đắm vào những cụm mây trắng lơ lửng ngoài cửa kính tròn.
      “Bon voyage, bon voyage...”, sao không ai chúc tôi gở miệng như thế để tôi được đi luôn trong cõi vô cùng theo cụ X, thoát khỏi mặt đất đầy tai ương, bất hạnh ở bên dưới kia?
      Ông khách ngồi bên  đập tay vào tôi, nói điều gì đó, sau cùng ông ấn tay tôi gói bánh, ghé sát vào tai: “tiêu chuẩn của cô đấy ăn đi”. Tôi gật đầu, lầm bầm cám ơn, màu xanh thăm thẳm ngoài ô cửa tròn lại kích thích tôi, bàn tay bỗng xòe ra, gói bánh rơi vào đâu đó. Không còn gì quấy rầy nữa, tôi lại quay ra ngoài, đắm mình trong cái màu xanh thuần khiết, không pha gợn mây, tĩnh lặng, không tạo ra bất kỳ hình tướng nào, cũng không gây nên bất kỳ cảm xúc nào, nó gần như là sự hư vô.
      Ông khách lại cựa quậy, cúi cả người xuống, hình như chạm vào chân tôi. Tôi rụt khẽ lại theo phản xạ, mặc kệ ông đang loay hoay gì đó ở bên dưới.Gói bánh của cô bị rơi này. Ông thở gấp đặt nó lên lòng tôi.Sao cô không ăn đi? cô buồn nôn phải không?Túi nôn họ để đây này. Tôi đành phải bóc gói bánh ra để ông khỏi chăm sóc đến tôi. Bên ngoài, màu xanh đã biến mất, thay vào đó, màu xám buồn tẻ của những đám mây vùn vụt bay qua. Tiếng loa chợt ậm oẹ, sắp tới thành phố Hồ Chí Minh, sắp tới thành phố Hồ Chí Minh, tôi cảm thấy ngần ngại, tôi sắp đi vào “cơn hồng thủy” của chính tôi. Ông khách ngồi bên lại đập tay vào tôi, ông nhắc máy bay sắp giảm độ cao, cần phải đeo dây an toàn, tôi ngoan ngoãn làm theo. Cô về đâu? Đã có xe đón chưa? Chưa có, mời cô đi xe tôi. Tôi cảm ơn và hứa nếu không ai đón, tôi sẽ nhờ xe ông. Ông vui hẳn lên, tôi thấy ông cười lộ ra chiếc răng vàng. Mọi người bổng nhốn nháo đứng cả vậy. Máy bay đã đậu trên đường băng. Ánh nắng hắt qua cửa kính làm tôi thấy bức bối và buồn ngủ. Khoang máy bay đã trống hết, ngay cả ông khách ngồi bên cũng biến đâu mất, còn lại mình tôi vẫn ngồi gà gật trên ghế. Từ cái “tủ lạnh” ngoài Bắc, tôi đã chuyển vào cái “lò bánh mì” trong này, có lẽ sự thay đổi khí hậu đột ngột đã làm tôi lười nhác, không còn muốn nhúc nhích chân tay.
      Nhưng cô chiêu đãi viên có khổ người rất mảnh mai đã đi tới. Cô hỏi tại sao tôi chưa xuống, có phải tôi ốm không? Tôi lắc đầu, tôi không ốm, nếu chị thấy cần, tôi sẽ xuống. Lập tức cô ta nhìn tôi ra ý cảnh giác. Hành lý của tôi có mỗi chiếc túi nhỏ, so với mọi người ai cũng tay ôm, tay xách, tôi lại càng đáng bị ngờ mang đồ quốc cấm lắm chứ? Tội nghiệp, cô lẽo đẽo theo tôi đến tận phòng đợi, ở đó, Điền, anh kỹ sư thủy văn, bạn chồng tôi đang nghểnh người, vẫy tôi rối rít. Tôi lững thững bước lại, khó chịu vì khí nóng trên đường băng sân bay bốc lên mặt. Lúc này, tôi chỉ muốn tất cả mọi chuyện biến đi như giấc mơ và tôi đang trong phòng tắm dội nước ào ào lên khắp người. Điền đã lách đám đông chạy tới. Anh giục tôi cởi áo rét, trời trong này nóng thế, chịu sao nổi. Tôi ngoan ngoãn vâng theo như suốt mấy ngày qua tôi vẫn thường thế với mọi người. Anh có vẻ ngạc nhiên khi tôi lầm lì. Trong trường hợp này, lẽ ra tôi phải cuống lên hỏi han, đúng vậy, lẽ ra tôi phải hỏi cho rõ mọi chuyện nhưng tôi lại ngại câu trả lời của anh xóa sạch đi một phần ngàn tia hy vọng vẫn còn le lói trong tôi.
