Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, ngày 29 tháng 2 năm 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (11)

 



                        
                                       (tiếp theo)

    - Anh Bình đang phải nghỉ ăn lương chờ việc.
      - Như vậy là dấu hiệu đổi mới đấy chị ạ.
      Tôi ngạc nhiên :
      - Đói đến nơi rồi, đổi mới cái gì?
      - Người ta đã biết dừng lại, không còn làm bừa những việc không nên làm nữa, như thế tức là mới chứ còn gì.
      - Em nói đúng đấy,thà ngồi chơi còn hơn nhắm mắt thiết kế những chiếc “cầu giấy”.
      Vậy còn trong xuất bản , sản phẩm của nó chẳng dễ dàng giám định như những chiếc cầu, người ta có cả tá lý do cho ra đời một cuốn sách dù rõ mười mươi nhạt nhẽo, vô tích sự. Tôi kể Tú nghe và đặt câu hỏi:
      -Ở địa vị chị, em làm thế nào?
      - Mỗi người phải chịu trách nhiệm lấy chính mình.
      Tôi nhìn nó, không hiểu sao nước mắt cứ ứa ra:
      - Chị yếu đuối lắm em ạ .
       - Chà, đàn bà đến là phức tạp.
      Nó nhún vai, bước ra khỏi phòng. Tôi lạnh toát cả người. Tôi không sẵn sàng đón nhận một thái độ như thế. Tôi mong nó phân tích, phê phán, thậm chí xỉ vả thậm tệ cũng được. Oi đứa em tôi, nó thông minh cương nghị nhưng sao dửng dưng, lạnh lùng? Nó có một mục tiêu thôi, cứ thế nó tiến tới làm như thể trên đời này chỉ còn có riêng nó với những tấm sơ đồ vi điện tử.
      Thức dậy sau giấc ngủ chiều đầy mộng mị, tôi được mẹ đón bằng nụ cười hớn hở:
      - May quá thằng Tú nó vừa đi con lại xuống, nhà vắng mẹ chẳng biết trò chuyện với ai.
      - Thế khi nó ở nhà có lúc nào chuyện trò với mẹ không?
      - Ôi dà, nó còn bận học túi bụi, suốt ngày trong buồng. Nhà mình thật có phúc lắm đấy con ạ. Có thằng con trai chỉ biết sách vở, học hành, cấm có thấy nó rượu chè, đua đòi ăn diện.
      Tôi cười nhạt:
      -Có lúc nào nó hỏi đến mẹ làm ăn ra sao không? Lớn bằng ngần ấy rồi, cơm xong cái bát không chịu rửa, quần áo thay xong vứt đấy mẹ giặt ...”
      -Thôi con ơi, em nó mải học hành, nghiên cứu. Ngày xưa con  kém gì nó. Mẹ ốm còn bỏ đi xem phim, về còn cằn nhằn mẹ sao không thổi cơm.”
     Tôi đỏ mặt, mẹ tôi nói đúng quá, chính tôi cũng có”để mắt” tới ai quanh tôi đâu. Ngày còn đi học, tôi cũng như Tú, cũng  suốt ngày trong buồng đọc sách không hề biết cái chổi dựng xó nào.
     - Mẹ ơi, tối qua anh Bình kể xấu gì con đấy ?
     - Kể gì, nó chỉ sốt ruột không hiểu con đi đâu. Mày cũng đáo để vừa thôi, thằng Bình tốt bụng, tử tế, đừng có đứng núi này trông núi nọ.
      Tôi biết trước thế nào bà cũng giảng giải một thôi một  hồi về đạo làm vợ, những quy tắc tôi phải theo khi đã bước chân khỏi nhà mẹ đi lấy chồng.
     - Các cô bây giờ đổ đốn, ngày xưa vợ bỏ nhà đi đêm thì chồng nó giết.
      Buổi tối qua nhanh sau bữa cơm ba mẹ con lặng lẽ ăn, chẳng ai hỏi ai. Thằng Tú chắc trong đầu  đang có một sơ đồ điện tử, tôi mải nghĩ tối nay có nên tới Hồng Loan , còn mẹ tôi chạy lên chạy xuống bưng thức ăn.
 Cơm xong, tôi bỏ lên buồng và chẳng biết làm gì hơn vớ lấy cuốn sách. Tôi “chui” vào câu chuyện viễn tưởng về tuyệt diệt của thế giới sau khi con người mang vũ khí hạt nhân ra choảng nhau. Khí quyển bị nhiễm xạ,  trái đất biến thành hoang mạc, thời kỳ băng giá trở lại làm sạch tất cả và loài khỉ cao cấp lại đứng hai chân lên thành người, nhân loại hồi sinh sau khi đã xóa sạch mọi dấu vết của chính mình trên trái đất. Khi đó, Shakespeare, Cervantès, Đốtstôiépski, Tônstôi, Tsêkhốp... cùng tất cả di sản của các bậc  thiên tài khác đều biến đi hết, con người lại bắt đầu từ cái rìu đá, và rồi kiếm sắt, súng đồng, bom nguyên tử, tên lửa hạt nhân..., lại khép kín cái vòng tròn thuở trước. Cái đẹp liệu cứu chuộc được thế giới như ông Đốt đã từng rao giảng chăng? Hay dấn sâu vào những bí mật của tự nhiên, con người rồi đây sẽ dùng chính khoa học kỹ thuật của mình để hủy diệt mình. “Nhỏ lửa, nhỏ lửa, đun nhỏ lửa...”, ông Gôgôn nháy tôi từ bức ảnh trên tường, rung rung đôi ria mép. Tôi mỉm cười và quên hết mọi thứ, buông mình vào giấc ngủ.


7.

      Ông Trưởng phòng biên tập đón tôi với vẻ vui mừng thành thực sau ba ngày tôi biến mất mà chắc bà công đoàn đã chấm công “nghỉ không lý do”.
      - May quá, vừa định cử người tới thăm cô. Sao ốm hả?
      - Cháu bị cảm.
      Ông nuốt trôi lời nói dối của tôi một cách dễ dãi. Tôi ưng nhất ở ông cái tính cả tin, tôi nói gì ông cũng gật, ít tra hỏi vặn vẹo. Hai chú cháu cứ thế sống hòa bình với nhau, chẳng có phát sinh mâu thuẫn “cấp trên, cấp dưới”, “nhân viên, thủ trưởng” như nhiều nơi khác.
Hôm nay ông vồn vã thế chắc sắp sai bảo tôi chuyện gì, chẳng hạn, viết phiếu tạm ứng tiền cho một ông nhà văn mà sau khi lĩnh, chắc chắn hai ông sẽ kéo nhau đi uống rượu. Tôi nghe đồn ông đã ghi nợ bà chủ quán số tiền lên tới gần ba tháng lương rồi. Bà chủ đã hết kiên nhẫn cho ông uống chịu dù ông đã hứa một tháng nữa khi ông ra sách, ông sẽ thanh toán bằng hết theo cái cách “bán lúa non” như ông thường nói. Tôi mở ngăn kéo, rút sẵn ra cuốn phiếu  tạm ứng, nhưng không, ông lại hỏi một câu chẳng ăn nhập gì :
      -Theo cô, mình đã nên tái bản “Số đỏ” chưa?
      -Chuyện đó lẽ ra phải làm từ mấy năm trước cơ chú ạ. Xã hội mình còn khối Xuân tóc đỏ. Sách ra vẫn nóng hổi tính chất thời sự.   Mà cái số ông “Số đỏ” lại rất là đen, mấy lần định in cho ông rồi cứ bị “tốp” lại mãi. Nhưng tài năng thật sự đẻ ra năng lượng đấy chú ạ. Hễ là năng lượng chẳng bao giờ mất đi.
    Ông Trưởng phòng tròn xoe mắt vì câu nói làm ông rất lý thú. Giá như tôi đi xa hơn nữa, chọn một tác phẩm của ông và coi đó là “năng lượng” thì nhất định ông phải kéo tôi... đi uống rượu.
Nhưng không, tính tôi vốn “keo kiệt”, không mấy khi thích làm người khác cao hứng, tôi hỏi một câu vào”huyệt” ông: 
      - Tiểu thuyết của chú sau cái chương mở đầu ấy, chú viết được mấy chương rồi?
    Quả nhiên, ông buồn hẳn, nhìn tôi vẻ trách móc:
    - Nửa năm nay chả viết thêm được một chữ . Việc cơ quan tối mắt tối mũi, lúc nào ngồi viết được. Chú ngán cái chức Trưởng phòng này quá rồi, nay mai trả lại ông Giám đốc đi viết thôi.
      Ông lập lại cái điệp khúc ông đã nói với tôi tới lần thứ mấy mươi. Nhưng tôi biết, ông chỉ rời ghế của ông đi sáng tác chừng nào ông... về hưu thôi. Bao nhiêu nơron thần kinh của ông hầu như đã hòa tan hết trong rượu, còn đâu chất xám viết được cuốn sách như hồi trai tráng nữa. Ông ý thức được điều đó không? Chắc không, bởi vì ông vẫn chưa ôm đá nhảy xuống hồ Hoàn Kiếm.
      - Hồi bằng tuổi cô, tôi viết ngày 10 tiếng. Thời đó có bao nhiêu  chuyện để viết. Chưa xong cuốn này, trong đầu đã ngọ nguậy cuốn khác. Luôn luôn mình cứ như mắc nợ ai đó, nghỉ viết một ngày cũng không chịu được, đi thực tế một chuyến về là lao đầu vào viết ngay.
      Bỗng dưng ông tâm sự với tôi một cách rất thành thật. Giọng ông trầm xuống, cặp kính lão mờ đi, vẻ thỏa thuê, khoái hoạt thường ngày biến mất, ông trở nên rụt rè, bẽn lẽn và tôi chỉ còn cách ngồi im không dám cả thở.
      -Tung tóe đi hết cả rồi cô ạ, tính sổ, tôi viết tới vài ba chục cuốn, đứng được với thời gian, may ra chỉ được một, hai...
      -Thưa chú việc đó còn chờ các nhà phê bình.
      Ông trừng mắt:
      -Đó là bọn ngu nhất trong những thằng ngu.
      Có lẽ chợt nhớ đã đi quá xa, ông im bặt, nhìn tôi bối rối. Điện thoại làm tôi mừng rỡ, chấm dứt câu chuyện xem ra đã trở nên nặng nề. Ông Giám đốc gọi tôi sang trực tiếp làm việc. Chuyện gì nhỉ? Chẳng lẽ ba ngày nghỉ bất tử, bỏ chồng về nhà mẹ đẻ đã thành chuyện tới tai ông?
Tôi rụt rè bước vào phòng Giám đốc  trong lúc ông đang cúi xuống đọc chồng bản thảo. Ông vốn xuất thân từ những người như ông Trưởng phòng tôi , nghĩa là ông đã viết cả chục đầu sách phê bình và tiểu luận văn học, tôi ngồi trên ghế xalông chờ ông , bụng thầm tính trong 30 năm hoạt động không mệt mỏi, ông đã “hạ sát” bao nhiêu nhà văn, nhà thơ kể cả trẻ lẫn già? May cho tôi quá, tôi không có ý định cầm bút và năm nay ông cũng đã quá cái tuổi về hưu và nếu không có sự vận động của những người mà ông đã hào phóng viết sách ca ngợi, hẳn là ông đã ở nhà bế cháu nội.
      -Cô biên tập cuốn này phải không?
      Cuối cùng tôi đã hiểu ra vấn đề. Trên bàn ông là bản thảo tập thơ tuyển của một tác giả viết từ thời tiền chiến.
      -Vì sao phần tuyển sau cách mạng cô cắt bỏ của người ta nhiều thế?
      -Thưa chú, cháu thấy nhiều bài không phải thơ, đưa vào sợ mất uy tín tác giả, và dễ làm người đọc nhận ra thơ ông làm sau cách mạng không hay bằng trước cách mạng. Chẳng hạn bài “Thu thuế nông nghiệp”, bài “Cõng con đi tố khổ” bài...
      -Thôi thôi, tôi biết rồi, tôi biết rồi...
      Ông chặn đứng lời tôi như thể nó dư thừa tiêu phí thời gian quí báu của ông.
      -Cô phải hiểu: đó cũng là thơ. Nó nóng hổi hơi thở thời đại, nó mang đầy yếu tố sử thi, nó nôm na giản dị nhưng mà lại...
      Ông dừng lại tìm từ ngữ rồi cáu kỉnh vì lục mãi không ra từ nào đắc địa, ông quẳng cho tôi tập bản thảo:
      -Cô cầm về, lấy lại tất cả những bài nào cô đã cắt bỏ.
      -Thưa chú kể cả những bài quá yếu?
      -Tuốt tuột, sao cho tập hai phải dày hơn tập một.
      Tôi ngước lên, chẳng thể làm được gì hơn là nhìn vào mắt ông. Tôi không nhìn thấy gì cả, cặp kính lão dày cộp đã che kín hết, chỉ còn thấy những lớp mỡ chảy xuống phía đuôi mắt. Tôi thẫn thờ ôm chồng giấy bước trong hành lang vắng và lẽ ra trở lại phòng làm việc, tôi lững thững bước ra cổng cơ quan.


                             (còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 28 tháng 2 năm 2012

CON CHIM CHỈ ĐƯỢC HÓT TRONG ĐÊM

          