     
                                                      (còn tiếp)

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 5 năm 2012

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 41)


                                 
                                                (tiếp theo)

Thực ra tại các hợp tác xã, các địa phương cán bộ Đảng không hề bị kiểm tra, kiểm soát bởi báo chí hoặc bất kỳ cơ chế quyền lực nào khác nên chúng ra sức tự tư tự lợi, ăn chặn ăn bớt xã viên, ăn cắp công quỹ. Sự sa đoạ , xuống cấp của cán bộ đã xảy ra từ rất lâu, từ thời bắt đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở nông thôn.
Tuy nhiên trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khải, cán bộ tỉnh, huyện, xã, thôn xóm đều là “đầy tớ tận tuỵ của dân’, lặn lội đồng ruộng giúp dân nâng cao năng suất. Như ông “bí thư tỉnh uỷ” đi sâu đi sát nhân dân, vào tận buồng riêng nhà người ta cắt đặt việc gia đình, ông Chủ tịch huyện ăn ở lẫn lộn với cán bộ, nghe tin ở đâu có hiện tượng xã viên xin ra khỏi hợp tác xã là  phóng xe xuống bất kể ngày đêm. Cán bộ xã thì từ mờ sáng tới nửa đêm : mồm nói , chân chạy, xem xét, hỏi han, tranh cãi, la hét , cáu giận , ngọt ngào , thôi thì đủ…”.
. Càng đọc “Chủ tịch huyện” người ta càng nhận rõ cảm hứng chủ đạo là “ca ngợi một chiều”, là thực hiện đúng nhiệm vụ ”tuyên truyền cho đường lối chính sách của Đảng”  Bởi thế tác phẩm nhanh chóng rơi vào quên lãng. Khi nhiệm vụ chính trị qua đi, tác phẩm “phục vụ kịp thời” cũng chết theo. Đó là “số phận” của những tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam của Nguyễn Khải.
Suốt cả cuốn “ Chủ tịch huyện”, cán bộ từ thôn xã lên tới huyện tỉnh, anh nào anh nấy hai bàn tay đều sạch bong , nhất mực chỉ “vì Đảng vì dân” không mảy may tơ hào công quỹ lấy một cân gạo, không nhũng  nhiễu ăn tiền của dân lấy một  đồng bạc. Có lẽ “tô hồng” quá đáng vậy sợ bạn đọc cười, Nguyễn Khải “liều mình” dựng lên một ông Chủ tịch xã  tự tư tư lợi, lợi dụng chức quyền ăn tiền của dân . 
Nguyên ở xã Hoà Trung có lái buôn tên Đào đề nghị Chủ tịch xã  mua giúp cái dầm cầu xã bỏ đi để làm cột nhà giá có 200 ngàn nhưng lại đưa những 300 ngàn, coi như “biếu” Chủ tịch xã chỗ chênh lệch.
Chuyện “tham ô” của Chủ tịch xã chỉ có thế, rất may, “đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã” đã có mặt kịp thời, phân tích  cho Chủ tịch xã “nhận ra sai lầm” , trả lại tiền cho lái buôn, nhờ vậy vẫn giữ được phẩm chất cán bộ cộng sản."