Đứng trước linh cữu nhà văn Hoàng Yến trong đám tang ông,tôi chợt nhớ câu nói của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường mấy năm trước :
“ Nhà văn phải nói lên sự thật…”
Nhưng sự thật luôn luôn là “con chó bị đuổi ra khỏi nhà" (W. Shakespeare), là thứ tối kỵ trong xã hội “bày cừu”,  là hàng quốc cấm trong xứ sở “toàn trị”, là nguy hiểm chết người khi đức vua cởi truồng, trí nông công thương đều nức nở tung hô, ca ngợi y phục hoàng thượng qúa đẹp, thì lại có một anh cả gan kêu lên :” vua cởi truồng”.
Tất nhiên anh chàng đó phải “ăn đòn hội chợ” của đám “bốc thơm vua”  và phải chịu đòn trừng phạt nặng nề của chính đức vua..
Nhà văn Hoàng Yến là một trong rất ít người to gan dám kêu to lên “vua cởi truồng” đó.  Còn nhớ những năm đầu Đảng và Chính phủ về tiếp quản Hànội, các nhà văn, nhà thơ, các nhà phê bình, các giáo sư…xúm vào khen thơ Tố Hữu , xài ngôn từ như xài bạc giả. Nào là hồn thơ dân tộc, nào là nhịp đập trái tim của Đảng, nào là “hay hơn thơ Nguyễn Du”…Vậy mà  nhà văn Hoàng Yến cả gan viết bài chê thơ Tố Hữu…”b锓chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo và công thức…”
Vào tháng 4 năm 1955 dám viết như vậy ngay trên báo Nhân Dân thì có khác gì Hoàng Yến kêu lên :” vua cởi truồng”.
Khi hạ bút viết bài “ĐỌC THƠ “VIỆT BẮC “CỦA TỐ HỮU “ đăng 3 kỳ liền trên báo Nhân Dân quả thực nhà văn Hoàng Yến đã ký án tử cho chính ông.
Trước hết phân tích bài “Phá đường”, Hoàng Yến vạch rõ :
“ Cách đây không lâu tôi nhớ có đọc một bài của người anh em miêu tả cảnh đắp đường . Nội dung bố cục cũng giống na ná như bài “Phá đường”. Tuy cách nói có khác nhau nhưng ý tình cũng vẫn là “nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi đắp đường quan” cũng “hì hà, hì hục, lục cục lào cào “, cũng thi đua phấn khởi “ Anh tài thì em cũng tài. Đường dài ta lấp sức dai ngại gì …”
Ối chết, viết thế này khác nào tố cáo Tố Hữu ăn cắp thơ người  khác ? To gan hơn, Hoàng Yến dám chê thơ Tố Hữu không bằng thơ “nghiệp dư” của một du kích Nam bộ :
“ Một câu thơ phá đường khác của một du kích Nam Bộ nói lên tình cảm ấy một cách gọn ghẽ, trọn vẹn và tài tình hơn :
“ Con đường số bảy của tau
Nó đi theo giặc tau đào nó đây…”
Tiếp đến Hoàng Yến chê “ Nhưng bài “Lên Tây Bắc” đã làm ta hơi thất vọng. Thi sĩ còn cách xa người chiến sĩ…”
Ái chà, Tố Hữu là nhà thơ của cách mạng, là người vẫy cờ trên mặt trận văn hóa văn nghệ của Đảng mà dám chê “ còn cách xa người chiến sĩ” thì “bố mày đây” chịu sao nổi ? Đã vậy Hoàng Yến còn kết tội Tố Hữu :
“ Thi sĩ không gợi được một trong trăm nghìn phần cái thực tế gian khổ và sức chịu đựng phi thường của người chiến sĩ trên chiến trường rừng núi…”
Như vậy có nghĩa Tố Hữu chỉ ngồi salon bốc phét “chưa từng xuống tận chiến trường rừng núi để đồng cam cộng khổ với chiến sĩ…”. Như vậy từ chê “thơ” , Hoàng Yến đã mon men tới chỗ “chê con người” Tố Hữu. Mãi gần nửa thế kỷ sau Hoàng Yến mới có anh nhà thơ dám viết Tố Hữu chưa lên Điện Biên bao giờ vậy mà vẫn cứ  ông ổng làm thơ coi như ta đang trên đồi A1 vậy.
Đi xa hơn nữa, Hoàng Yến đúc kết :
Cũng vì vậy những câu  thơ miêu tả những chiến công lịch sử ở Điện Biên tuy đôi đoạn thơ có vẻ mạnh, khí thơ có vẻ hùng nhưng người đọc nhất là những đồng chí đã dự mặt trận Điện Biên , thấy chưa thỏa mãn và còn thấy là giả tạo…”
Ối chết chê thơ Tố Hữu “công thức” thì còn chịu được chứ lại chê “giả tạo” thì đồng chí Ủy viên Bộ chính trị, Trưởng ban tuyên huấn trung ương Đảng chịu làm sao nổi. Quy tội chết cho Hoàng Yến còn là nhẹ. Tuy nhiên để thêm cớ quy tội , phải đợi đến vài tháng sau khi tập thơ “ Tình người soi dặm đường” của Hoàng Yến  NXB Hội nhà văn mới là “dấu chấm hết” cho sự nghiệp văn chương hiểu theo nghĩa “chính thống” của nhà văn Hoàng Yến.
Tập thơ ra đời, lập tức đám phê bình “cung đình” xúm vào đánh đòn hội chợ về tội…đa cảm (!), thiếu “tính chiến đấu” :
“ Đường đi mặt trận
Nước đồng gợn trăng
Gió tre hoa bóng
Gợi tình chiếu chăn…”
                               ( Đường đi mặt trận)
“Chiều cuối năm chưa xuống
Sương xuống nhiều hơn mưa
Bứt lá bỏ dòng suối
Thả xuân về dưới kia…”
                               ( Bứt lá bỏ dòng suối)
Thế là đủ chứng lý để thành…án được rồi. Nhà văn Hoàng Yến phải đi cải tạo tại Văn Lĩnh ( Phú Thọ) 3 năm liền. Sau khi mãn hạn lại bị liệt vào loại cấm bút tức là viết không được in, hoặc nếu có in thì phải ký tên khác , không được ký tên Hoàng Yến.
Vậy tức là không cấm “đẻ” - sao cấm được, viết trong bóng tối, viết đầu bờ đầu bụi, sao mà cấm -, nhưng mà cấm cho “khai sinh”, cấm con “chào đời”.
Phân biệt quái gở “đẻ” và “chào đời” chắc chỉ có ở cái xứ “đỉnh cao nhân loại”. Từ năm  1960 đến mãi 1975, giải phóng miền Nam, kẻ thù “Mỹ-ngụy” đã quá nhiều, thôi thì tha cho “kẻ thù nội bộ” , thế là từ đó Hoàng Yến mới được phép công bố tác phẩm với tên chính của mình.
Suốt 15 năm cấm bút, Hoàng Yến như con chim chỉ được hót trong bóng tối đã lặng lẽ viết, lặng lẽ cất bản thảo vào ngăn kéo hoặc có được in thì cũng với bút danh khác :  Thạch Tiên, Hoàng Lan Châu, Hoàng Đức Anh. Như “chim bị tên sợ cành cây cong”, Hoàng Yiến đành rời bỏ những đề tài đương đại, những chuyện thời thế dễ “đụng chạm”, dễ “nhạy cảm” chuyển sang viết chuyên về đề tài…”lịch sử”. 
Nhà văn Huy Phương nhận xét về tiểu thuyết lịch sử “ Chân mây khép mở“:
“…Nó làm tôi thích thú trước hết là vì cái phong cách thể hiện của một kiểu tiểu thuyết lịch sử chỉ có thể là của Hoàng Yến, vừa có cái điêu luyện của một cây bút đã được thử thách qua các đòi hỏi  nghiêm ngặt của thể văn kịch bản vừa có sức truyền cảm của một cảm hứng thơ phóng khoáng mà chín chắn…”
Vậy nhưng “sự thù hằn nghiệt ngã”  trong bóng tối “ vẫn chưa tha cho Hoàng Yến. Vở kịch “ Hình và bóng” của ông chỉ mới diễn ở Hải Phòng được vài buổi đã có lệnh cấm .Nhưng đòn thù chết người ấy vẫn không đốn ngã được Hoàng Yến, ông vẫn can đảm “tọa thị thẳng thắn” trên đất nước và vẫn viết tiếp nhiều vở diễn giá trị khác trong dó nổi bật là “Thanh gươm cô đô đốc” được mời sang công diễn ở Paris.
Nhà văn Hoàng Yến đã vĩnh biệt thế gian tràn đầy ghẻ lạnh này , thật không ngờ bạn bè tới chia tay ông với những vòng hoa chật cứng một góc chùa Vĩnh Nghiêm cần hẳn một chiếc xe tải chở đi công viên Vĩnh Hằng mới hết. Điều đó phải chăng đúng như ông đã dự cảm trong bài thơ “Mây của đất” viết từ năm 1985 :
“ Hãy chôn tôi dưới hoa
Vì hoa là mây của đất
Và ông trời xanh nhìn về trần gian
Cũng bàng hoàng lác mắt
Tưởng  thi thể tôi nằm giữa đám mây ngũ sắc
Dưới trần cũng có mây trời…”
Nhà văn Hiền Phương, ái nữ của nhà văn Hoàng Yến  kể lại sau khi ông vừa mất, chị chỉ vào dò phong lan mới mua :
“ Hoa đẹp thế này sao ba không về ngắm hoa…”
Lạ thay bỗng dưng có một làn gió thổi quay cành phong lan hướng về chỗ Hiền Phương. Phải chẳng anh linh nhà văn Hoàng Yến vẫn còn hiện diện đâu đó.
Nhà văn bị cấm bút vào loại ngặt nghèo nhất Việt Nam đã rời bỏ thế gian này. Lạ thay nếu ta vào Google đánh cụm từ “ nhà văn Hoàng Yến” sẽ không ra một kết quả nào, toàn người mẫu, ca sĩ…, trong hồ sơ Nhân Văn Giai phẩm của các phê bình gia hải ngoại (đặc biệt bà Thụy Khuê  - RFI) cũng tuyệt nhiên không nhắc tới tên Hoàng Yến mà chỉ xoay quanh Trần Đân, Lê Đạt , Hoàng Cầm …chắc họ còn muốn có VISA trở về VN.
Hiện tượng “cấm bút” ở VN ngày nay vẫn còn , tuy nhiên chỉ cấm không được xuất bản tại các cơ quan  báo chí , xuất bản Nhà nước thôi , còn  các trang văn học nhan nhản trên mạng, nhà văn “cấm bút” đẻ xong vẫn có thể cho đứa con chào đời tại bất kỳ trang nào :” tiền vệ, hợp lưu, da mầu.vân vân và vân vân…”.
Interrnet ra đời là một mối đại hiểm nguy cho các “ông vua cởi truồng”. Ôi, giả sử nhà thơ Tố Hữu sống tới ngày nay để làm thơ về đề tài “ truyền thông liên mạng toàn cầu “ thì vui biết bao !

28-2-2012


             TRÊN NGÃ BA MÂY

                                         HOÀNG YẾN

1

Tên em
        chiều nhớ
              hành h­ương .
                  tiếng dế đồng sư­ơng
Tên em
         một thiên đ­ường đã mất
         một thiên đ­ường chư­a mở ngỏ
         một thiên đ­ường x­a
                                  cha ông để lại
         di truyền anh qua kí ức bào thai
         qua vùng sáng trên trang sách nát
         qua thân xác trần truồng
                                   những giấc mơ trôi dạt
đêm đêm tấp bến Ngân hà

Tên em
         thói đời quen gọi
                    một bản tình ca


2

Từ xa nghe tiếng em hát
ng­ời em là dòng nhạc
nụ c­ười chở đầy đôi mắt to
vạt áo em bay như­ một điệu hò
anh gặp em ngỡ ngàng .
như­ bư­ớc xuống sân ga
        một thành phố lạ
        giữa đêm mư­a .
anh nói với em
        bằng âm thanh
               ch­ưa nặn thành từ ngữ
ch­ưa thành tín hiệu
           của dối trá lọc lừa
và em
                 giữa đất đồi nắng lửa
nụ c­ười-hoa-sen toả sáng chung quanh .
đặt thiên nhiên vào ngự trị trong anh .

3.

Tình yêu
      ai chọn  đ­ược trong ng­ời tình
            phần nào yêu thư­ơng . .
                      phần nào ghét bỏ
bóng thử lửa hoàng hôn
          chứa trong ánh bình minh
Trong tim em .
            có vàng của mặt trời
                   than của đêm đen .
song giữa hai vùng đệm
                  có mặt trăng đến ở
mẹ sinh ra anh
                  một trái tim trần
                        không gì chống đỡ . .
anh n­ương vào mặt-trăng-em . .
                như cây tầm gửi
                       uống s­ương
Trên mỗi chặng hành h­ương . .
                  em là bóng-trăng-đ­ường .
làm dịu vết th­ơng của lửa .

4-

Anh khát khao em ~ ~ '
            như­ khát khao sự thật
anh tin vào lời
              cái không đáng tin nhất
sự thật là những ngày vui
                đã héo hon
                cạn mòn .
                anh còn níu giữ
trong lúc em đã ra đi
mở mắt anh nào thấy gì
nhắm mắt anh nhìn ra tất cả
nhầm lẫn đầu tiên phải trả giá
nụ cư­ời-hoa-sen toả sáng trên môi
            giữa đất đồi nắng lửa
ngỡ nó là của riêng anh
hoá ra nó chẳng cười với ai cả
ấm áp bên ngoài
                  bên trong lạnh giá
một nụ-c­ười-t­ượng-đá.

5-

Anh yêu em và em yêu ng­ười khác '
          ông sao đổi ngôi
          nụ hôn đổi môi
           câu chuyện tình th­ường .
 sao ngư­ời anh cào cấu đói yêu th­ương
gặp trăm con suối cũng không đã khát
anh lang thang
      một mình
           mênh mông sóng cát
không gặp
         hay đã gặp em
                       trên hành tinh hoang mạc.
ôi! Sao anh không biết .
               đập vỡ
                     những ngày vui
để dành từng mảnh vụn .
mặt trời
khảm sáng những ngày tăm tối
chỉ thư­ơng cho thơ không biết đ­ường nói dối
mỗi độ gió thu cởi áo cây bàng
những câu thơ
              buồn quá
                         xé rào
sáng ra
          xác thơ buồn .
          rụng trắng góc trang .
đem sầu tình
         treo mình trên cành gạo .
(cây gạo nào không có ma)
cứ một mùa hoa
         đốt lên một hoả ngục

6-

Ngày trời
     là hòn đá
             ném xuống trần gian ~ .
đập tan dần ảo mộng
ngẩng đầu lên
          anh quát mặt trăng .
- Hỡi con đĩ  già
                 lộng lẫy?
giăng tơ trăng lừa ta vào bẫy
nhốt ta trong ảo vọng vĩnh hằng.
anh thôi soi mặt vào tấm g­ơng trăng
bỗng thấy hiện lên một khuôn mặt khác
hoá ra mình là thằng ng­ời hèn nhát
nhờ tình yêu
                 đẽo đá kê cao
nhờ tình yêu
                 khêu một ngọn đèn
để đ­ợc thấy bóng mình
thành ông khổng lồ trên vách

song lại để .
     cái nghèo
             c­ướp đi chiếc áo cuối cùng
                                   chưaa kịp rách
nhìn nhau em thư­ờng trách '
anh không mặc vừa
                   tấm áo gấm công danh
không tìm tiếng tăm
                    trong họng súng chiến tranh
buộc lòng tay anh cầm súng '
(ôi? giá loài ngư­ời biết đánh nhau
                            bằng bông súng
                                         trên ao làng)
Cứ ngỡ mọi thứ ấy
thuộc về dĩ vãng .
biết đâu .
         em ng­ười con gái cách mạng
em vẫn mơ võng đào
              trong một xứ
                    thích làm quan .

7-

Anh sống với thơ
             thơ chẳng nuôi sống đ­ược ai
anh mải sống với t­ương lai
             những giấc mơ vĩ đại
để hiện tại trôi tuột khỏi tay
             ngày dài đói rách
             đêm dài bụng không
              có gì trong lư­ng bán sạch
bắt đầu từng cuốn sách ra đi
anh bán máu
           nếu cần cả mạng sống
nh­ưng anh không bán hi vọng
dù hi vọng đã ra nghĩa trang
Thế hệ trẻ
        không-chịu-nghèo
                        sẽ tới
        Chân trời đẩy ra xa
         nhân phẩm có thịt da
         nắng thơm mùi áo mới.