Thế là một lần nữa Nguyễn Khải “làm động tác giả” khi mon men tiến gần tới cái cốt lõi của cán bộ Đảng ở nông thôn : máu tham ô, bòn rút của công. Tiếc thay, “Chủ tịch huyện” hoàn thành vào tháng 2 năm 1971 khi bộ mặt của “cán bộ mua đài mua xe” đã lộ ra gớm ghiếc, khi bất công xã hội đã trở nên sâu sắc, khi “chợ vua quan” và “chợ nhân dân anh hùngmỗi ngày một cách biệt, vậy nhưng ông nhà văn vẫn nhắm mắt, bưng tai không dám nhìn, không dám nghe những xấu xa, đồi truỵ của đám quan lại cán bộ này, vẫn hết lời ‘bốc thơm” chúng.
Kết thúc cuốn truyện , ông nhà văn đặt vào mồm Chủ tịch xã trẻ và Chủ tịch huyện già những đối thoại “ca ngợi “ không còn biết xấu hổ .
Chủ tịch xã :
“ …khó khăn mấy rồi cũng vượt qua được cả  thôi . Thế hệ cha anh đã đánh thắng bọn xâm lược Pháp , thì thế hệ chúng em sẽ đánh thắng  bọn xâm lược Mỹ. Chắc chắn là như thế…”.
Chủ tịch huyện :
“Chắc chắn phải là như thế…”
Chủ tịch xã :
“ …cái khó nhất là đoàn kết được với nhau, không có gì phải ngờ nhau , phải đối phó với nhau thì việc gì cũng làm được . làm được hết…”
Chủ tịch xã nói năng như …bác Hồ kêu gọi “đoàn  kết, đại đoàn kết” . Kết thúc cuốn tiểu thuyết, ông nhà  văn còn cho Chủ  tịch huyện phát biểu một câu thật “lãng mạn”…cách mạng :
Nói cho cùng, cái thử thách lớn nhất, phức tạp nhất vẫn là tự mình vượt  qua mình. Ngoài ra những khó khăn khác, những thử thách khác đều không đáng sợ, có phải không, đều không có gì đáng sợ…”
Tuy nhiên, thử thách lớn nhất, phức tạp nhất với các cán bộ chẳng phải vượt qua chính mình mà là vượt qua…cái ghế của mình . Bởi thế họ phải trui rèn phẩm chất … bất nhân, gian manh và đểu cáng giẫm đạp lên nhau mà leo cao. Thực ra cái khó vượt nhất trong con người cán bộ chính là máu tham, nhu cầu hưởng thụ , vượt  qua được cái “máu” đó còn khó hơn  con voi mượn cánh con bướm bay qua đại dương.
Cha và con và…
Hồi tháng 2 năm 2006, nhà văn Nguyễn Khải trả lời phỏng vấn  báo Tuổi Trẻ .
Nếu người ta gọi ông là nhà văn thời sự thì ông buồn hay vui ?”  “ thời sự hình như không mấy tương đồng với sức sống lâu dài của một tác phẩm. Chủ quan mình, ông nghĩ  tác phẩm nào của mình sẽ có được  cái lâu dài ấy ?”
Nhà văn Nguyễn Khải sốt sắng trả lời :
“ Nhiều tác phẩm hay đã được bắt đầu từ những bức xúc rất nhỏ của một “chuyện hôm nay”, của cái “bây giờ” nhưng vẫn làm nhiều thế hệ bạn đọc xúc động…Phần mình, tôi nghĩ “ Một cõi nhân gian bé tí”, “ Cha và con và…”, “ Điều tra về một cái chết “ cùng một số truyện ngắn của tôi có được cái thân phận ấy của con người…”
Vậy là trong vài chục tác phẩm, Nguyễn Khải đã chọn “ Cha và con và…” là một trong vài tác phẩm ông cho rằng có thế để đời, còn lại mãi với thời gian. Viết xong vào tháng 8 năm 1978 , xuất bản ngay trong năm, dày vỏn vẹn chừng 200 trang  và sách vừa in ra đã được “phê bình gia”  Vương Trí Nhàn bốc lên mây xanh trên báo Văn Nghệ với cái tựa to tát :” Cha và con và…triết luận về tôn giáo và chủ nghĩa xã hội “.
Ghê gớm chưa ?
Vậy giá trị thực của cuốn truyện này ra sao ?