8-

Quá khứ
             giấc mơ buồn
                   năm tháng
hòn đá tảng
            của nỗi sợ vô hình
những dòng tro
             trên lá thư­ tình  .
những vũng lầy n­ước mắt .
song cha ông ta hằng mong
mọi việc đều có hậu
đem câu chuyện tình
           lọc máu xấu
gọi về những mặt trời vui .
những chiếc đèn lồng
                      đêm tân hôn
như­ thoát khỏi bùn đen
              cánh sen tinh khiết -
anh thoát khỏi quyền uy
               của quá khứ đau th­ơng .
mặc quá khứ muốn làm nhà tiểu thuyết
đừng để cho quá khứ cản đ­ường

9-

Chúng mình không của hồi môn
             tài sản anh chỉ một tâm hồn
một tri thức thiếu máu
               như­ hoa đu đủ đực ~
một trái tim yêu
             trong sóng đất rì rầm
                          phập phồng náo nức
chúng mình hẹn nhau
                 trên ngã ba mây
                                  kí ức .
đi trong nắng gọi mư­a .
máu mặt trời trong ngực '
như­ trái cây
               chín mọng
                      đam mê

trong vư­ờn quê .
               nhiệt đới .
trong chờ đợi" '
               và
                    không chờ đợi
anh lại gặp em
                 một cảm nhận mới
Cả ng­ười anh
                    tan
                           trong hoa lá yêu thư­ơng
trên đầu anh
                    thơ
                         cháy hàng thiên
nh­ tràng pháo tết
Tình yêu
                         tái sinh
                          trong cái chết.

1988


Thứ Bảy, ngày 25 tháng 2 năm 2012

VỀ MỘT THỜI...HÀ NỘI (10)




(tiếp theo)   

 - Cậu bảo tớ phải làm gì bây giờ ?
      - Làm cái gì là làm cái gì ?
      - Thì đấy, chúng ta thì như thế ..
      Hồng Loan bật cười:
      - A, ra cậu nghĩ tới bài thơ của tớ. Vậy nó cũng có ích đấy chứ ?
      - Đừng cười nữa, ít ra cậu cũng cho tớ một câu trả lời chứ?
      - Nhất định rồi, cái việc cậu cần làm nhất trong lúc này là đi ngủ đi.
      Nó đứng ngay dậy bỏ vào phòng trong không muốn kéo dài câu chuyện nặng nề mà cả tôi và nó đều biết trước chẳng dẫn tới đâu, chẳng mang tới điều gì khác ngoài lời an ủi “đó là những khó khăn tất yếu trong thời kỳ quá độ”.
Trong bóng đêm oi bức, tôi trằn trọc mãi và chợt thấy thương chồng. Anh ấy là một kỹ sư có tài, máu mê nghiên cứu, phát minh, vậy nhưng anh đành chờ việc, ăn lương 70 phần trăm, sau một loạt các đồ án thiết kế cầu “giấy”. Ý nghĩ tôi nhảy cóc tới ông Trưởng phòng biên tập, ông nhà văn tầm cỡ quốc gia tôi đã trả lại bản thảo, ông Giám đốc trong khu tập thể, rồi tới cả Biên Cương, Hồng Loan và anh chàng họa sĩ mới quen lúc tối... Hình như có một trục trặc nào đó, một điều gì không ổn trong từng mỗi người. Và tôi ngủ thiếp khi trước mắt tôi là hai em bé giơ ra hai bàn tay lem luốc trong phòng đợi tàu tại sân ga Hàng Cỏ.

6
      
Tôi thức dậy rất muộn, ánh nắng dọi thẳng vào mắt chói lòa. Hồng Loan đã đi tới tòa soạn, để lại cho tôi bánh mì cặp chả và tờ giấy dặn dò nấu nướng các món ăn trưa. Hóa ra nó tưởng tôi bỏ chồng, bỏ việc tới tá túc nhà nó thực sao ?
Thôi kệ người đời, hôm nay tôi tạm dạt vào ốc đảo này, sống thử một ngày không giống mọi ngày xem sao ? Tôi nhai bánh rất thong thả, nghiền ngẫm hương vị của nó cứ như thể lần đầu tiên được ăn. Quả thực khi ta dọn dẹp hết lo toan, ám ảnh, đắm mình thật sâu vào món ta đang ăn, ta sẽ thấy nó ngon gấp bội.
Vậy nhưng cuốn sách tôi đọc sau đó tuy cũng hết mình lại không đạt hiệu quả giống như cái bánh mì cặp chả, ngược lại tôi thấy khó chịu khi sự tiếp nhận chân thành của mình bị đặt vào một thứ đồ giả.
Tôi quăng cuốn sách vào hộc tủ và bỏ luôn ý định nằm dài trên giường đọc sách. Từng giọt, từng giọt một, phin cà phê cũng trễ nải chẳng kém gì tôi. Bây giờ nhấm nháp từng ngụm sóng sánh, đầu óc trong veo, bỗng dưng tôi thèm ngắm một bức tranh tĩnh vật. Màu vàng của nải chuối khiến ta có thể liên tưởng tới một chiều thu, màu đỏ sang trọng của bông hồng cắm lẻ loi trong cốc pha lê gây vẻ trưởng giả...
 Lâu lắm rồi, chẳng có lúc nào đủ tĩnh tâm ngồi thả hồn trong một bức tranh như thế. Hoàng Minh có vẽ tĩnh vật không? Chắc lại toàn tiêu bản những con vi trùng cả thôi. Tranh không trưng bày, thơ không in, dẫu sao Hồng Loan và Hoàng Minh vẫn là một loại nghệ sĩ  khác hẳn với Biên Cương, ông Trưởng phòng biên tập, nhà văn có tầm cỡ quốc gia kia.
“Em đi ròng ròng anatomie...(*)”
Thơ Hồng Loan thế đó. Tôi chịu không tài nào hình dung được một người con gái khỏa thân qua thơ nó. Cái  phần  độc giả hẹp – “happy few” - của nó, chắc không có tôi. Nó là một người duy mỹ hay là một người tiền phong đi tìm thơ mới? Ai biết được, Sự phán xét cuối cùng phải do thời gian. Khối tác phẩm lừng lẫy một thời , bây giờ ngay đến ông Trưởng phòng tôi cũng ngần ngại đưa  vào kế hoạch tái bản. Có lần ông tặc lưỡi :
“ Thôi kệ, cứ in, ông ấy đang túng quá, tội nghiệp, mấy tối liền ông ấy tới nhà ông Giám đốc”.
Cấp trên đã nói thế, tôi phản đối đâu được.
     - Nghĩ ngợi gì mặt nghệt ra thế a?
Hồng Loan bước vào với túi xách nặng. Nó giở ra trên bàn la liệt nào cam, ổi, bưởi và láu táu kể chuyện buổi họp sáng nay ở Tòa soạn làm tôi thèm được hồn nhiên và khỏe khoắn như nó.
     - Này, muốn xem tranh Hoàng Minh vẽ tối qua không?
     - Thôi thôi, chưa xem tớ cũng đã biết mặt tớ hình cái ống, hai con mắt là hai hình tròn.
     - Chưa đâu, cậu chưa đủ trình độ để Hoàng Minh vẽ tặng thế đâu.
      Tôi kinh ngạc. Cô gái trong tranh rất giống tôi, đôi mắt, cái mũi, cái miệng, không, đúng tôi đấy, có điều tất cả đều chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc. Hồng Loan rũ ra cười :
     - Thế nào ? Người hay ma?
     - Tài thật, tài thật...
     - Ấy chớ, chớ có chửi tiên sư anh Hoàng Minh đấy nhé .
      Tôi nhếch lên một nụ cười như mếu. Tôi đã tụt lại quá xa, đã trở thành ngoài cuộc trong đám bạn bè thuở trước từng mơ làm nghệ sĩ.
Thông minh, có năng khiếu đặc biệt về văn chương” - lời phê dại dột của cô giáo năm lớp bẩy ám ảnh tôi suốt những năm học cấp ba. Cả một thời mơ làm văn sĩ, tôi lao vào đọc, viết truyện, làm thơ và kết quả cao nhất tôi đạt được là giật giải nhì thi học sinh giỏi văn toàn thành phố và trúng tuyển vào Đại học Tổng hợp. Thế rồi, cuộc đời rõ éo le, tên tôi cũng được in trong sách như tôi thường mộng ước, nhưng không phải ngoài bìa chỗ dành cho tác giả mà ở trang sau chót dành cho … người biên tập.
     - Hoàng Minh muốn vẽ cậu một bức sơn dầu, đồng ý không?
     - Thôi thôi, mặt tớ có ra quái gì.
      Tôi đứng bật dậy, vào phòng thay quần áo và xách túi quay ra.
     - Ơ hay, đến bữa rồi còn định đi dâu ?
     - Tớ phải về không... chồng nó mong.
     - Bịa, cậu bịa, giận người ta thì có.
      Không, tôi chả giận gì Hồng Loan, tôi giận chính tôi ấy. Tôi nhảy xích lô chạy thẳng về nhà mẹ đẻ. Mọi người đang ăn cơm, thấy tôi, buông bát xuống tíu tít hỏi han. Thôi, quẳng cái nỗi buồn dở hơi bất thành nghệ sĩ đó đi, tôi sà vào mâm, rối rít kêu đói.
     - Tối qua thằng Bình chờ con đến hơn mười một giờ. Vợ chồng lại cãi nhau hả ?
      - Mẹ cứ hay suy diễn, làm gì có chuyện cãi nhau.
      - Đã là vợ chồng thì phải có con. Mày cũng nên đẻ lấy một đứa.
      - Con với cái gì, mẹ chỉ rắc rối...
      Tôi vùng vằng bỏ lên gác. Căn phòng tôi vẫn nguyên vẹn như hồi tôi chưa lấy chồng. Con búp bê da đen với mái tóc dài thượt giơ tay đòi bế. Tôi chợt nhận ra chưa bao giờ tôi âu yếm, vuốt ve nó như lúc này. Có lẽ mẹ tôi nói đúng, tôi cần phải có một đứa con. Tất cả những trái tính, vui buồn bất chợt trong tôi chẳng qua là do bản năng làm mẹ không được thỏa mãn ? Như vậy chẳng hóa ra chỉ cần đẻ con, tôi sẽ biến thành người khác sao ? Tôi cúi xuống hôn lên đôi má con búp bê. Không phải, cuộc đời không đơn giản vậy, mọi thứ mổ xẻ phân tích chẳng qua chỉ cho ta cái lược đồ về nó.
Tôi đặt búp bê xuống bàn và thơ thẩn dạo quanh 18 mét vuông, vương quốc của riêng tôi. Tôi rất thích bức tranh trên tường “chân dung thiếu nữ” do một họa sĩ Ngh. nào đó vẽ từ thời ông nội tôi truyền lại. Cô gái bế trong lòng con mèo có đôi mắt xanh biếc, cô nhìn ra ngoài cửa sổ một chiều hè trong vắt, bồi hồi tiếng tiêu chú mục đồng vắt vẻo trên mình trâu đang thổi. Không biết bao nhiêu lần tôi đã buông thả tâm hồn vào cái yên ả thinh không đó, tưởng như cô gái đã biến thành tôi, chính tôi đang ngồi bên cửa sổ chìm đắm trong cảnh đồng quê bát ngát. Có lần tôi bảo Hồng Loan :
      - Cậu thử đề thơ bức tranh đi .
      Nó ngắm nhìn rất lâu, rồi lắc đầu :
      - Không được trong tớ quá nhiều tạp niệm, sao đủ tĩnh tâm làm bài thơ như thế.
      Tôi cười rũ :
      -Tại yêu nhiều quá đấy thôi.
      Hồng Loan lắc đầu, nghiêm trang :
      - Bài thơ đó cần một bút pháp siêu thực, tớ chưa đạt tới cái đó.
      Và rồi nó đọc một bài thơ mà nó bảo là của Saint John Perse và giảng giải tôi nghe thế nào là siêu thực. Tôi ái ngại thay cho tính viển vông của nó. Hồi đó chúng tôi đang chuẩn bị thi chuyên đề văn học cận đại Việt Nam, tôi lôi nó về thực tại:
      - Thế nào, tìm được cuốn “Con trâu “ của Nguyễn Văn Bổng chưa ?
      Nó xụ mặt xuống và rồi lại bật cười như nắc nẻ:
      - Tớ thó được cuốn đó rồi. Biết ở đâu không? Cấm lộ nhé, ở nhà thày Đức béo đấy. Hôm qua tớ với con Kim Anh tới chơi. Nhè lúc thày đang thao thao bất tuyệt về sự thay đổi có tính cách nhảy vọt về chất của văn học sau cách mạng, nó bèn rút ngay cuốn sách, đút ngay vào túi, nhanh hơn chảo chớp...
      Tôi bật cười nhớ lại kỷ niệm xưa và dừng lại trước tấm ảnh Gogol treo đầu giường. Ông văn hào này cũng làm tôi cười lăn cười lộn như phát rồ khi đọc “Những linh hồn chết”. Cứ mỗi lúc buồn bực, tôi lại mở sách ra tìm đoạn Tsitsikốp nằm mơ thấy ngủ trên một con cá rán, bên tai văng vẳng : “Nhỏ lửa, đun nhỏ lửa...” bao nhiêu buồn bực tiêu tan hết, trận cười tiêm cho tôi một liều tăng lực, mọi thứ trở nên nhỏ nhoi và ngớ ngẩn so với người đàn ông có bộ ria mép và cái mũi khoằm mà tôi treo trên tường: GOGOL .
 Hồng Loan chê tôi dở hơi, nó bảo trên ông ta còn có Tônstôi, ông Đốtstôiépski... và trên đó nữa còn khối ông khác, sao không chọn lấy một ông thượng đẳng? Vậy thì cậu chọn ai? tôi hỏi nó thế. “Hồ Xuân Hương”, nó đáp gọn thon lỏn, rồi nó giảng giải dài dòng cho tôi nghe những cái nhất của bà và kết luận :
“Đó chính là một trái hỏa châu bắn lên trời đêm trung cổ”.
Ý kiến đó làm tôi bất ngờ, tôi cứ tưởng nó chọn một ông Rimbeaud, Mallarmé, Apollinaire ... nào đó chớ.
      Tôi nảy ra ý định mang tấm ảnh Gogol này về treo ở đầu giường để lúc nào sắp cãi nhau với chồng cứ ngước nhìn ông chắc hết cãi nhau. Tôi bắc ghế toan hạ nó xuống, chợt có tiếng gõ cửa.
      - Em vào được không, chị Vân?
      Thằng Tú, em trai tôi, sinh viên bách khoa năm thứ hai mang lên cho tôi cốc nước chanh mẹ mới pha.
      - Chị giận nhau với anh Bình phải không?
      Tôi cười, lảng chuyện, hỏi han việc học hành. Tú sống khỏe khoắn hơn tôi, nó chỉ có một mục tiêu duy nhất: “Học, học và học”. Nó không có bạn gái, rất ghét nói chuyện yêu đương, phận lớn thời gian của nó ngồi ở lớp, ở thư viện và bàn học trong phòng riêng.
      -Sao? Hồi này em đã chán những tấm sơ đồ bán dẫn ấy chưa? Tạm rời nó ra, kiếm lấy cô xinh xinh cho vui vẻ cuộc đời chứ?
      -Còn lâu. Cứ nghe ông Bình ngồi than thở suốt tối hôm qua mà thấy ớn lấy vợ.
      -Anh ấy chửi chị ghê lắm phải không?
      -Không, ông Bình rất quân tử, ở địa vị em ấy à? Tung hê đi luôn.
      Tôi phì cười vì cái vung tay quả quyết của nó. Hai chị em sống với mẹ từ nhỏ, nó không còn lạ gì tính nết tôi, mỗi khi tôi nổi cáu, nó chỉ cười xòa, bỏ đi.
      - Em hỏi thực chị nhé, chị có còn yêu anh ấy nữa không?
      - Chính chị cũng không biết là có hay không.
      - Chị nói thực không? Em không tin là chị không biết. 
      - Giải thích thế nào cho em hiểu được nhỉ ! Chuyện đó có khi còn rắc rối, phức tạp hơn cả những sơ đồ mạch tích phân của em ấy kia.
      -Tại chị đọc nhiều tiểu thuyết quá đấy. Chị còn lạ gì các ông nhà văn thường thích phức tạp hóa những thứ vốn rất đơn giản.
      Tôi nhìn đứa em mà ngạc nhiên không hiểu vì sao cùng lọt từ lòng mẹ mà tôi với nó khác nhau đến thế. Ừ thì em cứ đi theo con đường đó, đường vào khoa học, tuy chẳng hứa hẹn một ông Einstein nhưng chắc chắn sẽ làm được những công việc có ích hơn chị. Hy vọng rằng với đà đổi mới tư duy, tháo gỡ cơ chế quan liêu bao cấp như đang diễn ra, sau này chắc em tôi không phải thiết kế những chiếc “cầu giấy” như chồng tôi nữa.