Cha và con và…” lại cũng xoay quanh chủ đề ‘bôi bác nhà thờ” như hai tập tiểu thuyết “Xung đột”. Đó là câu chuyện về một linh mục trẻ, mới ngoài ba mươi, tên Thư được  Toà Giám mục cử về “nhậm chức thầy cả” ở xứ Nhất. Về địa phương, trước hết cha phải tới trình diện chính quyền xã. Cái cách đối xử của cán bộ uỷ ban làm cha không được vui, phàn nàn với ông chánh trương :
“ Cả cái uỷ ban của các ông nữa. Họ để tôi leo cả mấy bậc thềm , tự bước vào trong nhà, tự đến trước bàn giấy của bà Chủ tịch ngả mũ chào, rồi bà ta mới đứng lên chào lại. Bà ta là Chủ tịch thật nhưng còn là con chiên của Chúa. Chúa chiên đến mà con chiên dám xử sự vậy sao ?”
Tuy nhiên, đó mới chỉ là nỗi phiền lòng đầu tiên ông cha trẻ gặp phải khi tới nhậm chức ở vùng đất mới. Chờ đợi ông ta ở phía  trước còn vô số những “ chọc phá”, những ‘đòn phép” bổ vào đầu ông mà đau đớn thay không phải từ phía chính quyền vốn “thù địch “ với nhà thờ , mà lại từ phía những con người thuộc phe ông – những  linh mục già, chánh trương, trùm trưởng, con chiên …luôn luôn giăng bẫy trên đường đi tới của cha linh mục trẻ mới nhậm chức.
Trước tiên, cha linh mục trẻ phải tới gặp cha linh mục già để nhận “bàn giao”. Mới qua vài ba câu chuyện, cha trẻ đã nhận ra tính cách xỏ xiên của cha già :
“ Lạy Chúa ! Tại sao ông già này lại nói nhiều về sự yếu lẫn của mình. Ông già ấy định giăng cái bẫy nào đây ?” Lời nói như gan ruột , nhưng cái miệng thì bỡn cợt , con mắt thì hấp háy, biến ảo quá chừng “
Cha trẻ cúi mặt thở dài rất nhỏ, lái câu chuyện sang hướng khác…’
Một cha trẻ mới ngoài 30 tới nhậm chức, một cha già ngoài 80 sắp về với Chúa phải rời chức. Hai cha đối xử với nhau thật chẳng khác gì hai quan cán bộ trẻ già hằm hè nhau khi bàn giao ghế.
Hành hạ “cha trẻ” vậy nhưng “cha già” vẫn chưa chịu buông tha. Tới bữa ăn “cha già” còn “quay” một hồi nữa khiến  “cha trẻ” cảm giác bữa cơm kéo dài như một hình phạt. Chẳng phải vì một già một trẻ , một cũ một mới , một cha quản hạt và một cha mới nhậm chức, mà còn vì một cái gì khác nữa, chưa rõ rệt , rất khó dò tìm đã khiến vị linh mục trẻ mất hẳn phương hướng đối đáp trong những mẩu chuyện vặt vãnh không đầu không đuôi…”
Thoát được “cha già” , “cha trẻ” được phái về xứ Nhất nơi còn biết bao nhiêu điều phiền tạp chờ đợi  cha. Trước hết, “ lễ nghênh tiếp vị chủ chiên của ban hành giáo hàng xứ rất đúng phép tắc , nhưng gượng gạo, vênh váo…”. Lẽ ra theo thông lệ, cuộc tiếp rước phảicờ phướn, có chè chén, tối có đánh bạc  nhưng chính quyền không cho phép. Chỉ còn lại “ những trình bẩm, ban truyền, những ân sủng, kính cáo , toàn những chữ nghĩa đã chôn đi, đã quên đi từ đời kiếp nào , nay phải móc lên cả lượt.”. Cái cảnh ông già bà cả cung kính chào cha chăn dắt linh hồn được ông nhà văn riễu là “ ông già cúi người trước một chàng trai trẻ, xưa là thế , vì  nó còn là con vua cháu chúa, còn nay mà thế tự nghĩ cũng ngược lẽ, cũng nực cười…”



                           (còn tiếp)