                                 (còn tiếp)

·        Giải phẫu học . Mượn thơ Dương Tường

Thứ Năm, ngày 23 tháng 2 năm 2012

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN HOÀNG YẾN

                  



 Nhà văn Hoàng Yến (15-10-1922), sinh tại Hòa Vang, Quảng Nam   Hội viên sáng lập Hội nhà văn 1957, thân phụ nhà văn HIền Phương, đã trở về nơi vĩnh hằng vào 19 giờ 30 ngày 23 tháng 2 -2012 tức ngày 2 tháng 2 năm Nhâm Thìn tại tư gia ở Tp Hồ Chí Minh.
Hoàng Yến tham gia cách mạng từ 1942, chủ sự phòng tư pháp Công an Trung Bộ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) ông đưa gia đình ra khu 4 làm thư ký tòa soạn báo khu 4, thư ký riêng của ông Nguyễn Chí Thanh, chuyển sang sư đoàn 304 tham gia nhiều chiến dịch, kể cả Điện Biên Phủ.
Năm 1957, tập thơ “Tình người soi dặm đường” (NXB Hội nhà văn) của Hoàng Yến ra đời với giọng điệu đa cảm khiến vài cây bút phê bình “mao ít hơn cả tuyên huấn” phê phán kịch liệt. Tập thơ đó đã dẫn tới một vụ “án văn chương” âm thầm không qua “xét xử” . Nguyên do Hoàng Yến viết một bài phê bình thẳng thắn thơ Tố Hữu đăng báo Nhân Dân khiến ông này nổi giận, quy tội "phản động"  bắt Hoàng Yến đi cải tạo lao động 3 năm tại Văn Lĩnh (Phú Thọ) . Sau khi ở tù ra , ông không in thơ nữa, chuyển sang viết tiểu thuyết lích sử , kịch bản sân khấu và chuyển công tác sang Cục sân khấu Bộ văn hóa thông tin.
Nhà văn Hoàng Yến viết khá nhiều , nổi bật là :
“ Câu thơ yên ngựa” (Tiểu thuyết lịch sử )
“ Chân mây khép mở”( Tiểu thuyết lịch sử (1991)
“ Thanh gươm cô đô đốc “ - Tuồng, có tiếng vang lớn, được gửi đi Paris công diễn.
“ Hình và bóng” kịch nói, gây chấn động dư luận , tuy nhiên chỉ sau hai đêm diễn ở Hải Phòng, vở kịch đã bị cấm.
“ Kẻ trôm nước trời” ( Tiểu thuyết 1996)
“ Suối Hoa”
“ Đêm Tiền Hải”
“ Lý Thường Kiệt”
và  nhiều tác phẩm khác...
Ông từng được nhiều giải thưởng : 3 huy chương vàng, 2 huy chương bạc cho các kịch bản sân khấu.
Nhiều năm nay nhà văn Hoàng Yến sống lặng lẽ , xa lánh hẳn những hoạt động ồn ào của Hội nhà văn VN, ông như sống vô vi, coi cuộc đời và văn chương như giấc mộng thoảng qua.
Linh cữu quàn tại chùa Vĩnh Nghiêm Q3 TP Hồ Chí Minh từ ngày 24-2-2012
Vĩnh biệt ông – vĩnh biệt một nhà văn tài năng, một con chim chỉ hót trong bóng tối.
Xin trân trọng gửi lời chia buồn sâu sắc tới nhà văn Hiền Phương cùng gia quyến.

CHÂN DUNG HAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN ? (KỲ 16)


                      NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT



Vào những năm 1973-74, cuộc chiến tranh chống Mỹ đã kéo quá dài, khó khăn kinh tế ngày càng trầm trọng, tâm lý chán nản, “hòa bình chủ nghĩa” đã xuất hiện trong một bộ phận quân đội và nhân dân .
 Vào đầu năm 1974, tại một đỉnh dốc Trường Sơn ngang đoạn bốt Đỏ Mỹ , gần sông A Vương, tôi cùng nhóm trinh sát công binh đang ngồi nghỉ, bất chợt một chiếc xe quân dụng bịt bạt từ Bắc vào, qua chỗ chúng tôi  ngồi, xe dừng lại, anh lái nhảy từ trên xe xuống chửi toáng :
“ Mẹ kiếp…thằng miền Bắc làm thằng miền Bắc ăn, thằng miền Nam làm thằng miền Nam, đánh nhau làm đ….gì cho khổ chúng ông…”
Tôi trợn tròn cả mắt. Í chết chết…câu nói này mà đến tai chính trị viên thì thằng cha này ra Tòa án binh là cái chắc. Vậy mà cả đám ngồi đó chẳng ai nói gì, còn cười hô hố .
Tâm lý “mệt mỏi vì chiến tranh kéo dài” đó không thể không ảnh hưởng tới văn học. Hồi còn Hà nội, nhà thơ Định Nguyễn tức Bá, biên tập Tạp chí Thanh Niên vẫn hay tới nhà tôi nhậu nhẹt, đưa tôi coi bài thơ “ Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật :
Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.
Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.
Í chết, thơ sặc mùi “phản chiến”, bi quan, “hòa bình chủ nghĩa” thế này sao mà đăng. Không ngờ sang tháng 1-1974, Định Nguyễn uống thuốc liều sao đó, cả gan cho đăng trên Tạp chí Thanh niên và lập tức ăn đòn hội chợ. Cũng may anh là học sinh miền Nam nên cũng đỡ không thì đi đập đá là cái chắc.
Sau “Vòng trắng “ của Phạm Tiến Duật đến lượt “Sẹo đất” của Ngô văn Phú bị “lên đĩa” :
Cái hố bom nằm trên vạt ruộng
Dẫu san bằng vẫn cứ nhận ra
Đến mùa bừa chân bước nhấp nhô
Lúa cấy kín, vệt tròn còn đấy
Tưởng trên da thịt mình mới sẹo
Ai ngờ đất cũng sẹo như người

Trong chiến tranh đạn cắm tay tôi
Trong chiến tranh hố bom dầy đất
Hết chiến tranh, tôi về hợp tác
Đất chuyển vần, vụ lúa vụ khoai

Ái chà, cả nước đang nêu cao khí thế anh hùng cách mạng, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thơ thẩn gì bi quan, than vãn như thế ?  Lập tức ông trùm văn nghệ Tố Hữu kéo còi báo động :
 "Tà khí đang bốc lên ...",
Nhà thơ chính thống Chế Lan Viên phải đẻ ra một từ mới :"bọn bàng thống" , để chỉ những cây bút "chân đất" đang khởi màu phản kháng, và nhà thơ Dương Tường  khi được hỏi về "đặc điểm của thời đại chúng ta", đã  buông một tiếng thở dài:
"L'angoisse" - sự lo âu.
Vâng, những năm đó bầu trời Hà Nội lúc nào cũng ong ong một màu tai ương, mỗi sáng anh em cầm bút thường hỏi nhau, hôm nay, báo Văn Nghệ làm thịt thằng nào đây, danh sách "cấm bút" có thêm thằng nào.
Tâm trạng bất an thường trực trong những cây bút "bàng thống" khiến chẳng còn lòng dạ đâu nghe một bản giao hưởng, coi một tranh tĩnh vật. Tháng Tư năm 1975, nếu không có sự kiện ngày 30, cái tâm trạng bất an đó còn trĩu nặng biết chừng nào, bởi lẽ, mừng rỡ về "đại thắng mùa Xuân", Đảng đã "tha" hết, bỏ qua những bắt bẻ, những suy diễn, giảm thiểu đi rất nhiều cái tâm lý bất an thường trực kia.
May mắn thay, trong suốt thời gian đó, Phạm Tiến Duật lại đang “chiến đấu” trong Trường  Sơn, sáng tác những bài rung động cả nước “ Tiểu đội xe không kính”, “Vầng trăng quầng lửa”,” Gửi em cô thanh niên xung phong”, “ Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”…Nhiều bài đã trở thành “tiếng đàn muôn thủa” mà không phải ai cũng “tri âm”. Có trải qua những năm tháng Trường Sơn mới “thấm “ hết thế nào là “ Muỗi bay rừng già cho dài tay áo”,”Nước khe cạn bướm bay lèn đá”,” Hết rau rồi em có lấy măng không?”…
Cứ mỗi lần đọc lại thơ Duật, tôi thấy nghèn nghẹn trong lòng, dội lại cả một thời đã qua. Quả thực , “ Lửa đènnhư nhạc cổ điển vậy, lâu lâu nghe lại vẫn thấy bồi hồi. 
 Khoảng tháng 3 năm 1975, tôi gặp nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha ở sông A Vương (Quảng Đà) trên đường anh vào B. Tay bắt mặt mừng. Kha hỏi tôi có gặp Duật không ? Tôi bảo tuy cùng lính “ Năm năm chán” (559) nhưng Duật ở Cục chính trị mãi ngoài Vĩnh Mốc, còn tôi ở tiểu đoàn trinh sát tít trong này sao mà gặp ?
Mãi tháng 9 -1975 tôi mới ngồi xe commăngca , mặc đồ lính chạy vào Sàigon ở chơi ít ngày nhà ông anh là nhà văn Nhật Tiến tại Tòa soạn báo Thiếu Nhi phố Thiệu Trị.
Một buổi sáng có một cô gái xinh đẹp tới xin gặp . Áo dài trắng, người mình rây, tóc ngang vai…thoạt nom biết ngay là nữ sinh Sàigon.
Cô hỏi tôi có quay ra Hà Nội không ? Tôi bảo chắc chắn sẽ quay ra. Cô rụt rè :
“ Vậy thì anh chuyển giúp em cuốn sách này cho…nhà thơ Phạm Tiến Duật…”.
Tôi giật mình, hóa ra ông bạn vàng đã lẻn vào Sàigon trước tôi  và sau này nghe nói Duật phải kiểm điểm về tội bỏ đơn vị quá lâu .
Cô gái có vẻ buồn và ngơ ngác. Hóa ra cô nhờ tôi chuyển cho Duật cuốn “Con chim trốn Tuyết…” , truyện của Gallico viết về  Rhayader, một hoạ sĩ tật nguyền, phải tìm nơi ẩn dật ở một hải đăng hoang phế ven biển và chết bên dưới vòng cánh lượn đầy tình nghĩa của "con chim trốn tuyết". 
Nội dung cuốn truyện chẳng dính dáng gì tới Duật mà sao cô gái cứ khẩn khoản tôi chuyển cho anh. Bất ngờ, bằng những kinh nghiệm tình trường, tôi chợt nghĩ ra :
“ Phải tên cô là Tuyết không ?”
Cô gái gật đầu e thẹn :
“ Dạ vâng, em tên Tuyết…”
Tôi bật cười :
“ Con chim của Gallico thì trốn tuyết, còn Duật thì trốn…cô à ?”
Cô gái đỏ bừng mặt nhưng sự im lặng đã là câu trả lời. Ít lâu sau ra Hànội tôi nhắn Duật tới “nhận quà Sàigon”. Hồi đó dân gian có câu “ miền Bắc nhận hàng, miền Nam nhận họ”. Tất nhiên Duật không rơi vào trường hợp đó nên cứ thắc mắc không biết ai gửi quà cho anh ? Tôi đưa ra cuốn “con chim trốn Tuyết “ :
“ Sao ? Đã nhận ra ai gửi chưa ?”
Nhìn cái tựa sách, dường như Duật đã hiểu ra,  mặt đỏ bừng, buồn buồn. Tôi nhắc :
“ Thế nào…định  trốn …Tuyết à ?’
Duật khó khăn :
“ Cái gì đã qua thì thôi cho qua luôn…”
Hồi đó Duật vẫn đang ở với chị Vân, tôi giằng cuốn sách lại :
“ Thôi đừng cầm về…bà Vân biết thì rắc rối…”
Duật lắc đầu :
“ Không sao…không sao đâu…”
Anh vẫn cầm cuốn sách về , thẫn thờ như người mất hồn và không nói gì thêm. Nhiều năm sau gặp lại Duật ở phòng làm việc của Tùng Điển, Phó chủ tịch Hội liên hiệp VHNT. Thì ra Duật đã về tạp chí của Hội,lương bổng bằng cái “móng tay” so với quan chức Hội nhà văn. Chẳng hiểu sao Duật cứ buồn buồn, tất nhiên không phải vì chuyện “con chim trốn Tuyết” – nghe nói cô gái đã định cư ở Mỹ. Thời gian này chắc để kiếm thêm do thu nhập eo hẹp Duật đang làm MC trong tiết mục “Cây cao bóng cả” trên tivi.
Nhìn vẻ mặt buồn và khắc khổ, tôi nhói lên thương anh. Bằng vào sự nghiệp thơ, lẽ ra Phạm Tiến Duật phải được cấp villa ven hồ Tây, phải được dựng tượng ở nghĩa trang Trường Sơn và đặt tên cho một phố lớn Hànoi.. Nhưng mà nghĩ lại , những cái đó để làm gì ?

Anh cùng em sang bên kia cầu
        Nơi có những miền quê yên ả
        Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
        Quả cây chín đỏ hoe
        Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu
        Trỏ lối sang mùa hè…”

Đọc lại dưng dưng muốn khóc. “Lửa đèn”, “ Gửi em cô thanh niên xung phong…” đó mới là “tượng đài” Phạm Tiến Duật.